Hiển thị các bài đăng có nhãn Trường Sinh ngữ Quân đội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trường Sinh ngữ Quân đội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 10 tháng 5, 2025

Kể chuyện 50 năm trước

Lời giới thiệu: Nhân kỷ niệm 50 năm ngày Sài Gòn thất thủ, tôi vừa nhận được một câu chuyện kể về cái chết của Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương. Câu chuyện được kể từ người bạn đồng ngũ, anh Văn Hùng Đốc, khoá 24 Thủ Đức.

Tuy gọi là “bạn đồng ngũ” tại trường Sinh ngữ Quân đội nhưng gần như suốt thời gian tại ngũ anh Đốc “lưu lạc” đến Nha Trang với tư cách là “giảng viên biệt phái” cho Trung tâm Huấn luyện Hải Quân Nha Trang.

Nha Trang là quê nhà của anh Đốc nên trước ngày 30/4/1975 anh vẫn còn giảng dạy tiếng Anh trong bộ quân phục màu xanh của trường SNQĐ giữa những khoá sinh áo trắng trong lực lượng Hải quân ở Nha Trang, nơi ngày xưa thường được gọi với cái tên “miền quê hương cát trắng”.

Trong thời gian tại ngũ ở thành phố biển, anh Đốc có dịp quen biết với đại uý Hà Ngọc Lương, khi đó còn là tiểu đoàn trưởng khoá sinh của trường. Suốt cuộc đời binh nghiệp cho đến chức Trung tá Trưởng phòng Văn hóa vụ, anh đã chứng tỏ minh là một cấp chỉ huy xuất sắc.

Những ngày tàn cuộc chiến đã cho thấy số mạng anh Hà Ngọc Lương lại đi đến một thảm kịch bất ngờ qua phần cuối của câu chuyện. Mời các bạn cùng đọc.

 

Cấp bậc cuối cùng của anh Văn Hồng Đốc tại trường Sinh ngữ Quân đội

 

Chiến tranh Việt-Pháp từ 1946 đến 1954 và Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa từ 1955 đến 1963 chỉ trong khoảng thời gian 8 năm nhưng đã kéo dài dây dưa dai dẳng so với 50 năm từ 1975 đến 2025 tưởng chừng như chỉ cùng thời gian 2 chế độ trên.

Chúng ta kẻ trước người sau đã lần lượt sống xa quê hương gần hoặc trên nửa đời người kể từ ngày Việt Nam Cộng Hòa bị người bạn đồng minh bỏ rơi để trao cả miền Nam cho Cộng Sản. Dù đang sống ở trong hay ngoài nước, mọi người Việt đều đau lòng nghĩ đến những tang thương mất mát sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975.

Là nhân chứng sống trong cuộc di tản cuối cùng khỏi Nha Trang của Quân Đoàn II, tôi muốn ghi lại đây những gì đã xẩy ra trong đêm 31-3-1975.

Tôi thuộc khóa 24 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức dưới 2 đời Chuẩn Tướng Lâm Quang Thơ và Bùi Hữu Nhơn 1966-1967. Khóa 24 may mắn không phải qua giai đoạn I tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung như đa số các khóa trước mà đi thẳng vào Thủ Đức.

Một điểm đặc biệt nữa là dù chưa gắn Alpha, khóa chúng tôi vẫn được lần đầu tiên mặc thường phục đi phép. Thời gian còn đang trong giai đoạn I, sinh viên nào khá Anh Ngữ muốn về Trường Sinh Ngữ Quân Đội thì ghi danh dự thi. Tôi may mắn cùng 12 SVSQ khác được chọn, nhưng vẫn phải tiếp tục thụ huấn cho đến ngày mãn khóa.

Trường Sinh Ngữ Quân Đội Quân Lực VNCH là nơi quân nhân được các đơn vị gửi đến để trau dồi Anh Ngữ trước khi xuất ngoại du học về các ngành chuyên môn, khác với Trường Văn Hóa Quân Đội dạy đủ các môn như 1 trường Trung Học tư thục hay công lập.

Trường Sinh Ngữ Quân Đội nằm đối diện trung tâm tiếp huyết của Tổng Y Viện Cộng Hòa. Trường chỉ có một chi nhánh duy nhất nằm trong Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang. Tôi được biệt phái về đây vào năm 1967, sau khi khóa 16 SVSQ Hải Quân vừa ra trường.

Đây là điều may mắn cho tôi vì được phục vụ ngay tại quê nhà. Làm việc chung với áo trắng truyền thống Hải Quân, nhưng 5 sĩ quan giảng viên Anh ngữ chúng tôi vẫn mặc quân phục Lục Quân.

Tôi cùng với đồng nghiệp Nguyễn Văn Minh là 2 sĩ quan giảng viên lâu năm nhất thuộc Chi Nhánh Anh ngữ tại Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang. Cá nhân tôi bắt đầu dạy Anh văn cho SVSQ Hải Quân năm thứ 2 khóa 17 đến khóa 26 là khóa cuối cùng. Tôi chỉ gián đoạn 2 lần đi tu nghiệp sư phạm tại Hoa Kỳ.

Ngày về nước tôi vẫn tiếp tục phục vụ tại TTHL HQNT qua 4 đời Chỉ Huy Trưởng: HQ: Đại Tá Đinh Mạnh Hùng, HQ Đại Tá Khương Hữu Bá, HQ Đại Tá Nguyễn Trọng Hiệp (phu quân ca sĩ Kim Tước) và Phó Đề Đốc Nguyễn Thanh Châu.

Tài liệu giảng dạy dựa vào các sách giáo khoa American Language Course (ALC) tập 1100-1400 và 2100-2400 của Viện Ngữ Học Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cùng với tài liệu do giảng viên Việt Mỹ thuộc Chi Nhánh phối hợp soạn thảo liên quan đến từ ngữ Hải quân (naval terminology).

Bây giờ xin được đề cập đến nhân vật chính trong bài viết này: Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương.

