Hiển thị các bài đăng có nhãn Sách / Truyện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sách / Truyện. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2025

Đọc lại “The Prophet” của Khalil Gibran

Khalil Gibran (1883 - 1931) là một nhà thơ, nhà văn, một nghệ sĩ, một hoạ sĩ người Liban. Khi còn trẻ ông di cư cùng gia đình đến Hoa Kỳ, tại đó ông nghiên cứu nghệ thuật và bắt đầu sự nghiệp văn chương của mình, viết bằng cả tiếng Anh và tiếng Ả Rập.

Trong thế giới Ả Rập, Gibran được coi là một kẻ nổi loạn trong văn học và chính trị. Phong cách lãng mạn của ông là tâm điểm của sự phục hưng trong văn học tiếng Ả Rập hiện đại, đặc biệt là thơ văn xuôi, tách ra từ trường phái cổ điển. Tại Lebanon, ông được coi như một thiên tài văn học.

Không những là một nhà thơ, Kahlil Gibran còn là một triết gia, một vị tiên tri, một nghệ sĩ. Thế giới Tây Phương xưng tụng ông là “Dante của thế kỷ XX”. Thế giới Đông Phương tôn vinh ông là “Bậc thầy khả ái”.

Tác phẩm của ông chứa đựng thông điệp cao cả, nhất quán và vượt thời gian về một thế giới đại đồng, tôn giáo hòa đồng, loài người huynh đệ và một tình yêu hằng cửu nối kết con người với nhau trong tình yêu Thượng Đế, giữa một trần gian hợp nhất với không gian.

 

Chân dung tự hoạ của Kahlil Gibran trong “The Prophet”

Ông chủ yếu được biết đến trong thế giới nói tiếng Anh nhờ cuốn sách “The Prophet” (Kẻ tiên tri hay Ngôn sứ), xuất bản năm 1923. Một tác phẩm đầu tiên của tiểu thuyết truyền cảm hứng bao gồm một loạt các bài tiểu luận triết học được viết dưới hình thức “thơ bằng văn xuôi” (prose poem) tiếng Anh.

“The Prophet” được phổ biến trong những năm 1930 và một lần nữa trong những năm 1960 với nền văn học “chống văn minh xã hội”. Có thể nói, Gibran là nhà thơ có sách bán chạy nhất sau Shakespeare và Lão Tử.

Cuốn sách cho đến nay đã tái bản hàng trăm lần cùng dịch ra trên bốn chục thứ tiếng. Riêng tiếng Việt, tác phẩm này cũng đã được ít nhất năm người dịch, trong đó có Phạm Bích Thủy với tiêu đề “Mật Khải” năm 1969, Trùng Dương, Giải Nghiêm, Châu Diên.... với nhan đề thường xoay quanh chữ “Tiên tri”. Riêng bản dịch của Nguyễn Ước đã dùng chữ “Ngôn sứ”.

Thông điệp cho con người thường được gọi là sứ điệp hay lời tiên tri (prophecy), có lẽ vì thế nhiều người thường dịch chữ Prophet là Nhà tiên tri, theo ý nghĩa kẻ biết trước và nói lên con đường tất yếu trong tương lai nếu người đương thời nhất định đi theo chân lý hoặc vẫn không thể từ bỏ những đọa lạc hiện tại.

 

Bìa ấn bản đầu tiên của "The Prophet"

 

Almustafa, nhân vật chính trong tác phẩm, là một con người bình thường tiềm ẩn trong mỗi chúng ta, được thăng hoa nhờ các trải nghiệm của một quá trình chiêm nghiệm trong cô đơn, rồi phát biểu với chúng sinh bằng tất cả ý thức trách nhiệm, từ tốn và chân tình.

Nhà tiên tri Almustafa đã sống ở thành phố Orphalese 12 năm và sắp qua đời, được miêu tả một cách thơ mộng như “con tàu sẽ đưa ông trở về nhà”. Người dân địa phương, thấy ông sắp rời xa họ, đã đến gặp ông tại đền thờ và đưa ra những vấn đề mà họ thắc mắc.

Nhân vật thứ hai là Almitra là người đầu tiên phát hiện ra Almustafa. Người dân thị trấn vô cùng đau buồn, và Almitra yêu cầu ông chia sẻ với mọi người những gì ông đã học được khi sống giữa họ. Sau đó, bà tạo điều kiện cho Almustafa giải quyết một số câu hỏi liên quan đến cuộc sống và thân phận con người.

 

Trang đầu trong “The Prophet”

 

* Tình yêu: đó là những thứ gom các bạn vào lòng như một bó lúa, sàng sảy cho các bạn ra khỏi vỏ trấu, xay xát cho các bạn sạch bóng, nhào nặn cho các bạn mềm dẻo!

* Hôn nhân: Hãy cùng nhau vui ca nhưng nên để mỗi kẻ một mình như dây đàn đứng riêng dù rung chung điệu nhạc, hãy cho nhau trái tim nhưng đừng giao nhau cất giữ. Các ngươi sinh ra gần nhau thì sẽ gần nhau mãi mãi. Các ngươi sẽ gần nhau cho tới khi đôi cánh trắng của tử thần đến phá nát ngày của mình.

