Hiển thị các bài đăng có nhãn Tứ đổ tường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tứ đổ tường. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2019

Bài học về một cuộc chiến thầm lặng

Đã gọi là “một cuộc chiến” thường thì phải nghe tiếng súng, tiếng hò hét vì những mục tiêu như đất đai, hay rộng hơn là về ý thức hệ. Bài viết này không nói đến những cuộc chiến đó. Trái lại, đây là một cuộc chiến thầm lặng, xảy ra tại Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ 19 và kéo dài đến 13 năm.

Đó là thời kỳ mà người Mỹ gọi là “Prohibition”, hay còn được hiểu là “Luật cấm rượu”, còn có tên “Dry Amendment” (Tu chính án Khô khan… vì khô không rượu). Ngày 16/01/1919 đã có 36 tiểu bang thông qua Luật Cấm Rượu và đến ngày 29/11/1920 Tu chính án thứ 18 được Quốc hội chính thức thông qua. Đến ngày 5/12/1933 luật này bị bải bỏ bởi tu chính án thứ 21.

Ngày 16/01/1919 đã có 36 tiểu bang thông qua Luật Cấm Rượu

Luật Prohibition nghiêm cấm trên phạm vi toàn nước Mỹ mọi việc có liên quan đến “sản xuất, bán hoặc vận chuyển các loại đồ uống có cồn độc hại nhằm mục đích giải khát”.
Bất chấp sự phủ quyết của Tổng thống Woodrow Wilson, đạo luật này quy định việc thi hành lệnh cấm trên toàn nước Mỹ, bao gồm việc thành lập một đơn vị thực thi lệnh cấm của Bộ Tài chính.

Mục đích của luật cấm rượu là muốn tạo một xã hội lành mạnh, không bị ảnh hưởng bởi những tệ nạn do rượu gây ra. Luật cấm rượu ra đời trong bối cảnh nước Mỹ vừa thoát ra khỏi Đệ nhất Thế chiến (1914-1918) và nó cũng nhắm vào những người nấu rượu mà đa số là di dân người Mỹ gốc Đức.

Xã hội Mỹ thời đó bị phân hóa bởi hai phe: họ là những người “ướt át” (wet), những bợm nhậu cần một thứ “đưa cay” cho đời lên hương sau một ngày làm việc mệt mỏi. Họ phản đối kịch liệt lệnh cấm.

“Tôi không là con lạc đà… tôi muốn bia”

Ở một thái cực khác là những người ủng hộ lệnh cấm, họ (phần đông là phụ nữ), là những người chủ trương một cuộc sống không rượu, hay còn được gọi là “khô khan” (dry). Một trong những khẩu hiệu cổ súy lệnh cấm rượu nghe thật hấp dẫn: “Ngày nào cũng là Ngày Chủ nhật khi thị trấn khô khan [không rượu]”.


Một trong những bích chương phụ nữ ủng hộ lệnh cấm một cách cực đoan và thật dễ thương: “Môi đã đụng vào rượu sẽ không đụng vào môi của chúng tôi”!

Phụ nữ bên bích chương ủng hộ Luật Cấm Rượu

Biểu quyết một đạo luật xem ra dễ dàng hơn việc thi hành đạo luật đó. Theo luật cấm rượu, các bác sĩ được quyền cho toa mua rượu như là “thuốc chữa bệnh” và điều này đã bị lạm dụng trong thời kỳ cấm rượu. Việc sở hữu và tiêu thụ rượu của từng cá nhân cũng vẫn được tôn trọng và đó chính là một trong những trở ngại trong việc thi hành luật.

Trước khi có luật cấm rượu, những quán rượu mở cửa “hợp pháp”… những quán này bỗng chốc biến thành “speakeasy”, hay “blind pig” một cách lén lút khi luật cấm rượu có hiệu lực. Đó là những từ ngữ ám chỉ nơi phục vụ rượu… “bất hợp pháp”. Người ta thống kê có đến 200.000 “speakeasies” trên khắp nước Mỹ trong thời kỳ cấm rượu.

Dân chúng còn tự nấu rượu tại nhà. Vào thời đó, kho tử vựng tiếng Anh có những thuật ngữ đặc biệt để ám chỉ việc nấu rượu lậu như “moonshine”, những sản phẩm làm ra còn được gọi là “bath-tub gin” hay “home-brewed beer”. Người Mỹ quả là có óc khôi hài khi đặt ra một cái tên… “rượu Gin nước bồn tắm”!

Bảng tiếp thị “speakeasy” vẽ ngay trên lề đường

Còn nhớ, ở Việt Nam vào thời Pháp thuộc, dù không có luật cấm rượu, nhưng nhân viên Sở Đoan và Công quản nhà nước được phép kiểm tra cơ sở sản xuất và kinh doanh rượu bất kể giờ nào. Sản xuất rượu ngoài giờ khai báo cũng bị phạt tiền.

Nhân viên Sở Đoan có quyền lùng sục để bắt rượu lậu, mọi hành vi chống đối đều bị nghiêm trị. Trong nhiều truyện thời Pháp thuộc, có nói đến tình trạng dân muốn vu vạ cho ai thì đem chôn rượu lậu trong vườn nhà người đó rồi báo Sở Đoan, không khác gì cách ném ma túy vào nhà bây giờ.

Người Pháp xây một lò rượu ở phố Nguyễn Công Trứ bây giờ gọi là Rượu Ty và nắm độc quyền rượu. Trụ sở của nhà máy rượu lớn nhất nước này lúc ấy đóng tại khu đất nay là Đại sứ quán Cộng hòa Pháp góc đường Trần Hưng Đạo-Bà Triệu bây giờ. Trên cửa các đại lý rượu bao giờ cũng treo cái biển có chữ RA (Regie Alcohol). Tham khảo thêm bài viết về Tứ đổ tường tại http://chinhhoiuc.blogspot.co.nz/2012/09/sai-gon-tu-o-tuong-4-ruou-che.html.

Nấu rượu lậu thời Pháp thuộc tại Nam Định

Trở lại với luật cấm rượu tại Hoa Kỳ. Việc cấm rượu đã dẫn tới hậu quả là giá rượu tăng cao, buôn bán rượu mang lại lợi nhuận lớn kéo theo các băng nhóm mafia chuyên buôn lậu rượu.

Những người buôn rượu lậu bắt đầu đưa rượu vào Hoa Kỳ qua các đường biên giới Canada và Mexico. Rượu cũng còn được nhập lậu theo đường biển đến Hoa Kỳ từ các đảo quốc như Bahamas, Cuba, các đảo thuộc Pháp như St. Pierre và Miquelon ngoài khơi Canada.

Biểu tình của các công nhân vận tải biển và cựu quân nhân

Lực lượng thực thi việc cấm rượu chỉ vào khoảng 3.000 nhân viên, tập trung tại vùng biên giới với Canada và Mexico. Thêm vào đó là lực lượng tuần duyên nhằm ngăn chận việc nhập lậu qua đường biển. Tiền lương của những nhân viên (agents) thực thi lệnh cấm rượu rất thấp nên đã có hiện tượng tham nhũng trong hàng ngũ này.

Một số nhân viên công lực tại Chicago đã bị mua chuộc bởi các băng nhóm gansters có liên quan đến hoạt động rượu lậu. Tại New York có khoảng 7.000 vụ bắt bớ vì vi phạm luật cấm rượu, còn tại các tiểu bang khác hoạt động truy lùng tội phạm hầu như không được tiến hành công khai trước công chúng.

Nhân viên công lực và công tác thực thi luật cấm rượu

Trong sáu tháng đầu tiên, đơn vị này đã phá hủy hàng ngàn tháp chưng cất bất hợp pháp được điều hành bởi “những người buôn rượu lậu” (bootleggers). Tuy nhiên, các nhân viên liên bang và cảnh sát chỉ làm chậm dòng chảy của rượu, và các tội phạm có tổ chức dần phát triển mạnh ở Mỹ.

Các tay “gangsters” thường là những người nhập cư từ châu Âu đến Hoa Kỳ vào cuối thập niên 19 hoặc đầu thế kỷ thứ 20. Họ thường tập trung tại các khu lao động nghèo khổ và mau chóng trở thành thế lực của “thế giới ngầm”. Luật cấm rượu đã tạo cho họ một cơ hội bằng vàng trong lãnh vực sản xuất và cung cấp rượu lậu.

Các cuộc thanh toán đẫm máu cũng đã xảy ra giữa các “Ông Trùm”. Tính ra trong khoảng 1927-1930 đã có đến trên 500 vụ thanh toán. Riêng trong thời gian từ 1919 đến 1933, tại Chicago con số này là 729 vụ nhưng các nhà sử học nói là không thể kiểm chứng và có phần “cường điệu”.

Những Ông Trùm rượu lậu quy mô lớn như Al Capone tại Chicago đã xây dựng các đế chế tội phạm nhằm phân phối rượu bất hợp pháp, còn chính phủ liên bang và tiểu bang thì thất thu hàng tỷ tiền thuế.