Tôi chào hỏi và quen biết Trung Tá Hà Ngọc Lương khi Trung Tá còn là Đại Úy làm Tiểu Đoàn Trưởng Sinh Viên Sỹ Quan trong buổi tiệc mừng năm thứ II của khóa SVSQ 17. Trung Tá Lương là người văn võ song toàn. Trong thời gian thụ huấn khóa 9 tại Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang, SVSQ Hà Ngọc Lương đều đạt điểm cao nhất trong cả 3 giai đoạn Alfa, Chuẩn úy đến tốt nghiệp. Ngày mãn khóa, SVSQ Thủ Khoa Hà Ngọc Lương vinh dự được Tổng Thống Ngô Đình Diệm đích thân gắn cấp bậc Thiếu Úy và trao kiếm danh dự.

 

Thủ khoa Trần Ngọc Lương được Tổng Thống Ngô Đình Diệm đích thân gắn cấp bậc Thiếu Úy và trao kiếm danh dự

 

Trong suốt cuộc đời Hải nghiệp đạt đến cấp bậc Trung Tá, Hà Ngọc Lương đều chứng tỏ một Hạm Trưởng tài ba, một cấp chỉ huy xuất sắc. Trong thời gian làm việc chung với Trung Tá, cá nhân tôi rất quý mến qua tính tình hòa nhã thân thiện, không phân biệt cao thấp, Hải Quân hay Lục Quân.

Sáng thứ Hai ngày 31-3-1975, sau khi chào cờ như thường lệ, tôi rảo bước ra trước Trung Tâm vì thấy chiếc hạm HQ-402 đang ủi bãi ngay trước tượng Đức Trần Hưng Đạo. Tôi được vài sinh viên khóa 26 đang cầm súng đứng bao quanh miệng tàu cho biết là tàu này chỉ dành cho gia đình quân nhân cơ hữu của Trung Tâm.

Ngay khi đó tôi thấy một đại úy Bộ Binh đang muốn lên tàu, tôi bảo sinh viên và không do dự, vị Đại úy được đưa lên tàu. Đây là Đại Úy Vũ Công Liêm, Chủ Tịch Hội Việt Mỹ tại Nha Trang. Đại Úy có mở các lớp Anh ngữ đàm thoại đêm cho giới doanh nhân trong thành phố và tôi được mời dạy tại đây.

Tôi trở lại Văn Phòng Anh Ngữ nhưng thấy tình hình quá sôi sục nên về nhà ở trong chợ Đồng Nai. Nhà vắng tanh vì trước đó một tháng vợ và 3 con tôi đã bay vào Sàigòn. Tôi khóa cửa cẩn thận rồi trở lại Trung Tâm theo lệnh của Đề Đốc Nguyễn Thanh Châu để chuẩn bị cho cuộc di tản cuối cùng.

Nha Trang hôm nay chỉ còn có 2 ông Tướng là Nguyễn Ngọc Oánh bên Không Quân và Nguyễn Thanh Châu bên Hải Quân. Tỉnh trưởng Khánh Hòa Lý Bá Phẩm đã rời Nha Trang vào buổi sáng. Tội phạm trong cả 2 quân lao và dân lao đã đổ xô ra phố bắt đầu đột nhập vào những tiệm đang cửa đóng then cài của người Việt và cơ sở các cố vấn Mỹ nhằm hôi của.

Tại Trung Tâm HLHQ, tôi hay tin Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương đang là Trưởng Phòng Văn Hóa Vụ được Tướng Châu chỉ định làm sĩ quan hành quân cho cuộc di tản nên tôi nóng lòng 3 lần ghé qua văn phòng dò hỏi tin tức. Tôi thấy vợ con cùng Trung Tá đang ngồi trong phòng. Lần nào tôi cũng nghe chị Duyên cằn nhằn cau có khó chịu với Trung Tá Lương. Câu chị thường lập đi lập lại mà tôi nghe rõ nhất: "Anh làm Trung Tá mà không có chỗ cho vớ con".

Thật sự tôi không quan tâm về số con mà chỉ để ý đến vợ Trung Tá Lương là chị Duyên. Tôi có trương mục với ngân hàng Việt Nam Thương Tín tại ngã 3 Công Quán và Yersin Nha Trang nên thỉnh thoảng ghé qua nhưng không lần nào may mắn trực tiếp giao dịch với chị.

Vào khoảng 10 giờ đêm thì lệnh được ban ra và tất cả quân xa đồng lăn bánh trực chỉ Cầu Đá. Tôi cùng Đại Úy Nguyễn Văn Minh ngồi chung xe Jeep do Trung Tá Chỉ Huy Phó TTHLHQ Nguyễn Nam Thanh lái vì lúc bấy giờ anh tài xế chính là Tô Thừa quyết định không cùng di tản (*).

Cầu Đá lúc này như một bãi chiến trường vì súng ống từ các chiến hạm trước đã vứt bỏ lại. Tàu thì đậu cách cảng có đến 1 mét có lẽ nhằm gây khó cho thường dân đang chen nhau lên tàu. Ngay cả Đại úy Minh và Thiếu Tá Trưởng Phòng Kỷ Thuật Phan Như Hoàng đã rơi xuống nước. Nhưng như chuyện Ngư Ông Thất Mã, trong rủi có hên nên cả hai vị này được Đề Đốc Châu cho đi cùng xe Jeep lên phi trường bay về Sài Gòn trước.

Sau một đêm hải hành, tàu chúng tôi may mắn được Bộ Tổng Tham Mưu cho phép ủi bãi tại Cát Lái trong khi hầu hết các tàu khác phải đi thẳng ra Phú Quốc để tránh hỗn loạn trong thủ đô quá đông người.

Chúng tôi vào trình diện Trung Tá Trịnh Đình Phi, Chỉ Huy Trưởng Trường Sinh Ngữ Quân Đội, và thật may mắn được Trung Tá cho tại ngoại, coi như mất tích ở ngoài Trung (mising in action). Nhờ vậy mà tôi cùng gia đình được người bạn đồng nghiệp là Nguyễn Hữu Hoàng đã giải ngũ và làm việc cho Cố Vấn Mỹ ở Tân Cảng đưa lên chiếc thương thuyền của Mỹ chạy sang Subic Bay Phi Luật Tân đêm 24-4-1975. Viết đến đây tôi bùi ngùi thương tiếc người bạn tốt đã đưa gia đình tôi đến bến bờ tự do, nhưng đã không còn trên cõi đời này nữa vì anh đã vĩnh viễn ra đi ngày 15-3-2024.