* Con cái: Chúng là con của cuộc đời trong nỗi khát khao của chính chúng. Chúng dù ở với các bạn nhưng không thuộc về các bạn vì bạn chỉ có thể cung cấp nơi ở cho thể xác nhưng không thể cho chúng linh hồn. Chúng đến “qua” các ngươi nhưng chẳng “từ” các ngươi.

* Cho đi: Các bạn cho rất ít khi chỉ cho những vật mình sở hữu, chỉ khi cho đi bản thân các bạn mới thật sự cho. Những vật sở hữu là những cái bạn đang canh giữ bởi sợ ngày mai có thể cần tới chúng.

* Ăn uống: Khi nhai nhuyễn một quả táo trong lòng các bạn hãy nói với nó rằng: “Mầm của ngươi sẽ sống trong thể xác ta và mùi hương của ngươi sẽ là hơi thở ta”. Khi giết một con thú để làm thức ăn, ta phải nghĩ rằng chính bản thân ta cũng sẽ là mục tiêu của sự hủy diệt.

* Công việc: Khi lao động, các bạn là cây sáo, qua lòng ống ấy, tiếng thời gian thì thầm thành âm nhạc. Có ai muốn làm cây sáo lặng câm khi mọi người vang tiếng hát đồng ca? Phàm con người thường hay phàn nàn về công việc mình làm và cho đó là nỗi bất hạnh của từng cá nhân.

* Niềm vui và nỗi buồn: Càng bị phiền muộn khắc sâu, các bạn càng có thêm khả năng chứa đựng hân hoan. Khi vui, các bạn hãy nhìn sâu vào lòng mình, sẽ thấy cái khiến mình phiền muộn cũng chính là cái đang làm mình hân hoan. Niềm vui là nỗi buồn đã lộ chân tướng vì trong cùng một giếng nước nơi chan hòa tiếng cười nhưng đó lại chính là giếng nước đầy lệ của con người.

* Nhà cửa: Hãy xây bằng mộng tưởng một căn nhà nghỉ mát ngoài hoang mạc trước khi xây ngôi nhà của mình trong đô thị. Nhà của các bạn không phải mỏ neo mà là cột buồm! Nhà cửa là “những nấm mồ do người chết xây cho người sống” và dù huy hoàng tráng lệ, “nhà cửa sẽ không giữ được bí mật trong việc che đậy những khát vọng trần tục”.

* Quần áo: Quần áo che phần lớn vẻ đẹp của các bạn tuy không giấu nổi vẻ xấu xí. Nhưng dù tìm nơi quần áo sư tự do riêng tư, các bạn cũng có thể thấy trong chúng có xích xiềng cương toả.

* Mua bán: Chính trong việc trao đổi tặng phẩm của đất các bạn mới tìm thấy sự dư dật và được toại nguyện. Nhưng nếu sự trao đổi ấy không diễn ra trong yêu thương và công bình, chỉ khiến một số người sinh lòng tham và những kẻ khác lâm cơn đói khát

* Tội ác và hình phạt: Chính khi tinh thần các bạn đi lang thang theo gió khiến các bạn lẻ loi, phạm điều lầm lỗi với người khác. Và vì điều lỗi lầm đã phạm các bạn phải gõ cửa nhưng chẳng ai đoái hoài tại cổng của kẻ được ân phúc. Nếu có ai muốn đem xét xử một người đàn bà ngoại tình thì kẻ ấy hãy đem trái tim của người chồng lên bàn cân và đo lường tinh thần hắn.

* Luật pháp: Các bạn vui mừng khi đặt ra luật pháp, thế nhưng các bạn mừng vui hơn khi vi phạm nó, y hệt trẻ em đang chơi bên bờ biển, xây lâu đài cát rồi phá hủy với tiếng cười rộn rã. Con người vui thích khi đặt ra luật lệ nhưng chính con người cũng vui hơn khi phá luật lệ.

* Tự do: Tại khắp nơi ta thấy các bạn luôn thờ phụng tự do như những kẻ nô lệ phủ phục trước bạo chúa và ca tụng hắn dù hắn đang giết họ. Ta thấy kẻ tự do nhất trong các bạn đeo tự do của hắn như cái ách, cái còng. Con người sẽ hoàn hoàn tự do khi ngày không còn một nỗi lo âu và đêm không còn sầu thảm.

* Lý trí và đam mê: Linh hồn các bạn là bãi chiến trường, trong đó lý trí và óc phán đoán giao chiến với đam mê và lòng ham muốn. Ước gì ta có thể làm kẻ hòa giải để mình có khả năng biến sự bất hòa và tranh chấp thành một giai điệu.

* Đau đớn: Phần lớn đau đớn của các bạn do mình tự chọn lấy. Nó là liều thuốc đắng được lương y trong con người các bạn dùng để chữa lành bản ngã đang lâm bệnh. Do đó, hãy tín nhiệm lương y và im lặng uống phương thuốc ấy.