Al Capone sinh trưởng trong một gia đình di dân từ Ý đến Brooklyn, New York. Sau đó, năm 1920, chuyển về Chicago theo băng nhóm của John Torrio. Năm 1925 Capone soán ngôi Torrio và làm “Ông Trùm” cầm đầu băng nhóm cung cấp rượu lậu, cờ bạc và đĩ điếm. Những hoạt động ngầm này của Capone đã tạo dựng một “đế chế” lên đến 60 triệu đô-la.

Al Capone, “Ông Trùm” rượu lậu tại Chicago

Lệnh cấm rượu xem ra đã thất bại hoàn toàn và tiêu tốn hàng tỷ đô la, vậy nên nhanh chóng mất đi sự ủng hộ rộng rãi vào đầu những năm 1930 tại Mỹ. Năm 1933, bản Tu chính án 21 đã được thông qua và phê chuẩn, chấm dứt lệnh cấm rượu trên toàn quốc.

Sau khi bãi bỏ bản Tu chính án 18, một số tiểu bang tiếp tục bằng cách duy trì lệnh cấm uống rượu trên toàn tiểu bang. Mississippi, tiểu bang cấm rượu cuối cùng trong Liên bang, đã kết thúc Lệnh cấm vào năm 1966.

5/12/1933: ngày chấm dứt lệnh cấm rượu

Lệnh cấm rượu trong suốt 13 năm đã làm sụp đổ ngành công nghiệp rượu bia tại Hoa Kỳ, kéo theo sự thất nghiệp của hàng chục ngàn công nhân. Thiệt hại về thu ngân sách thuế lên đến 11 tỷ đô-la mà lại còn tốn 300 triệu để nuôi lực lượng thi hành luật. 

Cũng không thể bỏ qua những tác động tích cực trong những năm đầu, số người say sưa giảm đáng kể nhưng càng về sau bộ luật đã tạo một sự chia rẽ trầm trọng trong xã hội với hai phe “dry” và “wet”, giữa những người không uống rượu và dân nghiện rượu.

Phải chăng đây cũng là một bài học cho người Việt Nam trong thời buổi này. “Quả thật, Việt Nam đang là một cường quốc về sử dụng rượu, bia”, bà Vũ Thị Minh Hạnh, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách y tế đã từng thừa nhận.

“Năm 2017, sản lượng bia của Việt Nam chạm mốc 4 tỷ lít, tăng 10,4% so với năm 2016 và bình quân mỗi người dân tiêu thụ 42 lít bia/năm. Sản lượng rượu thủ công năm 2016 đạt 188 triệu lít trong đó sản lượng rượu sản xuất nhằm mục đích kinh doanh được cấp phép năm 2016 là 32 triệu lít. Chi phí cho tiêu thụ bia của Việt Nam khoảng 3,4 tỷ USD/năm, gần 3% số thu ngân sách của cả nước, bình quân khoảng hơn 300USD người/năm”.

Đó là những con số biết nói và quan trọng hơn cả là “thành tích” Việt Nam đứng thứ 29 trên thế giới về sử dụng rượu, bia. Hơn thế nữa, chúng ta đang đứng thứ 3 tại châu Á! Đó chắc chắn không phải là điều đáng tự hào đối với người Việt.


Chúng ta cần và nên đọc lại bài học lịch sử của 13 năm cấm rượu tại Hoa Kỳ để rút ra những ưu cũng như nhược điểm.

***

--> Read more..

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018

Đọc lại Vũ Trọng Phụng: “Lục Xì”


Những người trẻ tuổi ngày nay khi đọc “Lục Xì” của Vũ Trọng Phụng thường thắc mắc về tựa đề của thiên phóng sự được viết từ năm 1937 tại Hà Nội. Đó cũng là điều dễ hiểu. Trong ngôn ngữ, có những từ ngữ đã đi vào quên lãng khiến những người đương thời cảm thấy khó hiểu khi được nghe đến.

Ngay hồi cuối thập niên 1930, một số độc giả cũng không khỏi thắc mắc về hai chữ “Lục Xì”. Như để giải thích về từ nguyên, ở Chương 2 của thiên phóng sự dài 12 Chương, Vũ Trọng Phụng đã trích dẫn lời bác sĩ Joyeux, Giám đốc ngạch Vệ sinh Thành phố Hà Nội. Ông Joyeux nói:  

“Lục xì là ở chữ Luck sir, một động từ hồng mao. Luck sir là khám bệnh. Hẳn trong số những ông thầy thuốc trông nom phúc đường từ xưa kia, đã có một ông hay bông đùa, hay dùng tiếng hồng mao trong khi đáng lẽ phải dùng tiếng Pháp. Tôi tưởng có do thế thì cái tiếng cái nhà lục xì (cai nha loock see) mới phổ cập trong dân chúng An Nam như thế” (sic)

Tôi không hoàn toàn đồng với tác giả về việc giải thích nguồn gốc của “Lục Xì” như trên. Vào thập niên 30s, trình độ “tiếng hồng mao” (tức tiếng Anh ngày nay) hãy còn sơ khai đối với người Việt. Tác giả giải thích “lục xì” có xuất xứ từ “Luck sir” ở phần trước, sau đó lại là “Loock see” ở phần sau. Nếu viết là “loock see” thì sai về chính tả. Phải chăng, “Lục Xì” xuất xứ từ “look (and) see” có nghĩa là khám bệnh?

"Lục Xì", sách tái bản của Nhà xuất bản Văn Học, 2004
    
Một từ ngữ nữa được dùng trong phóng sự là “phúc đường”, tác giả còn mở trong ngoặc bằng tiếng Pháp: “dispensaire”. Theo ngôn ngữ ngày nay, “phúc đường” chính là nhà thương làm phúc, nhà thương thí hay còn gọi là “cơ sở y tế phục vụ công cộng”. Nhưng “phúc đường” trong “Lục Xì” lại chính là nơi khám bệnh và điều trị cho gái mại dâm. “Ông vua phóng sự đất Bắc” Vũ Trọng Phụng viết về nhà lục xì:
 
“Trước năm 1900, hình như nhà nước đặt nó ở phố Hàng Cân. Một đạo nghị định của quan Toàn quyền Paul Bert trong đó có nói rằng: ‘Bọn gái mại dâm xét ra có bệnh thì phải bắt giam tại nhà lục xì mãi cho đến khi nào họ khỏi bệnh’ đã ký từ năm 1886, nghĩa là ngay hai năm sau khi chính phủ Pháp ký cái điều ước Bảo hộ 1884 với triều đình Huế vậy.”

Kể từ năm 1902, nhà lục xì ở một tòa nhà khá lớn ở phố Hàng Lọng, gần với nghĩa địa Công giáo. Khi nền giáo dục phát triển, “phúc đường” phải dọn đi để nhường chỗ cho một trường học. Đến năm 1918, nhà thương này dọn tạm về một cái... đền ở sau Tòa Đốc Lý. Địa điểm này lại trở thành vườn trẻ thành phố.

Năm 1926, phúc đường dọn hẳn về “nhà lục xì” tại góc phố đối diện với Tòa án Hà Nội dù hầu hết những ông quan tòa phản đối kịch liệt. Lý do dễ hiểu là họ không muốn Thần Công Lý lại là “láng giềng” với cái nhà thương bị coi là “vật ô uế” kia. Tác giả phân tích:

“Thật rõ lôi thôi là cái sự ngứa ngáy xác thịt của loài người. Nó đã làm rầy rà biết bao nhiêu người, quan cai trị, quan thầy thuốc, nhân viên Sở Liêm Phóng sung vào ban cảnh sát xướng kỹ hay là đội con gái, những ông hội viên thành phố, để kết quả nên một tòa nhà công mà tư pháp giới cũng không tra. Nhà lục xì lập nên sau những cơn giông tố dữ dội”.

Ở đoạn văn này ta lại gặp những từ ngữ xưa: “cảnh sát xướng kỹ” hay còn gọi là “đội con gái”. Đó chỉ là lực lượng gồm 5 người trong cuộc chiến đấu với nạn mại dâm, bệnh lậu, bệnh giang mai, bệnh hoa liễu tại Hà Nội. Năm người này có nhiệm vụ “săn bắt” khoảng 5.000 “đĩ lậu” nhằm bảo vệ cho hơn một trăm “đĩ chính thức”, nghĩa là những người bán phấn buôn hương có “môn bài”, có đóng thuế với nhà nước.

Nhiệm vụ cụ thể của các “thầy đội con gái” là: (1) thực thi các luật lệ có liên quan đến nghề mại dâm một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; (2) bài trừ bọn gái “nhảy dù”, có nghĩa là “đi ngang về tắt”; (3) “phát giấy” hoặc “xé giấy” cho bọn gái thanh lâu; (4) khám xét các nhà “số đỏ”; và (5) giữ trật tự, điểm danh gái có bệnh trong phúc đường. Một quan chức người Pháp nhận xét về hiệu quả của “đội con gái”:

“Tôi nghiệm ra rằng cho đến năm 1930 này, chính sách dùng đến bây giờ không có kết quả gì hơn những năm trước. Vả lại, nếu ngân sách không trừ ra được những số tiền lớn thì phương pháp bài trừ bằng luật lệ nào cũng vô công hiệu. Ngoài ra, ở một xứ mà người dân có cái tâm thuật như xứ này, mà chỗ nào cũng chỉ thấy những hối lộ là hối lộ không xong thì thù hằn, ta phải cho rằng sự gì cũng sẽ xảy ra được”.