 

Những ngày đầu của gia đình anh Đôc tại thành phố San Dimas, Los Angeles, vài tháng sau khi ra khỏi trại tỵ nạn Pendleton gần San Diego năm 1975

 

Bây giờ trở lại chuyện HQ Trung Tá Hà Ngọc Lương. Vì tất cả quân xa đều chật cứng quân nhân lẫn gia đình còn sót lại trong chuyến ra đi buổi sáng, trong lúc Trung Tá Lương không có xe Jeep dành riêng cho Trưởng Phòng Văn Hóa Vụ nên tôi không rõ gia đình Trung Tá Lương có đi được hay không. Mãi đến khi tôi ghé thăm quân nhân TTHLHQ đang tạm đồn trú tại trại Yên Thế trước bệnh viện Grall Sài Gòn thì mới biết cả gia đình Trung Tá bị kẹt lại.

Theo chị Nguyễn Thị Lý với bút hiệu Nguyễn Thị Thể Lý là phu nhân Hải Quân Thiếu Tá Hà Tấn Thể thì sáng ngày 1-4-1975 chị còn gặp và nói chuyện với vợ chồng Trung Tá Lương tại cư xá Hải Quân trên đường Lê Văn Duyệt Nha Trang.

Chắc chắn đây là một sự nhầm lẫn giữa 31-3 và 1-4. Tôi có điện đàm với đại úy Nguyễn Tạo là Chánh Văn Phòng của Phó Đề Đốc Nguyễn Thanh Châu đang định cư tại Houston Texas, một nhân chứng sống ngoài tôi để nêu ra mấy điểm dưới đây: 

- Đêm 31-3-1975 theo lệnh của Phó Đề Đốc Nguyễn Thanh Châu tất cả sĩ quan và gia đình trong cư xá phải di tản, ngoại trừ vài gia đình không muốn ra đi.

- Trung Tá Lương cũng mang vợ con xuống ngồi đợi trong văn phòng.

- Vì tất cả quân xa đều chất đầy quân nhân cùng gia đình chưa đi kịp vào chuyến tàu sáng, nên Trung Tá không không có cách nào hơn là bắt vợ con tiếp tục ngồi đợi.

- Tìm đâu có phương tiện để Trung Tá Lương đưa vợ con về lại cư xá?

- Nếu sáng 1-4 Trung Tá còn ở cư xá thì bằng cách nào và tại sao lại đưa vợ con trở lại văn phòng để cùng quyên sinh?

Vậy là không có cơ sở để nghi ngờ việc chính đêm 31/3/1975 Trung Tá Lương đã bắn vợ con rồi tự sát mặc dù Việt Cộng mãi đến 2/4/1975 mới vào thành phố Nha Trang

Tôi có tham dự buổi lễ cầu siêu cho Trung Tá Hà Ngọc Lương do phu nhân cựu Hải Quân Trung Tá Mai Văn Hoa cùng Hội Hải Quân Cửu Long tổ chức tại chùa Bát Nhã thành phố Santa Ana, Nam California vào sáng Chủ Nhật 29-3-2015.

Trong phần phát biểu, Trung úy Vũ Kim Thanh nói: “…HQ Trung Tá Hà Ngọc Lương không muốn rơi vào tay giặc…”. Trong cuốn “Hải-Quân Việt-Nam Cộng-Hòa Ra Khơi 1975”, tác giả Điệp-Mỹ-Linh đã không ghi tên HQ Trung Tá Hà Ngọc Lương trong số “Những Anh Hùng Hải Quân Tuẩn Tiết” như HQ Thiếu Tá Lê Anh Tuấn tự sát sau khi TT Dương Văn Minh ra lệnh buông súng ngày 30-4-1975 do Trung Tá Hà Ngọc Lương không ở trong trường hợp tự sát vì không muốn để giặc bắt.

Thoạt nghe hung tin về việc Trung Tá Lương tự tử, tôi nhớ ngay đến lời chị Lương phàn nàn “Anh là Trung Tá mà không có chỗ cho vợ con”. Trong tình thế cấp bách phải ra đi gấp mà vợ thì liên tục cằn nhằn nhăn nhó khiến Trung Tá Lương rơi vào tình thế tâm thần bị kích động dồn nén đã phải giải quyết bế tắc bằng cách bắn vợ con rồi tự kết liễu đời mình.

Xin được kể thêm một trường hợp nữa để tăng cường nhận xét của mình: vào khoảng 1961-1962 thời còn là sinh viên, trong nhóm bạn quen nhau ăn cơm tháng tại nhà số 37 đường Nguyễn Trãi gần Tổng Nha Cảnh Sát Đô Thành, tôi có anh bạn sau gia nhập Hải Quân, còn tôi làm việc cho cố vấn quân sự Mỹ. Trước khi Việt Cộng chiếm Sài Gòn năm 1975 cả 2 chúng tôi may mắn ra đi dễ dàng. Anh định cư ở miền Đông, tôi ở Nam Cali. Vài năm sau tôi được hung tin anh đã chọn cái chểt bằng cách nhảy ra khỏi xe trên xa lộ sau khi cãi nhau với vợ. Những người chồng ít học thường vũ phu với vợ. Trong khi giới trí thức thường dùng cái chết để giải quyết vấn đề. Một sự trùng hợp coi như định mệnh cho cả hai vị Trung Tá Hải Quân.

Tóm lại, Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương đã không chịu nỗi cảnh bị vợ liên tiếp cằn nhằn trách móc nên bứt chí đưa đến quyết định bắn cả vợ con và tự tử đêm 31-3-1975.

Nhân kỷ niệm 50 năm đêm tang thương xẩy ra tại Văn phòng Văn Hóa Vụ Trung Tâm Huân Luyện Hải Quân Nha Trang, xin được thắp nén hương lòng thương tiếc gia đình cựu Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương.

 

Các cựu giảng viên TSNQĐ: Văn Hồng Đốc, Phạm Gia Đoàn, Nguyễn Ngọc Chính, Phan Thông Tràng hội ngộ tại Sài Gòn

 

***

 

(*) Trung sỹ Tô Thừa đã rời xe Jeep của Chỉ Huy Phó Nguyễn Nam Thanh rồi quyết định ở lại chứ không di tản cùng đồng đội về Sài Gòn. Nhờ vậy Trung sỹ Thừa mới có cơ hội tạm chôn gia đình Trung Tá Lương trên bãi cát trước Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang theo như tường thuật của chị Nguyễn Thị Thể Lý.

 

Văn Hùng Đốc

Khóa 24 Thủ Đức

 

***
--> Read more..

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2024

“Những vấp ngã của tuổi già!”… hồi thứ hai

Tôi post bài viết “Những vấp ngã của tuổi già!” trên Facebook ngày 16/3/2024 và đã được hơn 300 bạn vào đọc. Đó là một con số đáng kể đối với tôi, một người có tương đối ít friends vì quả thật số bạn của tôi trên Facebook không nhiều.

Thật không ngờ, bài viết này lại vừa xuất hiện trên email của các đồng nghiệp ngày xưa tại trường Sinh ngữ Quân đội do anh KK tung lên (đúng ra là viết nguyên tên nhưng vì lý do tế nhị nên tôi đành viết tắt là KK).

Một số anh em khác như ĐV, GN, KĐ góp phần bình luận. Xin ghi lại để các bạn tiện theo dõi sau khi anh KK có vài dòng giới thiệu như sau:

“Các Bạn Cựu Giảng Viên Trường Sinh Ngữ Quân Đội thân mến,

“Các Bạn đọc bài này, của người bạn đồng nghiệp NNC, cựu Giảng Viên Trường Sinh Ngữ Quân Đội, của chúng ta chưa?


Người đầu tiên góp ý là anh DV ở Hoa Kỳ với những lời lẽ như sau:

“Cảm ơn bạn K. đã cho đọc bài viết của đồng nghiệp NNC.

"C. mới 78, tôi đã 85, KK đến 87. Không biết ai trong chúng ta sẽ lên chuyến tàu chót. Nhưng còn sống thì cứ cố mà sống … để xem thế sự thăng trầm ra sao”.



Trụ sở chính của trường SNQĐ trong Bộ Tổng tham mưu (1970)



Anh NLG ở Úc có lời khen khiến người viết bài phải… phổng mũi:

“C. ơi,

“Bạn là người chồng chung thủy, người cha mẫu mực. Các con của bạn hẳn rất hãnh diện khi có được một đấng sinh thành như bạn.


Vốn tính tiếu lâm, lúc nào cũng pha trò, anh ĐVK… “thả bom”:

“Lo con bò chắng giăng làm gì các thầy ơi. Ông í nói thế chứ còn khỏe chán, chỉ có cái diet kỹ quá nên nhẹ cân thôi. Còn cafe Sơn, còn bánh mì Thúy là còn NNC. Sáng nào cũng cười toe với mấy cô phục vụ. Có một cô tên Vy.

“Tui xạo cho tui chết liền đi. Các thầy hỏi ông í xem có phải không?



Toàn cảnh của trường SNQĐ mới tại Tân Sơn Nhất. Tòa nhà bên phải là các lớp học dành cho quân nhân.


Cuối cùng, anh KK “bồi” tiếp với bằng cả một đoạn văn thơ dài lê thê:

“Các bạn thân thương Đ., K., G. ơi,

“Mừng quá, chỉ có dịp tung ra theo kiểu “Je sème à tout vent” của tự điển Le Petit Larousse, bài viết “Những Vấp Ngã Của Tuổi Già” của “CNN” NNC nhà mình, mà được các bạn Đ., K., “G. ở mãi tận “Miệt Dưới - The Down Under” Australia, Nam Bán Cầu, tạm bỏ ra vài phút đang “hibernating” trong mùa đông và tuổi già, để hồi đáp, chứng tỏ các bạn còn khỏe mạnh, vẫn “manger, jouer” bình thường, và như bạn Đ. lẩy thơ Cao Bá Quát: “sống để xem thế sự thăng trầm” ra sao, và bạn K. cho câu kết, kiểu Cao Bá Quát: “Lo chi cho mệt một đời” trong bài “Tiêu Sầu Tửu.”

“Bạn Đ. nói đúng, đa số chúng ta đã may mắn thọ vượt qúa cái tuổi “Thất thập cổ lai hi” ngày xưa, “không biết ai sẽ lên chuyến tàu chót trước?” Nói theo nhà văn Hoàng Hải Thủy thì:

“Chưa biết thẳng nào trước với sau,

Thẳng nào đi trước, thằng nào sau.

Đi sau đi trước cùng đi cả,


“Sau hay trước cũng đi tàu suốt

Đã không tránh được đi sau trước,

Cần quái gì lo chuyện trước sau!”



Huy hiệu Trường SNQĐ


“Ở cái tuổi hoàng hôn “gần đất xa trời” của chúng ta, thì như bài thơ của Mặc Thu:


“Sân ga một đám đứng chờ tàu,

Toàn bạn già xưa biết mặt nhau,

Tàu chật có người lên được trước,

Chậm chân, kẻ đợi chuyến tàu sau,


“Một đi là chẳng quay đầu lại,

Áo trắng trên người phủ kín thân

Ra đi giống thuở ai vừa đến,

Tàu suốt trăm năm chỉ một lần.


“Sân ga thấp thoáng bóng người già,

Họ sẵn sàng về cõi thật xa

Hình như trong đám trông chờ ấy

Có bạn thân tình, có cả ta”


Thanks Giving Party của cựu giảng viên tại Mỹ (2015)


“Thôi thi, cám ơn Trời-Phật- Chúa, đã cho chúng ta sống đến cái tuổi “già khú đế” này, chúng ta nên biết ơn, ngồi rung đùi ngâm nga, hai câu thơ của Bùi Giáng:


“Ta cứ ngỡ xuống Trần Gian chơi chốc lát,

Nào ngờ ở mãi tận hôm nay!”


… miễn sao tinh thần và thân xác còn minh mẫn và khỏe mạnh, như câu ngạn ngữ La Tinh: “Mens sana in corpore sano - A sound mind in a sound body,” và đừng bị biến thái như những câu thơ nhái thi sĩ Bùi Giáng sau đây:


“Ta cứ ngỡ xuống trần gian chơi một chập,

Nào ngờ… bầm dập đến hôm nay!”


“Ta cứ ngỡ xuống trần gian chơi chốc lát,

Nào ngờ… bi đát đến hôm nay!”


“Ta cứ ngỡ xuống trần gian chơi một chốc,

Nào ngờ… lăn lóc đến hôm nay!”