Để giải thích điều này, Vũ Trọng Phụng viết: 

“Do thế, cách đây mười lăm năm, người ta dắt đến Dispensaire một đứa gái độ mười ba, mười bốn tuổi bị cáo là mại dâm lậu thuế. Cuộc điều tra mở rồi thì ra viên thám tử người Nam ngạch đội con gái ấy sau khi chực hiếp dâm đứa bé mà không được, đã tưởng không còn gì hơn là bắt đứa gái ấy, giải nó về nhà lục xì để khỏi sợ bị nó kiện”.

Hành động “vu oan, giá họa” đó ngày nay được gọi bằng cái tên “lạm dụng quyền lực của viên chức nhà nước” đối với người dân thấp cổ bé họng. Khi một con bé khốn nạn phải bán thân nuôi miệng thì tức khắc nhà nước vồ lấy nó, rồi bắt nó đóng một thứ thuế mà có người kêu ca là… “vô nhân đạo”.

Rồi thì lại đến lượt anh cảnh sát người bản xứ hành hạ nạn nhân. Trong khi thừa hành công vụ, cảnh sát không những chỉ bảo đảm mọi điều đúng luật mà còn canh gác cả đến số tiền kiếm được trong nhà thanh lâu của các kỹ nữ. Mà gái thanh lâu là ai? Tác giả họ Vũ giải thích:

“Những gái quê thì hoặc đã chê chồng vì đã ăn phải bả tân thời, hoặc đã ra tỉnh làm con đòi, con sen mà không xong, hoặc đã đập trống ngực thình thình khi, ngồi ở vệ hè, đương đói khát mà lại được vài ba cậu “công tử bột” Hà thành nói vào tai những câu ân ái với thái độ săn sóc gian dối của thằng mất dạy bên cạnh một con “bò lạc”, vừa quê mùa lại vừa “chắc chắn” cả trăm phần trăm.
“Dù là thành thị, dù là gái quê, dù vì hư hỏng, dù tại đói khát, thì tất cả những gái ấy đều đã bị cái xảo quyệt của mụ chủ tiệm thuốc phiện, của thằng bồi săm, của thằng ma cô, của thằng phu xe đêm, chúng họp nhau lại thành một cái lưới nhện đáng sợ để làm việc cho ngót bốn trăm cái phòng cho thuê rải rác khắp Hà Nội này!

(hết trích)

Nhà văn – Nhà báo Vũ Trọng Phụng (1912 - 1939)

Khi bị bắt vào “lục xì”, ngoài việc được chữa bệnh và khám bệnh với chiếc “mỏ vịt” (spéculum), “học viên” còn có giờ “lên lớp” với sách học là những mẩu bìa trong có ghi tên những gái lục xì và vẽ hình dung những cái âm hộ có chấm bút chì xanh hoặc đỏ ghi lại dấu hiệu bệnh trạng của từng cô. Họ còn phải học thuộc lòng bài “Phong tình ca khúc” với những câu đại khái như sau:

“Nếu chỉ nghi hoặc, chớ cho vào cuộc,
Mà nguy kia tự buộc vào thân,
Lo xa chớ hám lợi gần,
Thấy ai chắc chắn muôn phần hãy hay.
Dầu khách chẳng mảy may chút bệnh,
Sạch như ly nhưng định chơi lâu,
Chớ nghe mà hại về sau,
Sướng ai, ai lại để sầu cho ta!”
“Đồng tiền khách bỏ ra có thế,
Cuộc mây mưa đủ lệ thì thôi!
Thoạt khi cuộc đã xong rồi,
Xà phòng với nước tìm nơi giội ùa...”

Ta hãy nghe tác giả mô tả một lần khám tại “Lục Xì” với cái mỏ vịt: 

“Những ngày khám bệnh, từ sáng sớm, khi bọn gái trở dậy là tức khắc họ rửa âm hộ của họ bằng nước ấm có pha phèn. Rửa xong rồi, một thị trong bọn ấy lấy hai tay ấn vào bụng cô ả có bệnh để cho nước trong đường tiểu tiện (?) chảy ra hết. Đoạn sẽ lấy một góc mùi soa hay một ống giấy bản nhét vào tử cung hoặc đường tiểu tiện, mãi cho đến lúc sắp lên bàn khám bệnh”.

Các nhà chuyên trách đã cắt đặt gái mại dâm thời đó theo thứ tự: (1) Gái đĩ có giấy (soumises); (2) Gái đĩ lậu (insoumises); (3) Cô đầu (chanteuses);  (4) Gái nhảy ở các tiệm khiêu vũ; và (5) “Con gái” nghĩa là các “me tây”.

Khách làng chơi vào thời đó chủ yếu là ai? Đó là khoảng 900 binh lính quân đội viễn chinh Pháp tại Hà Nội, họ là những người không mang theo gia đình nên không thể nào “tiết dục” mà người Pháp gọi là “refoulement freudien” (tiết chế dâm dục theo Freud).

Bên cạnh đó là một lực lượng gồm 16 “mụ giầu” tức “Tù Bà” hay ngày nay gọi là “Má Mì”, họ cai quản 185 gái điếm “có môn bài”. Trong khi đó, con số gái thanh lâu ở Hà Nội thời đó có thể lên đến 5.000 cô.

Hoạt động mãi dâm còn ảnh hưởng gián tiếp đến gần 40 ông “chủ săm” tức chủ “nhà nghỉ” hay “nhà chứa”… cộng thêm hơn 100 “bồi săm” tức nhân viên phục vụ tại đây. Chưa hết, còn có hơn 600 ông chủ tiệm thuốc phiện chính thức hoặc không có môn bài cũng nằm trong tầm ảnh hưởng của mãi dâm.

Đó chính là vòng chân rết của “tứ đổ tường” dưới thời Pháp thuộc. Vũ Trọng Phụng tin rằng toàn bộ lực lượng đó có đủ sức gây “bạo loạn” tại Hà Thành hoa lệ. Trước những phê phán của xã hội về phóng sự của mình đăng trên báo Tương Lai năm 1937, nhà văn trẻ qua đời ở tuổi 27, tâm sự:

“Viết thiên phóng sự Lục xì tôi không phải chỉ là một nhà văn, nhưng còn là một nhà báo. Nhà báo thì phải nói sự thật cho mọi người biết. Nếu một việc đã có thực thì bổn phận của tôi chỉ là thông báo cho mọi người biết, chứ không phải là lo sợ rằng cái việc làm phận sự ấy lợi hại cho ai”.

Thẻ nhà báo của Vũ Trọng Phụng (cấp tại Hà Nội, 1938)

Sáu mươi năm sau (1997),nhà văn-nhà giáo Hoàng Thiếu Sơn đã nhận xét về “Lục Xì” của nhà văn-nhà báo Vũ Trọng Phụng như sau:

“Lục xì là một phóng sự có giá trị khoa học lớn, trong lịch sử văn học của ta… đã ở một vị trí độc nhất vô nhị trong văn học về mặt y học và pháp lý; đã có vị bác sĩ nào, bậc lương y nào, nhà luật học nào nêu lên được vấn đề như thế, phân tích tình hình như thế và về nhiều mặt góp ý kiến xác đáng như thế với người có trách nhiệm trong xã hội?”   

Và ông kết luận:

“Cuốn phóng sự này nên đọc như một cuốn sách khoa học hơn là cuốn sách văn chương. Nói như thế không phải là gạt nó ra khỏi di sản văn học của dân tộc, mà để tự hào đúng mức là ta cũng có một tác phẩm thuộc về văn chương khoa học chứ không phải chỉ toàn là sách văn chương. Vũ Trọng Phụng đã để lại cho ta một mẫu mực về văn chương phục vụ xã hội và khoa học với cuốn Lục xì”.

Tem kỷ niệm 100 năm ngày sinh Vũ Trọng Phụng, phát hành năm 2012

***

* Tham khảo thêm về Vũ Trọng Phụng trên Blog “Hồi ức một đời người” qua các tác phẩm:

-           “Số Đỏ”: http://chinhhoiuc.blogspot.com/.../oc-lai-vu-trong-phung...

-           “Giông Tố”: http://chinhhoiuc.blogspot.com/.../oc-lai-vu-trong-phung...

***

--> Read more..

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2012

Sài Gòn tứ đổ tường (4) - Rượu chè

Đây là bài cuối cùng trong loạt 4 bài viết về tứ đổ tường ở Sài Gòn xưa.  Ngoài yên (thuốc phiện), đổ (cờ bạc), sắc (trai gái), trong bài viết này tôi sẽ viết đến ‘món ăn chơi’ thứ 4: tửu (rượu chè). 