“Ta cứ ngỡ xuống trần gian chơi một đỗi,

Nào ngờ ra… nông nỗi đến hôm nay,”


… và cho các anh “Dziệt Kiều… trâu già ham gặm cỏ non” dzìa Dziệt Nam cưới dzợ trẻ:


“Ta cứ ngỡ xuống trẩn gian chơi một tí,

Nào ngờ… bồ nhí trói ta luôn!”


Họp mặt cựu giảng viên tại Việt Nam (2015)


Tôi vốn bản tính “kiệm lời” nhưng cũng phải tham gia “diễn đàn” của các “bô lão” với những lời như sau:

“Cùng các bạn đồng nghiệp ngày xưa,

“Trước hết, xin cám ơn các bạn về những dòng "tâm sự... lòng thòng" sau khi đọc những vấp ngã của tuổi già... Thật ra chữ "vấp ngã" tôi dùng trong bài viết chỉ mới... "một chiều". Đó là những vấp ngã "vật lý"... còn những vấp ngã "tâm lý" đã bị "cố tình" không nói đến vì ngại "vạch áo cho người xem lưng". Vấp ngã đó đã bị bỏ qua vì nó… trần trụi quá!!!

"Thôi thì cũng đành "tạm dấu" vì bây giờ lúc này đồng hồ đã chỉ 6:36... đã quá giờ đi bộ ra cà phê sáng một mình. Hẹn các bạn vào một dịp khác sẽ tâm sự nhiều hơn về những "vấp ngã tâm lý của tuồi già"!

"Thân,



Chuẩn úy NNC mới về trường (1969)


Không biết đến bao giờ tôi mới dám viết về những vấp ngã tâm lý hay chỉ biết ôm những vấp ngã đó để lên chuyến tàu suốt trăm năm mới có một lần… “Aller sans Retour”?


* Xem thêm “Aller sans Retour” do ca sĩ Juliette trình bày tại:
https://www.youtube.com/watch?v=7CVk4rcDXjQ


* Tham khảo thêm “Những vấp ngã của tuổi già!” tại:
https://chinhhoiuc.blogspot.com/2024/03/nhung-vap-nga-cua-tuoi-gia.html


***
--> Read more..

Thứ Ba, 2 tháng 5, 2023

Đồng đội Đinh Công Liêu


Tháng 3/2017, tôi có một bài viết lấy tên “Một bất ngờ mang tên… Định Quán”, kể lại chuyện đi thăm một cựu Giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội về “ở ẩn” tại Định Quán.

Anh tên Đinh Công Liêu, cấp bậc trước khi “tan hàng” là Thiếu úy. Thật ra thì anh Liêu lớn tuổi hơn tôi nhưng vì có lẽ “được gọi nhập ngũ muộn” cho nên tính đến ngày 30/4/1975 anh mới chỉ mang “một bông mai trên cổ áo”!

Năm 2017, nhân có một bạn đồng nghiệp tên Đỗ Văn Kiên từ Hoa Kỳ về Việt Nam nên chúng tôi quyết định về Định Quán thăm anh Đinh Công Liêu, một trong số ít những giảng viên còn ở lại tại Việt Nam.

***

Dưới đây là bài viết “Một bất ngờ mang tên… Định Quán” (2017):

Chỉ với một địa chỉ ở ấp Tân Lập, xã Phú Túc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai… (không số điện thoại và cũng không địa chỉ email)… tôi và một người bạn đã tìm ra nhà của một cựu giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội.

Sau khi đã tham khảo thêm từ một người bạn đã từng ở Định Quán, chúng tôi được bết thêm chi tiết: ấp Tân Lập ở gần chùa Hưng Túc nằm trên Quốc lộ 20 trên đường đi Đà Lạt. Thế là chúng tôi lên đường tìm anh Đinh Công Liêu. Định Quán chỉ cách Sài Gòn khoảng 110km nhưng cái khó là địa chỉ không thể cung cấp chính xác nơi mình muốn đến.

“Đường đi nằm nơi cửa miệng” nên chúng tôi trực chỉ ngôi chùa, sau đó hỏi thăm và được biết sẽ phải đi khoảng 1 km đường đất nữa. Liên tục hỏi thăm và cũng có người biết chính xác tên ông thầy dậy Anh văn. Và cuối cùng, “điều bất ngờ mang tên Định Quán” đã xảy ra.

Chúng tôi sau hơn 40 năm xa cách đã gặp lại nhau. Không những thế, cả một tập thể cựu giảng viên ở nước ngoài cũng như trong nước đã có cơ hội nối lại liên lạc đã từng bị gián đoạn sau một thời gian dài.

 

2027 - Anh Đinh Công Liêu và huy hiệu Trường Sinh ngữ Quân đội

 

Anh Liêu chỉ có chiếc điện thoại “cùi bắp” nhưng thế cũng đủ để hàn huyên với các bạn cũ rồi. Chỗ anh ở xa vùng phủ sóng internet nên không có email. Nhà anh tuy nhỏ nhưng đất rộng mênh mông giữa không gian yên tĩnh, khác hẳn Sài Gòn ồn ào, náo nhiệt.

Những người làm sách “Hồi Ức Sài Gòn” tìm đến anh để thực hiện phương châm đã đề ra: giúp đỡ bạn bè trong hoàn cảnh khó khăn. Niềm vui của anh Liêu cộng với tâm niệm của chúng tôi đã thành một bất ngờ. Tạm gọi đó là “Bất ngờ mang tên… Định Quán”.

 

2017 - Quà của những người làm sách “Hồi Ức Sài Gòn”

 

2017 – Anh Đỗ Văn Kiên trao quà Huy hiệu Trường Sinh ngữ Quân đội

 

2027 - Tấm hình chụp ba đồng đội tại nhà anh Định Công Liêu 

***

Chuyện đã xảy ra 6 năm về trước, tưởng đã chìm dần vào dĩ vãng nào ngờ mới đây lại có anh Văn Hồng Đốc (cấp bậc Đại úy mà chúng tôi trong trường thường gọi đùa là “Đại tướng Văn”) về thăm quê.

Anh Đốc cũng có ý định đến thăm anh Liêu còn tôi nay cũng đã “già lụ khụ” nên đành ngồi nhà. Các bạn sẽ nhìn thấy 2 nhóm hình chụp năm 2017 và 2023 khác hẳn nhau xa, một trời một vực.

 

2023 - Anh Đinh Công Liêu và anh Văn Hồng Đốc

 

2023 - Đồng đội bên nhau sau 48 năm xa cách

 

2023 - Hội ngộ tại Định Quán

 

2023 - Vẫn còn đó… những nụ cưới!

 

Ai có thể níu kéo được bước chân lạnh lùng, tàn nhẫn của thời gian?

Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn có thể giữ lại được “tình đồng đội” thiêng liêng của những… “ngày xưa thân ái”!


*** 

--> Read more..

Thứ Năm, 26 tháng 11, 2020

Quyết định để đời!

Có những quyết định chỉ trong khoảnh khắc có thể làm thay đổi cả một cuộc đời. Vấn đề là: (1) quyết định đó có được thực hiện hay không; (2) quyết định đó sẽ làm thay đổi cuộc đời theo chiều hướng “Tốt” hay “Xấu”?

Bây giờ về già tôi bỗng nghĩ về những quyết định mà hồi còn trẻ mình đã phải suy nghĩ, đắn đo. Thật ra thì tuổi thanh niên chúng ta có một chuỗi quyết định có hậu qủa đến hiện tại. Mình sẽ theo nghề nào? Mình sẽ cưới một người bạn đời ra sao? Vân vân và vân vân…

Những thắc mắc cứ liên tục đến trong đầu một thanh niên tràn trề nhựa sống nhưng có điều chỉ đến khi về già mới có thể bình thản kết luận là những quyết định đó “Đúng” hay “Sai”. Cũng chỉ đợi đến lúc đã lớn tuổi mới có thể kiểm chứng hậu quả của những quyết định của tuổi trẻ.

Ngày 30/4/1975, dân Miền Nam nói chung và người Sài Gòn nói triêng, ai cũng tự đặt cho mình câu hỏi quyết định: “Ra đi?” hay “Ở lại?”. Câu trả lời còn tùy thuộc và hoàn cảnh của mỗi người. Riêng tôi có lẽ là một trường hợp đặc biệt và cũng chính vì thế câu hỏi “Đi” hay “Ở” là cả một vấn đề nan giải.

 

Sài Gòn hoang mang trước ngày 30/4/75

 

Cuối năm 1973 tôi vừa từ Mỹ về sau một thời gian tu nghiệp và chỉ ít lâu sau là biến cố Sài Gòn thất thủ. Lúc đó, trong đầu óc của một thanh niên đã dứt khoát, hoàn toàn không có ý tưởng ra đi. Làm sao có thể hòa nhập vào một xã hội quá văn minh trong khi mình vẫn mang cái gốc của một quốc gia… chậm tiến?

Ngày 29/4/1975 tôi từ Lăng Cha Cả chạy về Bệnh viện Sài Gòn, đối diện với chợ Bến Thành, trên một chiếc Honda 67 có chở theo bà xã và có thêm tới… 4 con còn nhỏ. Đứa nhỏ nhất chỉ mới 2 tháng tuổi, hãy còn ẵm ngửa!

Bây giờ ngồi nghĩ lại vẫn không thể tưởng tượng làm sao một chiếc xe máy lại có thể chịu được đến 6 mạng người?

 

Bịnh viện Sài Gòn

 

Khu nhà thờ Tân Sa Châu nằm ngay bên cạnh phi trường Tân Sơn Nhất, nơi chịu nhiều cuộc pháo kích liên tục của bộ đội Bắc Việt trong những ngày tàn cuộc chiến. Lý do hoàn toàn hợp lý là tạm trú tại bệnh viện trung tâm Sài Gòn, nơi bà xã đang làm việc.

Tạm ổn cho gia đình nên mới nghĩ đến bản thân mình. Không lý nào một sĩ quan cũng vào “tỵ nạn” trong bệnh viện?

Khi đó, dù vẫn mang huy hiệu của Trường Sinh ngữ Quân đội, nhưng tôi đã biệt phái về Tổng cục Quân huấn trong Tổng Tham Mưu để thành lập Ban Tu thư & Dịch Thuật, chuyên dịch binh thư từ tiếng Anh sang tiếng Việt.

Thế là tôi từ Bệnh Viện Sài Gòn vào Tổng Tham Mưu vì nghĩ rằng đây là nơi an toàn nhất vì được bảo vệ nghiêm ngặt. Các bạn đồng sự, đa số là sĩ quan biệt phái từ trường sinh ngữ, cũng tề tựu “ứng chiến” tại đây với một tâm trạng hoang mang trước tình hình chiến sự.

Mang tiếng là “quan văn” nhưng chúng tôi cũng được trang bị nón sắt và súng carbine M1, cũng có bunker phòng thủ được đào quanh khu vực phòng khi bị pháo kích. Đêm hôm đó, tiếng trực thăng lên xuống liên tục để bốc người di tản từ cơ quan DAO (Defence Attache Office) nằm gần đó.

Giữ DAO và khu vực Tổng Tham Mưu chỉ cách nhau một hàng rào giây kẽm gai và có một vài quân cảnh đứng gác. Chỉ cần vượt qua hàng rào này là có thể nhập vào những người di tản đang chờ lên trực thăng.

Một ý nghĩ thoáng qua, tại sao mình không nhập vào những người di tản để thoát khỏi Sài Gòn? Quân cảnh gác hàng rào rất dễ dãi, họ sẵn sàng để cho những sĩ quan muốn vào bãi trực thăng, với điều kiện phải tháo bỏ lon đeo trên cổ áo.

 

Cảnh di tản tại Tòa đại sứ Mỹ

 

Sau vài phút chứng kiến cảnh “vượt biên qua hàng rào” tôi quay về doanh trại của Ban Dịch Thuật vì quyết định sẽ không làm như những người khác.

Cũng vì thế, lúc 10g sáng ngày 30/4 tôi rời khỏi Tổng Tham Mưu trong bộ đồ dân sự. Khi đó trời mưa phùn như thể khóc cho cái ngày mà sau này người ta gọi là “giải phóng”!

 

Giải phóng”

 

Có rất nhiều lý do để biện minh cho quyết định đó. Tôi không thể di tản khi vợ con còn ở lại tại Bệnh Viện Sài Gòn. Tôi không đi Mỹ vì đã từng sống những ngày học tập trên đất khách quê người!