Làm một cuộc khảo sát về rượu trên toàn cõi Việt Nam ta mới thấy nước mình nghèo thì nghèo thật nhưng lại rất giàu về khoản… rượu chè! Này nhé, chót vót đỉnh núi miền thượng du Bắc Việt có rượu Táo Mèo, xuôi đồng bằng Sông Hồng có rượu Làng Vân, vào Bình Định có Bàu Đá, ngược lên miền Tây Nguyên có rượu cần, đến Long An có Gò Đen, tới Trà Vinh có Xuân Thạnh, ngoài tận đảo Phú Quốc có rượu sim…

Bên cạnh những rượu theo địa danh nói trên còn có vô số chủng loại rượu. Rượu thuốc ngâm lá cây, rễ cây, rắn rết, hổ báo, và cả những thứ ‘độc’ như con bửa củi, tắc kè, hải mã, bảo đảm… ông uống bà khen! Còn một thứ rượu nữa mà chỉ có bậc đế vương như vua Minh Mạng mới có thể uống để nhất dạ lục giao sinh ngũ tử!

Hạng phó thường dân thì làm sao kiếm đủ 6 đối tượng trong một đêm để ân ái? Mà tại sao lục giao lại sinh ngũ tử chứ không phải lục tử? Nếu chỉ có một bà mà ân ái đến 6 lần trong một đêm để sinh ngũ tử thì chắc loại rượu thuốc này ít người dám dùng, thứ nhất sợ phạm luật "sinh đẻ có kế hoạch", thứ đến là một đêm sản xuất đến 5 nhóc tì thì những đêm khác phải nhịn thèm vì hiểm họa nạn nhân mãn treo trước mặt!

Rượu Việt Nam trưng bầy tại hội chợ

Sau này lại có thêm rượu Tây cao cấp. Whisky thì có Remy Martin; Rhum thì có Buddelschiff; Cognac thì Hennessy, XO; Champagne thì có Vin Mousseux rồi sau này còn có cả Vodka Smiranoff hay Mao Đài từ phía các nước "anh em vĩ đại" Liên Xô và Trung Quốc. Tóm lại, Việt Nam rượu gì cũng có, tùy thuộc vào túi tiền của bợm nhậu.

Rượu ngoại

Cũng vì thế đã có không biết bao người thiệt mạng vì bia, rượu với những căn bệnh về gan, thận. Cũng có không ít gia đình bị khốn đốn vì là nạn nhân, trực tiếp hoặc gián tiếp, của tệ nạn nhậu nhẹt. Người ta có thể họp nhau nhậu ở bất cứ nơi nào, bất cứ khi nào với bất kỳ lý do nào.

Hồi xưa tôi còn nhớ cứ mỗi độ xuân về, những cửa hàng phía xung quanh chợ Bến Thành thi nhau quảng cáo để mời chào khách đi sắm Tết. Bên cạnh những cái loa phát ra điệp khúc ‘cha cha cha Hynos’ rầm rộ quảng cáo kem đáng răng có hình anh Chà nước da đen bóng với hàm răng trắng nhởn còn có tiếng oang oang quảng cáo ‘khô nai Ban Mê Thuột, khô cá thiều Phú Quốc’. Đại khái như “…nướng khô nai, khô cá thiều bên này đường thì bên kia đường đem rượu ra uống vẫn thấy ngon!

Nhậu đã đi vào cuộc sống của người Sài Gòn. Đồ nhậu thì ‘thượng vàng hạ cám’: cóc, ổi, me, xoài và thậm chí chỉ còn vài hột muối ớt cũng đủ làm mồi đưa cay thêm vài xị. Nhậu theo kiểu sang trọng là các sếp, các đại gia hay những kẻ vừa trúng ‘mánh’. Trên bàn nhậu rượu thịt ê hề, tiền bạc không nghĩa lý gì với họ và mục đích chỉ là… mua vui.

Đối với dân Sài Gòn trước 1975, món chính chỉ có bia, hay còn gọi là la-ve hoặc la-dze:  la-ve chai lớn Con Cọp (dung tích 61 centilitres) và la-ve chai nhỏ 33 (33 cl) của hãng BGI. Nồng độ chai Con Cọp nhẹ hơn nồng độ chai 33 nhưng đa số dân chúng miền Nam thích chai Con Cọp hơn vì vừa rẻ lại vừa nhiều gần gấp đôi so với chai nhỏ.

Nhãn hiệu bia Con Cọp

Đối với dân ‘sành điệu’ thì không phải chai bia lớn Con Cọp nào cũng giống nhau: nhìn vào nhãn hiệu cái đầu ‘ông ba mươi’, người ta thấy có hai cành hoa trái mà mới thoáng qua mấy đấng mày râu khi đã ngấm hơi men, mắt lờ đờ, trông gà hoá quốc, cho đó là nhành cây và trái dâu tây (strawberry) nhưng có ông lại cho là cành dây leo và trái thơm (pineapple)!


La-ve BGI

Cây thơm mà thuộc loại dây leo thì thật là động trời, chắc chỉ có đệ tử Lưu Linh mới tin như vậy. Thật ra thì cái nhìn của dân nhậu không phải là sai nhưng lỗi ở nơi mấy ông họa sĩ vẽ nhãn hiệu in lên cái chai: có đợt họ vẽ các nụ bông hốt bố (houblon) giống như trái dâu tây, có đợt họ kéo trái dâu tây dài thêm ra giống như trái thơm! Và kể từ đó, giới ăn nhậu đồn với nhau là la-ve Con Cọp có trái thơm ngon hơn la-ve con cọp có trái dâu!

La-ve trái thơm rất ‘hiếm’, trong một két la-ve mua về may mắn lắm mới có được 1 hay nhiều lắm là 2 chai ‘trái thơm’. Không biết BGI có cố tình thỉnh thoảng cho vào một vài chai ‘trái thơm’ hay không.

Thời kỳ kiệm ước, giới công chức, cảnh sát, quân nhân không đủ tiền mua la-ve ở các đại lý (dépôt) có môn bài độc quyền mua bán la-ve của mấy chú Ba nên Quân Tiếp Vụ mới đặt hàng riêng với BGI và cho ra đời La-ve Quân Tiếp Vụ (nhưng không có cái đầu của con cọp) để bán rẻ cho Quân-Cán-Chính. Vỏ bia Quân Tiếp Vụ cũng sặc mùi nhà binh với khẩu hiệu nhắc nhở: "Quyết tâm chống độc tài, bảo vệ tự do dân chủ".

La-ve Quân Tiếp Vụ

Cái tên BGI (Brasseries et Glacières de L'Indochine) khởi nguồn từ ý nghĩa ‘Nhà máy bia & nước đá Đông Dương’ của ông chủ Victor Larue, người Pháp. Cũng vì thế trên nhãn của BGI còn ghi hàng chữ Pháp: Bière Larue. BGI thâm nhập miền Nam vào cuối thập niên 1900s với mục tiêu sản xuất nước đá, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, BGI bắt đầu sản xuất bia và nước giải khát.

Nhà máy BGI nổi tiếng nhất và lâu đời nhất Nhà máy bia Chợ LớnUsine Belgique, sản xuất nước giải khát được xây dựng từ năm 1952. Sau khi Sài Gòn đổi tên, chính quyền "cách mạng" tịch thu tài sản của chủ Pháp và Nhà máy bia Chợ Lớn trở thành Bia Sài GònUsine Belgique cũng đổi thành Chương Dương, nhưng vẫn là nhà máy sản xuất nuớc giải khát.

Mãi đến năm 1991 BGI Pháp mới trở lại Việt Nam và chịu nhiều thua thiệt của kẻ đến sau. Vào lúc đó, đã có BGI, một công ty liên doanh giữa nhà nước và tập đoàn Castel’s, nên BGI Pháp được khuyến cáo… nên ra miền Bắc để bắt đầu công việc kinh doanh. Dĩ nhiên họ không chịu vì miền Bắc không phải là thị trường quen thuộc của BGI và sau đó họ lặn lội xuống tận Tiền Giang để thành lập một công ty liên doanh với tỉnh Tiền Giang.

BGI Tiền Giang bắt đầu hoạt động vào năm 1993 với sản phẩm được phân phối rộng rãi trong khu vực châu thổ sông Cửu Long. Thời gian đầu, BGI được sự đón nhận của người tiêu thụ, nhờ vào di sản và danh tiếng. Tuy nhiên, vì nhu cầu vượt quá sự cung ứng trong khi khả năng của công ty lại có giới hạn nên BGI lần lần xuống dốc. Sau vài năm chịu đựng, BGI quyết định rút về Pháp và bán hết tài sản cho bia Foster's của Úc và từ năm 1997 Foster's đã chính thức tiếp quản tất cả tài sản của BGI. Một lý do khác cho sự thất bại của BGI Pháp có thể là hoạt động tiếp thị kém hơn so với các loại bia khác.

Trở lại chuyện ăn nhậu ở Sài Gòn. BGI không thể nào độc quyền phục vụ dân nhậu. Việt Nam nghèo gì thì nghèo nhưng lại rất giàu về rượu và bia. Thế cho nên, cả nước đều nhậu, nhà nhà cùng nhậu. Đi đâu cũng văng vẳng tiếng ‘Dzô, Dzô!’… trăm phần trăm. Báo chí đã trích dẫn lời một Phó bí thư thường trực Tỉnh ủy đã ‘nói vui’ rằng, nếu cứ để tình trạng “Sáng Băng Cốc, trưa Viêng Chăn” (sáng uống cốc rượu, trưa chui vào chăn ngủ) thì chẳng mấy chốc hỏng hết cán bộ!