Tôi hoàn toàn không nghĩ đến việc những người di tản được hưởng chính sách “đãi ngộ” của Chính phủ Mỹ để chuộc lại “sai lầm” khi rời khỏi Việt Nam vào lúc bàn cờ thế giới đã thay đổi. Đã từng là một người du học nên tôi nghĩ cuộc sống tại Mỹ sẽ rất nhiều khó khăn khi phải bước từ xã hội Việt Nam sang… “Giấc mơ Mỹ”.

 

Cảnh di tản bằng đường biển

 

Và với rất nhiều lý do khác nữa, tôi đã đi đến một “quyết định để đời” cùng gia đình ở lại Việt Nam. Bây giờ ngồi nghĩ lại tôi vẫn thấy bài học “Tái ông thất mã” luôn luôn đúng: thịnh hay suy, buồn hay vui, may mắn hay bất hạnh ở đời này lúc nào cũng liên tục xảy ra.

Hôm nay vui nhưng ngày mai lại buồn... vẫn cứ thế mà tiếp diễn. Giữ được sự dửng dưng với cuộc đời sẽ đem lại cho ta sự thoải mái về tâm hồn cho đến ngày ta… từ giã cõi đời!

Không nên nuối tiếc về những quyết định đã qua, dù đó là… “một quyết định để đời”!

***  

--> Read more..

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2020

Gặp gỡ đồng nghiệp từ Canada

Có những cuộc hội ngộ thật bất ngờ khi tuổi tác ngày một cao và cũng là khi khoảng cách địa lý thật xa xôi, diệu vợi. Cuộc hội ngộ của 3 người bạn đồng ngũ và cũng là đồng nghiệp tại trường Sinh ngữ Quân đội diễn ra vào sáng nay 22/9/2020.

Nguyễn Công Sang gặp lại tôi sau gần nửa thế kỷ dù bạn đã về Việt Nam đến hơn 10 lần nhưng mãi đến hôm nay mới có dịp hội ngộ, cũng chỉ vì cái tính “khép kín” cố hữu. Thật ra lần này bạn đã về từ tháng 12 năm ngoái nhưng vẫn còn ở lại vì dịch Covid sau nhiều lần xin gia hạn visa. 

Nguyễn Công Sang

Điều quý hơn nữa là chúng tôi cùng khóa 4/68 Thủ Đức, cùng được tuyển thẳng về trường với 4 bạn khác cùng khóa. Năn 1971 trong chuyến du học Lackland, San Antonio, Texas, chúng tôi lại là “room mate” trong suốt 6 tháng xa nhà. Và Sang nhắc lại kỷ niệm có lần tôi đệm đàn cho Sang ghi âm bài “Oui Devant Dieu” để gửi về nhà cho… “người yêu dấu”!

Trong tin nhắn Sang còn dặn thế nào cũng phải mời cho được bạn đồng nghiệp cùng trường là anh Tôn Thất Lan, khóa 24 Thủ Đức, để làm một cuộc hội ngộ “bỏ túi” giữa 3 người. Mọi ngày thì tôi chỉ ngồi “cà phê một mình”… nhưng hôm nay lại có đến 3 người! 

Cà phê… “ba mình”

Huynh trưởng Lan đã bước vào tuổi 80 nên hồi ức về TSNQĐ có đôi phần “lúc nhớ, lúc quên” nhưng hai đứa tôi cố gắng nhắc lại nên anh cũng từ từ tìm lại những “ngày xưa thân ái”. Anh Lan có thời gian dạy tại Chi nhánh Đồng Khánh (Q. 5, dành cho Không Quân) của trường cùng với Sang… trong khi đó tôi lại ở tận Chi nhánh Phan Thanh Giản của Hải Quân! 

Cà phê… “ba mình”

Chúng tôi nay đã già, trí nhớ chưa bị “cái anh Dementia” làm cho phai mờ nhưng cũng may “ông Alzheimer” chưa kịp đến nên vẫn còn một chút “minh mẫn” để có thể nhắc lại chuyện xưa. Sang nhắc lại chuyện những đêm ứng chiến trên cao ốc gần khu Đồng Khánh, anh Lan thường ôm guitar hát những khúc du ca. Nhưng đó là thời gian trước khi Chi nhánh Đồng Khánh bị VC đặt chất nổ khủng bố!

Tôi thì nhớ lại những buổi chiều “check mail” ở Lackland để hy vọng nhận được những cánh thư gửi theo địa chỉ APO (Army Post Office) từ Việt Nam. Thất vọng mỗi khi không có thư nhưng vui nhiều vì nhận được thư nhà. 

“Check mail” với Nguyễn Công Sang, “những ngày xưa thân ái” tại Lackland, 1971

Nhớ những bữa ăn tối, trốn nhà bàn, để cùng nhau nấu món gà theo kiểu Việt Nam mua ở Commisary. Mà bếp tại mỗi barrack chỉ có vài cái nên phải gửi các “sĩ quan đề-lô” đến quan sát tình hình xem có anh “dầu hôi” nào chiếm bếp hay không. Hồi đó Iran còn là “bạn thân” của Mỹ nên số sĩ quan mà chúng tôi gọi là “dầu hôi” cũng khá đông. Iran là xứ sở của dầu hôi nên chết vì cái tên… dầu hôi. 

Nguyễn Công Sang & Nguyễn Ngọc Chính

Anh Lan và Sang hiện mỗi ngày phải uống 3 hay 4 thứ thuốc trị… bệnh già. Còn tôi thì, Thank God, chưa đến nỗi nào! Hai anh đã bỏ thuốc lá còn tôi thì vẫn trung thành với thuốc Capri của British American Tobacco có Menthol.

Tôi nói đùa tên bài hát “Capri, c’est fini” của Hervé Vilard ngày nào. Thế là Sang phụ họa:

“Capri! C'est fini

Je ne crois pas

Que j'y retournerai un jour…” 

Giây phút chia tay

***

 * Mời nghe "Capri, c’est fini!" qua giọng ca của Hervé Villard: https://www.youtube.com/watch?v=qTo1q5mk9io

 *** 

--> Read more..