Theo tôi, câu nói đó không vui chút nào. Rượu tàn phá nhiều thế hệ đã qua và sẽ hủy hoại nhiều thế hệ sắp tới. Liên Xô là nước nổi tiếng về số người nghiện rượu và thực tế đã chứng minh, Liên Xô tụt dốc, một con dốc thẳng đứng cả về mặt chính trị lẫn xã hội. Còn Việt Nam? 

Vào thời bao cấp, tại miền Bắc có rượu quốc lủi. Rượu nhà nước độc quyền sản xuất được gọi là quốc doanh cho nên rượu do tư nhân sản xuất ‘chui’ được gọi là quốc lủi, nói nôm na là rượu lậu. Có người còn cho là cái tên quốc lủi hàm ý gặp công an thì lủi cho nhanh không thì mất cả chì lẫn chài!

Trong thời buổi khó khăn, người dân miền Bắc phải ‘làm kinh tế phụ’ bằng cách nấu rượu y như thời Pháp thuộc. Họ dùng các loại ngũ cốc có hàm lượng tinh bột cao như gạo tẻ, gạo nếp, gạo lứt, ngô hạt, mầm thóc, sắn, hạt mít, hạt dẻ, hạt bo bo… để nấu rượu. Phần bã hèm dành cho lợn vì nhà nào cũng nuôi lợn ‘tăng gia’, thế là một công đôi việc!

Nấu rượu lậu thời Pháp thuộc

Nam vô tửu như kỳ vô phong, riêng tôi thì đành chấp nhận làm lá cờ không gặp gió vì quả thật không biết nhậu, chỉ giỏi… phá mồi. Mới hớp độ một hai hơi cũng đủ khiến mặt đỏ gay nên chỗ nào có nhậu vội vàng tránh xa vì không muốn mang bộ mặt đỏ gay trên đường về nhà. (Uống lai rai với bạn bè tại nhà thì không sao, có say thì cũng có sẵn giường để ngả lưng!)

Tôi nghĩ, giá không bị cái tật ‘phản ứng’ với rượu chắc tôi cũng có thể… ai tới đâu cũng cố theo tới đó vì tửu lượng không đến nỗi nào một khi đã đổi từ ‘mặt đỏ’ sang ‘mặt tái’ và cuối cùng là… thiếp đi trên giường. Tôi cũng đã trải qua tình trạng ‘say lại’: say lần đầu ngủ một giấc, khi tỉnh dậy lại say tiếp… mà lần ‘say lại’ còn ‘đậm đà’ hơn lần say đầu bội phần.

Rượu uống chẳng bằng ai nhưng tôi lại có cái thú… sưu tầm rượu! Tôi có một tủ rượu và dĩ nhiên đó không phải là loại ‘người mua không uống nhưng người uống lại không mua!’ mà là người không biết uống mua về… chưng tủ kính. Có những chai rượu nhỏ mua về làm kỷ niệm từ bên Áo, Ý, Đức… có những chai loại night-cap thường thấy trong mini-bar tại các khách sạn hoặc trên các chuyến bay quốc tế. 

Bây giờ những chai rượu đó vẫn nằm yên trong tủ rượu, chưa khui chỉ vì chủ của nó không biết thưởng thức chất men mà chỉ biết trân trọng vẻ đẹp bên ngoài của những cái chai và mầu của rượu. Hóa ra trong triết lý uống rượu vẫn có một thứ lý luận lẩm cẩm là rượu còn dùng để chưng chứ không để uống! 


Tủ rươu của tôi
    

Ngày xưa, cụ Nguyễn Trãi trong bài Gia huấn ca đã từng dạy:

Đua chi chén rượu, câu thơ
Thuốc lào ngon nhạt, nước cờ thấp cao

Không biết người ta còn ai chịu nghe những lời cũ rích như vậy hay chỉ biết hứa với nhau trước khi nhập trận nhậu: “Không say không về!”.

Để kết thúc bài viết này, mời các bạn đọc bảng Nội quy Ăn nhậu dưới đây do Vụ trưởng Vụ ăn nhậu Phổ thông & Bình dân ký ngày 21/03/2004 trong lúc đang... xỉn: 


***

(Trích Hồi Ức Một Đời Người, Chương 4 – Thời quân ngũ)

Hồi Ức Một Đời Người gồm 9 Chương:

  1. Chương 1: Thời thơ ấu (từ Hà Nội vào Đà Lạt)
  2. Chương 2: Thời niên thiếu (Đà Lạt và Ban Mê Thuột)
  3. Chương 3: Thời thanh niên (Sài Gòn)
  4. Chương 4: Thời quân ngũ (Sài Gòn – Giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội)
  5. Chương 5: Thời cải tạo (Trảng Lớn, Trảng Táo, Gia Huynh)
  6. Chương 6: Thời điêu linh (Sài Gòn, Đà Lạt)
  7. Chương 7: Thời mở lòng (những chuyện tình cảm)
  8. Chương 8: Thời mở cửa (Bước vào nghề báo, thập niên 80)
  9. Chương 9: Thời hội nhập (Bút ký những chuyến đi tới 15 quốc gia và lãnh thổ) 

Tác giả còn dự tính viết tiếp một Chương cuối cùng sẽ mang tên… Thời xuống lỗ (thập niên 2000 cho đến ngày xuống lỗ)!

--> Read more..

Thứ Bảy, 1 tháng 9, 2012

Sài Gòn tứ đổ tường (3) - Cờ bạc

Một số người Việt, đặc biệt là người Sài Gòn xưa, thường có trong mình dòng máu ‘đỏ đen’ của thần đổ bác. Ngày xưa, các cụ thường ngồi ‘xoa’ mạt chược, chơi tổ tôm, đánh chắn hoặc chơi tứ sắc, đánh tam cúc… Rồi văn minh hơn với bộ bài tây 52 dùng để chơi xì phé, xì dzách, xì-lác, các-tê sang đến binh xập-xám.

Có một dạo, người ta đánh bạc ngay tại ngoài đường: đánh cá bảng số xe chạy qua trước mặt với tổng số cao nhất là 9 nút và thấp nhấp là ‘bù’ (10 nút). Ngay cả những hiện tượng như mưa nắng trong ngày, dân Chợ Lớn cũng có thể cá cược ăn tiền với nhau.

Theo tôi, xổ số cũng là một hình thức "cờ bạc có tổ chức" mặc dù trên danh nghĩa ‘từ thiện’ như Trần Văn Trạch ngày nào vẫn thường hát: “Kiến thiết quốc gia, giúp đồng bào ta, xây đắp bao người, dựng nên cửa nhà… Triệu phú đến nơi, chỉ mười đồng thôi, mua lấy xe nhà, giàu sang mấy hồi…”.

Chúng tôi cũng may mắn sưu tầm trên mạng được tấm vé số loại 5-A6 mang tên “Tình mẫu tử” trên đó có ghi ngày xổ: 3/5/1975. Đây là vé số “không bao giờ xổ” vì Sài Gòn đã đổi chủ ngày 30/4/1975. Có nghĩa là tấm vé số cuối cùng này không có người trúng lô độc đắc 5 triệu đồng tiền VNCH hồi đó.

Vé số "không bao giờ xổ"

Từ xổ số lại biến thể sang số đề, đây là hình thức cờ bạc rõ nét nhất. Trước năm 1954, ở Sài Gòn - Chợ Lớn, có hai chỗ đánh bạc rất nổi tiếng, đó là các sòng Kim Chung (Casino Cloche d'Or) và sòng Đại Thế Giới (Casino Grande Monde). Trong số các trò chơi đỏ đen đó, có một trò gọi là Xổ số đề, tức là xổ các cặp số đã được đề trên các tấm vé.

Mỗi vé có hai con số, từ 00 đến 99. Cứ sau khi bán hết một đợt vé người ta lại "xổ", có nghĩa là bắt thăm xem vé nào trúng và nếu trúng thì một đồng ăn bảy mươi đồng. Như vậy là người tổ chức (nhà thầu hay nói khác đi là nhà cái) thu lợi 30% mỗi lần xổ. Giả sử mỗi vé ghi giá 1 đồng thì thu được 100 đồng, nhà cái chỉ phải trả 70 đồng cho người trúng và thu về 30 đồng tiền lời.

Khi thông báo số trúng, để tăng thêm phần hấp dẫn, người ta treo những tấm bảng thật lớn đã cuộn tròn sẵn giống như những cuộn lịch, treo thật cao trên các cây cột để mọi người nhìn thấy. Chẳng hạn, xổ ra số 35 trúng, họ hô lên trên loa bằng cả tiếng Tàu lẫn tiếng Việt: "Xám Xập Ửng... Ba Mươi Lăm...". Lúc đó, một người ở trên cao dùng kéo cắt hoặc đốt sợi dây cột tấm bảng mang số 35, dưới hai con số đó có kèm theo hình vẽ một con dê đực, hai sừng cong lên cùng với chòm râu dê!