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2020

Cuộc hội ngộ đồng nghiệp… quốc tế


(23/6/2020)

Hai chữ “quốc tế” tôi dùng trong tựa đề bài viết này có phần hơi quá. Còn “đồng nghiệp” thì lại hơi bị… “khiên cưỡng”. Nhưng thôi, cứ tạm dùng cái tít này để kể lại một cuộc hội ngộ kỳ thú giữa 3 người… đồng nghiệp.

Chúng tôi gặp nhau qua sự sắp xếp của Michael Burr. Chắc các bạn còn nhớ, Mike là người Mỹ và cũng là cựu giảng viên Anh ngữ tại trường Sinh ngữ Quân đội. Anh trở lại sống tại Việt Nam mấy năm gần đây chỉ vì yêu thích nhiếp ảnh. Ngoài thời gian săn ảnh tại xứ Việt, anh còn sang Cao Miên (Kampuchia) để thay đổi đề tài và cũng để gia hạn visa.

Mike nhắn tin có một anh bạn từ New York hiện đang ở chơi Sài Gòn cho đến tháng 9. Anh tên Joseph Bellino, cũng có một thời làm công việc “repeat after me”, có nghĩa là dạy tiếng Anh cho khóa sinh Không quân với bộ sách American English Course.

ALC là bộ sách tiếng Anh dùng để huấn luyện quân nhân người Việt chuẩn bị sang Mỹ để học các ngành chuyên môn. Khóa sinh có thể là những quân nhân được tuyển chọn từ cả 3 binh chủng Hải-Lục-Không quân, chúng tôi dùng bộ sách 8 cuốn này, từ vỡ lòng cho đến trung cấp, để dậy tiếng Anh căn bản trước khi họ lên đường qua Hoa Kỳ học về chuyên môn.

Cả hai đều là bạn của tôi trên Facebook nhưng đây là lần đầu tiên tôi gặp Joe “bằng xương, bằng thịt” ngoài đời. Chúng tôi đều là thế hệ “baby-boomer”, sinh ra sau cuộc chiến tranh thế giới thứ nhì, và đã cũng đã từng mặc áo lính dạy học trong thời chiến tranh Việt Nam nên gọi là “đồng nghiệp” chắc cũng không… nói quá!

Chúng tôi nay đã ngoài 70, Mike còn đội chiếc mũ mang dòng chữ “Vietnam Veteran” để đến với cuộc hội ngộ “bỏ túi”. Cả ba đều có những bộ râu bạc, riêng Mike giờ đã có vẻ “lụ khụ”, yếu hơn một năm về trước, tôi phải đưa tay để đỡ khi anh ngồi xuống ghế.

Ấn tượng đầu tiên khi gặp Joe là anh… mất một chiếc răng cửa nên trông rất… ông già! Sau 2 năm ở Việt Nam, anh trở về Căn cứ Không quân Lackland, San Antonio, Texas. Nơi đây có Defense Language Institute mà tôi đã từng học khóa căn bản giảng viên Anh ngữ năm 1971 và 2 năm sau trở lại với khóa tu nghiệp.

Joe tỏ ra rất khoái khi tôi kể lại tên của một số thầy cô như Eagle, Spence, Hernandez... Anh cho biết cô Eagle và thầy Spence đã qua đời và Hernandez vẫn còn sống! Joe sinh ra ở xứ cao bồi Texas nhưng sau chuyển về New York. Anh nói, “cũng may” khi đến Việt Nam vào mùa đại dịch, nơi còn tương đối yên ổn hơn New York, vừa bị dịch Corona là vừa chịu nạn “Black Lives Matter”!

Tuy dậy cùng trường nhưng hồi cuối thập niên 60 chúng tôi chưa hề quen biết nhau chỉ vì Sinh ngữ Quân đội có rất nhiều chi nhánh để đào tạo đủ các binh chủng và kể cả các lớp “trung sĩ thông dịch viên” cho những quân nhân làm việc cạnh MACV trong thời chiến tranh.

Thế là 3 “ông già” ngồi tâm sự về thời còn trẻ theo nghiệp “repeat after me”. Mike đem theo laptop để cho Joe xem lại những tấm hình của thời các khóa sinh Không quân từ Tent City xếp hàng, đi bộ qua trường Sinh ngữ để học Anh văn. Joe nhiều lúc chăm chú nhìn vào bảng tên khóa sinh, anh nói “biết đâu đó là người quen”.

Mãi đến 12 giờ tôi mới xin phép “rút lui” vì… ngồi lâu quá nên thấy mệt. Mike và Joe còn ngồi lại để tiếp tục cuộc hội ngộ các đồng nghiệp. Thế là chỉ còn hai anh Mỹ ngồi trong quán cà phê ở Sài Gòn để ôn lại những kỷ niệm về Việt Nam.

***

Cuộc hội ngộ giữa Sài Gòn

Ba đồng nghiệp dưới một mái trường ngày ấy

Cựu giảng viên Michael Burr

Cựu giảng viên Joseph Bellino

Cuộc hội ngộ giữa hai cựu chiến binh trên đất nước Việt Nam

Joe chăm chú đọc bản tin của AFLS

Bản tin về sinh hoạt của trường Sinh ngữ Quân đội nhân kỷ niệm Thập tứ chu niên ngày thành lập trường

Những kỷ niệm về Việt Nam mà Mike còn giữ được

Đây là bản đồ Saigon-Cholon mà Mike nua tại PX với giá 26 cents!

Mike và Bằng tưởng lục của VNCH và trên đều anh đội chiếc mũ Vietnam Veteran

Bằng tưởng lục  của Bộ quốc phòng VNCH dành cho Mike với chữ ký của Thiếu tường Phan Trọng Chinh, Tổng cục trưởng Tổng cục Quân huấn

Một thoáng nhìn lại những ký ức ngày xưa

Các khóa sinh Không quân VNCH tại trường

Chỉnh lại cặp mắt kính để nhìn cho rõ!

Joe trước hình ảnh Tent City dành cho khóa sinh Không quân ngày nào

Tent City, nơi các khóa sinh Không quân tạm trú trong thời gian học sinh ngữ

Một dịp để nhìn lại các khóa sinh xếp hàng đi bộ từ Tent City qua trường sinh ngữ để học Anh văn

Hình Michael Burr chụp mấy năm trước để thấy thời gian khiến con người thay đổi về vóc dáng, hình hài

***

--> Read more..

Popular posts