Vì sao có hình vẽ con dê? Một số người giải thích vì người Hoa thời đó ít người đọc được các con số dùng trong tiếng Việt, mà dân cờ bạc người Việt cũng có nhiều người dốt, một chữ cắn làm đôi cũng không biết. Do vậy, người ta cẩn thận kèm theo mỗi con số là một hình vẽ, để ai muốn coi số cũng được mà nhìn hình cũng xong.

Ví dụ: số 35 họ vẽ con dê, số 09 họ vẽ con cá lớn, số 11 họ vẽ con cá nhỏ, số 14 vẽ con chó, số 16 vẽ con bướm, v.v... Trong các chiếc vé cũng vẽ như vậy. Đây chỉ là những hình vẽ vô tình, dùng lâu thành quen vậy thôi, chứ giữa con số 35 và con dê không có liên quan gì đến nhau cả. Có thể cũng vì lẽ đó, kho tàng ngôn ngữ của người Sài Gòn về sau có thành ngữ “35 dê” để chỉ người đàn ông ưa tán tỉnh phụ nữ?

Kim Chung và Đại thế giới đều có Xổ Đề mỗi ngày. Cứ mỗi chiều vào khoảng bốn, năm giờ, tuy kết quả xổ đề không được thông báo trên đài phát thanh nhưng chỉ độ nửa giờ sau khi đề xổ, người dân toàn thành phố đã biết đích xác đề xổ con nào qua ‘đài phát thanh truyền miệng’. Đề vừa xổ, chỉ cần hai, ba ông đạp xích lô đi ngang là cả một đường phố dài, kể cả những khu lao động trong các hẻm, đều đồng loạt biết hai con gì được xổ trong ngày.

Ngày nay, số đề dựa theo kết quả của xổ số và hầu như tỉnh nào cũng phát hành vé số nên người ta có cảm tưởng cả nước đang đắm chìm theo thần đổ bác, quanh năm 365 ngày! Cứ vào giấc chiều, gần tới giờ xổ số, tại một số đại lý hay các quầy bán vé số dọc lề đường thường tập trung rất đông người. Kẻ đứng, người ngồi, xe dựng trên lề có khi lan ra cả lòng đường gây trở ngại giao thông. Ai có trách, mặc kệ! Xe cộ có bóp còi, họ cũng chẳng quan tâm. Bởi lúc ấy, họ chỉ tập trung vào kết quả... xổ số!

Có thể nói, với dân đã ‘lậm’ số đề, bất cứ mọi giấc mơ, mọi sự việc, mọi hành động trong sinh hoạt thường nhật, đều có thể… ‘số hóa’, không chỉ một mà có khi còn suy ra cả chục con số để đánh đề. Thấy tai nạn giao thông trên đường vội ghi số... xe để đánh đề, gặp hỏa hoạn, cháy nổ hay các vụ việc có liên quan tới lửa thì đánh đề số 27 - 67…

Mua vé số 

Số đề chỉ là một hình thức cờ bạc ‘tép riu’ trong khu Đại Thế Giới, tên Tây là Casino Grand Monde, một trong những sòng bạc lớn nhất Đông Dương trong thế kỷ 20 do người Pháp lập ra vào năm 1937. Mãi đến năm 1955 mới bị đóng cửa dưới thời Đệ nhất Cộng hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Trước khi Đại Thế Giới xuất hiện, người Tầu thao túng việc bài bạc tại khu vực Chợ Lớn. Để giành lại mối lợi này, chính quyền Pháp tại Nam Kỳ đứng ra bảo trợ và thành lập sòng bạc Đại Thế Giới nhằm thu hút các con bạc khắp khu vực Saigon-Cholon. Hàng năm chính quyền bảo hộ thu được nguồn thuế rất lớn từ sòng bạc này. Ngoài bài bạc, Đại Thế Giới còn là tụ điểm ăn chơi, hút sách, trai gái nổi tiếng khắp cả nước thời Pháp thuộc.

Đại Thế Giới được người Pháp chính thức cho thành lập với các lý do: thà cho cờ bạc công khai, có lấy thuế, còn hơn để kiểu cờ bạc lén lút nhưng tràn lan vừa thất thu thuế, vừa xúc phạm đến quyền lực của chính phủ bảo hộ Pháp. Đồng lúc thành lập Đại Thế Giới còn có sòng bạc Kim Chung ở khu vực Cầu Muối (nay là Khu Dân Sinh, phường Cầu Ông Lãnh, Quận 1). Kim Chung có qui mô kém hơn, đối tượng chơi thuộc loại bình dân, nên mỗi khi nhắc tới casino tiêu biểu của Saigon, người ta hay nói đến Đại Thế Giới.
  
Sau 1975, đã có một thời gian tôi ở tại đường Hàm Tử, Quận 5, nơi chỉ cách Đại Thế Giới ngày xưa chừng vài phút đi bộ. Tôi thường dẫn các cháu ngoại đến Trung tâm Văn hóa Quận 5 (số 105 Trần Hưng Đạo B, phường 6) để chơi các trò ‘thú nhún’ (trẻ con ngồi trên những con thú có lò so nhún nhảy khi khởi động bằng điện). Tại đây còn có công viên nước mang một cái tên gợi nhớ: Đại Thế Giới.

Đại Thế Giới ngày xưa nằm trên đường Gallieni chiếm một khuôn viên rộng lớn của Trung tâm Văn hóa ngày nay. Khu đất rộng mênh mông, vòng rào xây tường cao, cửa ra vào có bảo vệ mặc đồng phục canh gác cẩn mật. Người ta ra vào tự do, nhưng không phải ai cũng mạnh dạn bước vào, bởi muốn bước vào phải có tiền và bởi cái 'Sát Khí' của Thần Đỏ Đen luôn vừa quyến rũ thiên hạ, lại vừa hù dọa mọi người.

Trên cổng lớn sáng rực ánh đèn néon, hàng chữ Grand Monde như một lời xác nhận với mọi người dân Sài Gòn thời đó rằng nơi đây là sòng bạc được nhà nước bảo trợ, cứ mặc tình mà sát phạt. Giấy phép hoạt động là của nhà nước bảo hộ cấp, nhưng sòng bạc lại do tư nhân điều hành.

Casino Grande Monde xưa trên đường Gallieni 
(nay là Trần Hưng Đạo, Chợ Lớn)

Ngay từ đầu khai trương, chủ thầu là một tay đầu nậu casino, Lâm Giống, từ Hồng Kông đến. Sở dĩ người Pháp cho các tay Hồng Kông trúng thầu vì họ hiểu rằng, chỉ những người từng am tường về tổ chức sòng bạc tầm cỡ thì mới có khả năng đưa Đại Thế Giới lên ngang tầm với các sòng bạc ở Á Châu.

Lâm Giống vốn xuất thân từ các sòng bạc ở Macau, đã sành sỏi về tổ chức casino, do đó ông ta đã rập khuôn từ mọi hình thức đến mọi mánh khóe. Cùng kéo sang ‘miền đất hứa’ Sài Gòn với chủ còn có những cô ‘hồ lì’, người đứng điều khiển cuộc chơi của từng môn đỏ đen, theo cách gọi của người Trung Hoa. ‘Hồ lì’ lúc nào cũng xinh đẹp và sành điệu, thừa sức làm vui lòng khách chơi, dù có bị thua cháy túi.

Ngay từ lúc mới mở cửa, Đại Thế Giới đã thu hút ngay số khách đỏ đen ở mức kỷ lục: những tuần lễ đầu có đến hàng ngàn người tới thử thời vận mỗi ngày, nhà chứa bạc thu vô không dưới một triệu đồng (một triệu đồng bạc Đông Dương hồi đó hết sức lớn, bằng bạc tỷ bây giờ). Tiền thuế nộp cho nhà nước cũng không ít, từ 200.000 sau lên 300.000 và có lúc lên đến 500.000 đồng một ngày. Thế mà chủ chứa vẫn hốt bạc nhiều hơn bất cứ ngành kinh doanh nào khác.

Khách chơi lúc đầu còn giới hạn trong giới trung lưu, đến người nhiều tiền, lần hồi thu hút tới những giới bình dân, cả phu kéo xe, phu bốc vác bến tàu, vì có đủ hình thức chơi, từ hốt me, tài xỉu, đến ru-lét… Người chơi không cần phải động não nhiều, và cũng không cần có nhiều vốn. Nhiều thua nhiều, ít thua ít, chỉ không đánh mới không thua! Vậy mà Đại Thế Giới như có bùa, như ma túy gây nghiện, nó có thứ ma lực lạ lùng càng lúc càng lôi cuốn người Sài Gòn như con thiêu thân trước ánh đèn.

Đã xảy ra nhiều cuộc chiến từ Đại thế giới. Cuộc chiến giữa khách chơi và nhà cái, cuộc chiến giữa bản thân người chơi và gia đình họ, và cuộc chiến cực kỳ quyết liệt giữa những thế lực để giành quyền chi phối sòng bạc.

Từ ngày Đại Thế Giới mở ra, đã có không biết bao nhiêu thảm cảnh gia đình. Có người là công chức cao cấp cao nhà nước, giàu sang tột bực, vậy mà chỉ trong vài tuần ‘làm quen’ với Grand Monde đã nướng hết sản nghiệp vào đó, và tất nhiên là nướng cả cuộc đời. Có những người vợ, những cô này bà nọ, chỉ vì ham vui, vào thử vài lần rồi bắt bén vào tiếp và..... cuối cùng lột hết vòng vàng nữ trang, lấy cắp cả tiền nhà, cúng sạch, và sau đó cũng cúng luôn cả cái ngàn vàng của mình! Thời đó cầu Bình Lợi được xem là nơi kết liễu những cuộc đời bất hạnh, sau một đêm cháy túi ở Đại Thế Giới....

Cả Sài Gòn và vùng phụ cận, cả Nam Kỳ Lục tỉnh và cũng không thiếu người ở những miền xa của đất nước đổ xô về Đại thế Giới lập lòe ánh sáng ma quái, để chơi, để khóc và… để chết. Trong khi đó, một cuộc đổ xô khác, ở phía những thế lực muốn nắm Đại Thế Giới, cũng đến hồi quyết liệt.

Đại Thế Giới như rồng gặp mây khi Đức Quốc Trưởng Bảo Đại, vị vua cuối cùng triều Nguyễn, được người Pháp giao lại nguồn lợi như một món quà ân thưởng. Phòng Nhì Pháp sau khi chiêu hồi Bảy Viễn (Lê Văn Viễn), thủ lĩnh Bình Xuyên, về thành đã gắn cho ông lon đại tá.

 Cựu hoàng Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triều Nguyễn

Theo hồ sơ về tỷ phú Hoa kiều Lý Long Thân do Cảnh sát Việt Nam Cộng hòa lập, hiện lưu trữ tại Cục lưu trữ Việt Nam, thì để cầu thân với Bảy Viễn, Lý đã bỏ số tiền hơn 4 triệu franc để tổ chức tiệc chiêu đãi Bảy Viễn và đàn em tại hý trường Đại Thế Giới. Sau đó, Lý còn đề nghị Bảy Viễn đứng ra thầu lại sòng bạc Đại Thế Giới dưới sự hỗ trợ về tài chánh của chính mình (500 ngàn đồng Đông Dương một ngày) và sự bảo trợ của Quốc trưởng Bảo Đại.

Năm 1951, Bảo Đại đặt mua một chiếc Jaguar Mark II to đùng, phía trước mũi xe có gắn một con báo Nam Mỹ bằng đồng. Đây là chiếc ‘con báo’ duy nhất có mặt tại Việt Nam trong cùng thời điểm. Bảo Đại mua nó vì thích, sau đó dự định sẽ để dành làm quà sinh nhật cho hoàng tử Bảo Long. Nhưng cuối cùng lại nổi hứng, ông đã đem tặng nó cho viên tướng lục lâm Lê Văn Viễn, như quà mừng vì tay này đã thâu tóm được sòng bạc Đại Thế Giới ở Chợ Lớn, hàng tháng đem lại cho Bảo Đại một số tiền cống nộp kếch xù.

Vào năm 1955, nhằm thống nhất các lực lượng Quốc gia, cắt đứt nguồn tài trợ của Bảy Viễn cũng như xóa bỏ lối sống đồi trụy tại đây, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã ra lệnh đóng cửa Đại Thế Giới. Đầu năm 1955 đánh dấu ngày tàn của Grande Monde, khi ông Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh dẹp sòng bạc lớn nhất Đông Nam Á. Phần đông người Sài Gòn thở phào nhẹ nhõm mỗi khi đi ngang qua nơi xưa kia vốn vừa là Thiên Đàng vừa là Địa Ngục. Tuy nhiên, các đệ tử của Thần Đổ Bác chắc hẳn phải… buồn năm phút!

Ngày nay, Việt Nam có một casino duy nhất tại Quảng Ninh mang tên Casino Đồ Sơn chỉ dành riêng cho người nước ngoài. Đây là casino được tổ chức theo tiêu chuẩn quốc tế và theo luật mới, muốn đầu tư vào casino phải có tối thiểu 4 tỷ đô cho một dự án. Tại các khách sạn lớn ở Sài Gòn như New World, Equatorial, Duxton, Legend… giải trí đỏ đen được tổ chức dưới dạng câu lạc bộ (club) trang bị các loại slot machines để phục vụ nhu cầu khách quốc tế.

Ngày xưa, người ta gọi những máy đánh bạc này qua một cái tên khá ngộ nghĩnh, One-armed Bandit, vì mỗi máy có cần gạt để kéo. Bây giờ tiến bộ hơn, máy chỉ dùng toàn nút bấm. Không biết giới đỏ đen đã có từ nào để thay thế cho ‘tướng cướp một tay’?

Tác giả thử thời vận với ‘Tướng cướp một tay’ ở Las Vegas

Các club đánh bạc tại khách sạn chỉ hoạt động cầm chừng vì khách đến Việt Nam chủ yếu là khách du lịch, nếu ghiền cờ bạc thì họ đến những casino ở Macau, Monte Carlo hay Las Vegas chứ loại ‘tép riu’ như các club ở Việt Nam đâu có gì hấp dẫn. Trái lại, người Việt ta vốn mang trong người dòng máu ‘đỏ đen’ nên nhìn các club trong khách sạn sang trọng một cách… thèm thuồng.

Ông chủ các câu lạc bộ cũng nhận thấy điều đó nên họ ‘xé rào’ để các con bạc Việt Nam vào nướng tiền. Công an cũng thấy chuyện đó (nghề của chàng mà!) nên có những vụ đột kích club đánh bạc tại khách sạn và cất được những ‘mẻ lưới’ lớn. Báo chí cho biết, có con bạc đã hơn 40 lần ‘lạc’ vào đây, đổi tổng cộng trên 1,6 triệu đô ra ‘phỉnh’, ngoài vô số lần ‘cháy túi’, lần thắng cao nhất chỉ khoảng 7.000 đô!    

Cấm trong nước thì họ đem tiền ra nước ngoài chơi. Người ta còn ‘vượt biên’ sang Campuchia, gần cửa khẩu Mộc Bài (Tây Ninh) hoặc Xà Xía (Hà Tiên) để đánh bạc. Hơn 95% người đánh bài ở đây là người Việt. Trong tương lai sẽ có hàng loạt nước láng giềng mở casino và người Việt chắc chắn sẽ siêng đi du lịch nước ngoài hơn…

Hà Tiên Vegas Casino & Hotel (Campuchia)
cách cửa khẩu Xà Xía ở Hà Tiên (Kiên Giang) vài trăm mét

Huyện Bavet tỉnh Svây Riêng (Campuchia) có tới 7 casino nằm gần nhau như hàng xóm nhưng chưa bao giờ phải lời qua tiếng lại vì khách vào nườm nượp. Những cái tên như Sun City, Full House, Le Macau, Las Vegas… vốn đã nằm sẵn trong lịch trình của hàng ngàn người từ các tỉnh ở miền Nam đi thử vận đầu năm. Từ sáng sớm đến tối mịt, mọi câu chuyện đều xoay quanh baccarat, rolex, xì dzách hay xập xám…

***

Từ năm 1932, Sài Gòn đã có trường đua ngựa Phú Thọ nổi tiếng vùng Đông Dương và cũng là một trong những ‘tử địa’ của dân máu mê cờ bạc. Dân chơi đua ngựa thuộc nằm lòng câu hát ‘Đường vào trường đua có trăm lần thua, chỉ một lần huề...’ và một tay chơi có thâm niên đã khẳng định: “Bắt độ ngựa mà chỉ tin vào may rủi thì... không còn quần xà lỏn mà mặc!".

Trường đua Phú Thọ (1948) có mặt cả lính Pháp

Ngựa đua tại Phú Thọ được chia làm 4 hạng A, B, C và D, xếp theo tuổi và chiều cao của ngựa. Ngựa nổi tiếng một thời phải kể đến những cái tên rất kêu như Đạm Phi Tiên, Đại Anh Hùng, Long Sơn Hiệp, Nữ Thần, Mã Thượng, Thái Dương, Thoại Lan... Lại còn có những ngựa mang tên những người đẹp như Lý Lệ Hoa, Dương Quý Phi…

Ngựa nổi tiếng nhất lịch sử trường đua Phú Thọ có lẽ là Thoại Lan. Trong các năm 1970-1972, Thoại Lan gần như không có đối thủ, và hiếm có khi về nhì. Cho đến năm 1973 khi có đợt ngựa mới như Thuận Hùng, Hoàng Lộc, Astro Boy... Thoại Lan mới chịu "nhường ngôi".

Trường đua Phú Thọ (1948) với người tham gia từ hạng ... cá kèo

Trường đua Phú Thọ là một xã hội thu nhỏ và khép kín. Trong cái cộng đồng đó, ông chủ ngựa làm… ‘vua’ vì có khi cả 10 con ngựa trên đường đua đều cùng một chủ, việc phân hạng nhất nhì đều nằm trong tay chủ ngựa từ trước cuộc đua. Rất hiếm ông chủ không ‘làm độ’ vì trên thực tế nếu về nhất, chủ ngựa chỉ được thưởng vài triệu đồng nhưng nếu có ‘móc ngoặc’ thì thu nhập sẽ tăng đến mức 10 lần, chưa kể những quyền lợi ‘chính đáng’ khác từ phần trăm tiền vé và từ các mối quan hệ khác. 

Chủ ngựa dù không muốn ‘làm độ’ cũng bị móc làm độ hoặc bị ép làm độ. Khi đã ‘làm độ’ thì phải hết sức bí mật vì nếu để lộ, tiền thưởng trong vé, sẽ giảm xuống. Chẳng hạn như ngựa Dương Quý Phi được mua 1.000 vé, nếu một người trúng sẽ được 1 triệu đồng, nhưng nếu 10 người cùng trúng thì mỗi người chỉ còn 100.000 đồng. Cũng vì thế, ngay cả cha con, anh em, họ hàng một khi ‘làm độ’ cũng phải giấu nhau.

Ở trường đua Phú Thọ có cha con ông Bảy, một đại ca có máu mặt của khu Cây Da Xà trước năm 1975, đã từng choảng nhau vì bố ‘làm độ’ mà con không biết, vẫn đánh cho ngựa của bố đến nỗi phải chịu thua tan tác. 

Cách làm độ như sau: có bốn ông chủ ngựa lớn đại diện cho các vùng Đức Hòa - Long An, Bà Điểm - Hóc Môn, Gò Vấp và CLB đua ngựa sẽ họp nhau để… ‘bàn về ngựa’. Con nào được cả bốn ông bầu chọn về nhất sẽ được gọi là ngựa “4 sao”. Nếu có một ông không đánh giá cao, con ngựa đó sẽ rớt xuống “3 sao”.

Nhìn vào “sao” của ngựa, dân cá cược bắt đầu đặt tiền làm độ. Dân chơi lớn mua một lần vài nghìn đến cả chục nghìn vé cho con ngựa mình chọn, mỗi vé mười nghìn đồng. Đối với chủ ngựa, chỉ đầu tư nhiều vé khi có cơ sở để tin rằng ngựa của mình có khả năng thắng ngược, song những tay độ lớn ít chơi với phòng vé hoặc mua ít vé cho người ta khỏi để ý. Cốt tử là những trận đánh độ nảy lửa hàng trăm triệu đồng, hàng tỷ đồng được dàn xếp kín đáo giữa những tay chơi lớn, đó gọi là… cá lậu. Khi đã đầu tư số tiền khủng khiếp như vậy, các tay cá lậu bắt đầu dùng thủ đoạn để thắng cuộc.

Để có được một kết quả làm độ như ý, những đại gia ‘cá lậu’ tổ chức một hệ thống ngầm quy mô, chặt chẽ với chủ ngựa, nài ngựa, thậm chí có cả sự móc ngoặc của một số trọng tài trường đua. Ngoài trọng tài trên đường đua còn có trọng tài chuồng, kiểm tra bước chuẩn bị xuất phát của ngựa. Nếu vị này không công tâm, những chiến mã có thể bị ‘đứng chuồng’ (xuất phát chậm).

Trọng tài sẽ quyết định nếu trọng lượng của nài nhẹ hơn quy định phải buộc đeo thêm chì. Nếu móc ngoặc được với vị này, con ngựa chở nài nhẹ cân không bù chì hoặc bù không đủ số lượng sẽ chạy nhanh hơn. Còn trọng tài trên đường đua sẽ xử lý các hành vi phạm luật như: chạy cắt mặt, lấn đường, ép nhau, níu cương...

Trên đường đua, ngoài việc trọng tài công tâm, một con ngựa thành công phụ thuộc vào 3 yếu tố: đường chạy, khả năng của chính nó và tài năng của nài ngựa. Theo kinh nghiệm của một số chuyên gia về ngựa thì nài ngựa giỏi đóng góp đến 80% chiến thắng. Đối với những con ngựa hay thì việc chiến thắng là điều dễ dàng, nhưng ngựa thì thường hay giở chứng, để điều khiển được con ngựa bất kham, điều cần thiết phải có một nài ngựa giỏi.

Nài ngựa

Thường thì giới bao cá lậu rất ít khi tiếp xúc được với nài ngựa, chúng chỉ thông qua chủ ngựa hoặc chính người thân của nài như cha mẹ, anh em ruột thịt, dùng tiền mua chuộc để họ tác động đến nài ngựa. Chính những tác động từ chủ ngựa, từ gia đình của nài nên không ít nài ngựa đã có những biểu hiện tiêu cực làm thay đổi kết quả trận đấu.

Ngoài việc mua chuộc, lôi kéo, hăm dọa các chủ ngựa, trọng tài, nài... để làm độ, các ‘đại gia’ trong làng cá độ lậu còn áp dụng nhiều thủ đoạn để hại ngựa nhằm giành phần thắng.

Các chủ ngựa khi làm độ muốn ngựa mình thua cũng áp dụng nhiều trò xấu với ngựa của mình như: chích thuốc ngủ cho ngựa, phải là tay chuyên nghiệp mới làm được điều này vì nếu canh thuốc không chuẩn, con ngựa chưa vào đường đua đã xỉu thì rất dễ bị phát hiện và trừng phạt nặng theo luật đua; có ngựa còn bị chích ma túy, cho uống thuốc xổ, bỏ đói...

Còn muốn ngựa thắng thì người ta chích thuốc bổ, thuốc kích thích... Bởi vậy sau mỗi cuộc đua, ngựa bị nghi ngờ có thể sẽ phải thử nước tiểu để rõ trắng đen. Cũng có trường hợp chủ ngựa đã nhận bán độ, cố làm cho ngựa thua nhưng con ngựa do quá sung vẫn phóng ầm ầm, lúc đó nài ngựa sẽ ghì cương cho nó chạy chậm lại. Theo luật của thế giới ngầm, nếu đã nhận độ nhưng không ‘làm tròn trách nhiệm’ sẽ phải bồi thường gấp 3, nếu ‘chống án’ sẽ bị xử theo luật giang hồ!

Nạn cá lậu hiện chiếm 2/3 doanh số cá cược ở mỗi độ đua, một mặt gây thất thu ngân sách hoạt động của trường đua, mặt khác gây phức tạp như làm cho các cuộc đua mất đi giá trị đích thực của hoạt động thể thao, gây tâm lý bất ổn cho người làm nhiệm vụ trọng tài, nài ngựa và cả chủ ngựa. Vó ngựa trường đua, đối với những người ham mê cá độ, có sức quyến rũ chẳng khác gì ma túy!

Nài và ngựa trên đường đua

Cờ bạc là bác thằng bần, thế nhưng lời răn đe đó hình như không có tác động nào đối với những người trót mang trong mình dòng máu đỏ đen. Thời nào cũng vậy, hình như cờ bạc là một con đường ngắn nhất để làm giàu đối với một số người. Có điều đó là một con đường của ảo tưởng, của thân bại danh liệt và của thất vọng ê chề…

***

(Trích Hồi Ức Một Đời Người, Chương 4 – Thời quân ngũ)

Hồi Ức Một Đời Người gồm 9 Chương:

  1. Chương 1: Thời thơ ấu (từ Hà Nội vào Đà Lạt)
  2. Chương 2: Thời niên thiếu (Đà Lạt và Ban Mê Thuột)
  3. Chương 3: Thời thanh niên (Sài Gòn)
  4. Chương 4: Thời quân ngũ (Sài Gòn – Giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội)
  5. Chương 5: Thời cải tạo (Trảng Lớn, Trảng Táo, Gia Huynh)
  6. Chương 6: Thời điêu linh (Sài Gòn, Đà Lạt)
  7. Chương 7: Thời mở lòng (những chuyện tình cảm)
  8. Chương 8: Thời mở cửa (Bước vào nghề báo, thập niên 80)
  9. Chương 9: Thời hội nhập (Bút ký những chuyến đi tới 15 quốc gia và lãnh thổ)

Tác giả còn dự tính viết tiếp một Chương cuối cùng sẽ mang tên… Thời xuống lỗ (thập niên 2000 cho đến ngày xuống lỗ)!
 
**********

4 Comments on Multiply

cuuphansinh wrote on Oct 12, '10
Cám ơn tác giả đã công phu cung cấp một cái nhìn tổng quát về Cờ bạc ở VN! Nhưng, nói "đa số người VN..." có quá không! Có lẽ nói "nhiều người VN..." thì đúng hơn?

nguyenngocchinh wrote on Oct 12, '10
cuuphansinh saidNhưng,nói "đa số người VN..." có quá không ! Có lẽ nói " nhiều người VN..." thì đúng hơn?
Có lẽ tôi hơi chủ quan khi viết 'đa số người VN.... Xin đa tạ góp ý của bạn. Have a good day!

nguoigiaonline wrote on Oct 13, '10
nguyenngocchinh saidCó lẽ tôi hơi chủ quan khi viết 'đa số người VN...". Xin đa tạ góp ý của bạn. Have a good day!
Định bảo thế thì có người góp ý thay rồi, hì!
--> Read more..

Popular posts