* Giáo dục: mỗi người các bạn đứng một mình trong sự hiểu biết của Thượng đế, nên người đó phải một đứng một mình trong am hiểu của hắn về Thượng đế cũng như về trần thế.

* Tình bạn: Người bạn là những cần thiết của bạn được đáp ứng. Hắn là cánh đồng các bạn gieo với tình yêu thương và gặt với lòng biết ơn. Hắn là bàn ăn vì các bạn đi tới hắn với cơn đói và các bạn tìm nơi hắn sự bình an.

* Trò chuyện: Có những người tìm tới kẻ hay nói vì sợ cô đơn. Có những người trò chuyện không có kiến thức hoặc suy nghĩ trước nhưng vén lộ một chân lý chính họ cũng chẳng hiểu biết.

* Thời gian: Hôm qua chỉ là ký ức của hôm nay và ngày mai là giấc mộng của hôm nay. Các bạn muốn đo lường thời gian, cái mênh mông vô hạn và chẳng thể đo lường. Cái vô tận trong các bạn nhận biết sự vô tận của cuộc đời.

* Thiện và ác: Về thiện trong các bạn, tôi có thể nói, còn về ác thì không thể. Vì ác là gì, hay chỉ là thiện bị hành hạ bởi cơn đói và cơn khát của chính nó? Bạn thiện khi phấn đấu để cho đi bản thân, nhưng các bạn không ác khi mưu lợi cho mình.

* Cầu nguyện: Các bạn cầu nguyện khi bí bách khổ sở và trong hoàn cảnh túng thiếu của mình; ước gì các bạn cũng cầu nguyện lúc chan chứa hân hoan và trong những ngày dư dật. Cầu nguyện là gì nếu chẳng phải là dàn trải bản thân vào thinh không sinh động?

* Lạc thú: Lạc thú là bài ca tự do nhưng nó chẳng là tự do. Và trong các bạn, có những người không trẻ để tìm kiếm cũng chẳng già để nhớ lại. Và thân xác là cây đàn của linh hồn các bạn. Hãy ra cánh đồng, các bạn sẽ hiểu lạc thú của ong là hút mật hoa nhưng lạc thú của hoa là trao mật cho ong.

* Cái đẹp: Cái đẹp chẳng là nhu cầu mà là ngất ngây, nó chẳng là miệng đang khát cũng chẳng là bàn tay trống không chìa tới trước, thay vì thế, là tâm hồn rực cháy và linh hồn say mê. Cái đẹp là vĩnh cửu soi mình trong gương nhưng các bạn là vĩnh cửu và các bạn là chiếc gương.

* Tôn giáo: Ai có thể tách rời đức tin với hành động, hoặc niềm tin với công việc? Ai có thể trải giờ giấc ra trước mặt và nói: 'Giờ này dành cho Thượng đế và giờ này dành cho chính tôi; Giờ này dành cho linh hồn tôi và giờ kia dành cho thân xác tôi?'. Cuộc sống hằng ngày của các bạn là đền thờ và là tôn giáo của các bạn.

* Cái chết: Các bạn muốn biết về bí mật của Cái chết nhưng làm sao các bạn thấy được nó nếu không tìm kiếm nó trong lòng sự sống? Vì sống và chết là một, như sông với biển là một. Chết là gì nếu không là đứng trần truồng trong gió và tan chảy trong nắng?

* Giã từ: Ngắn ngủi thay những ngày ta ở giữa các bạn, lại càng ngắn ngủi hơn nữa những lời tôi đã nói. Nhưng nếu tiếng nói của tôi phôi pha trong đôi tai các bạn và tình yêu của tôi biến mất trong ký ức của các bạn, lúc đó tôi sẽ quay lại lần nữa. Vâng, tôi sẽ quay lại cùng với con nước triều lên.

 

Một ấn bản khác của “The Prophet”

 

Có tất cả 26 vấn đề được nêu lên trong tác phẩm “The Prophet”, chỉ gói gọn trong 96 trang sách, kèm theo đó là 11 bức tranh minh hoạ do chính Kahlil Gibran sáng tác nhưng không nằm trong các trang đã đánh số trong nguyên bản tiếng Anh.

Tôi có hân hạnh được sở hữu bản tiếng Anh “The Prophet” trên kệ sách và vẫn thỉnh thoảng đọc lại để nghiền ngẫm những vấn đề của cuộc sống mà tác giả Kahlil Gibran đặt ra.

Đây là một cuốn sách lý tưởng cho bất kỳ ai tự nhận mình là người sâu sắc và muốn suy ngẫm về thế giới. Ở điểm tốt nhất, nó có thể thay đổi cuộc đời vì cuốn sách này là một trong số ít những cuốn sách người đọc thực sự ước mình đã được đọc khi còn trẻ.

Với tuổi tác ngày càng đến gần với cái chết như Al Mustafa, tôi càng thấy tác giả quả đã có những nhận xét thâm thuý mà không phải mọi người ai cũng nhìn thấy hết khi mình còn trẻ.

 

Bức tranh minh hoạ của Kahlil Gibran trong “The Prophet”

 

***
--> Read more..

Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2025

Đọc lại…”Đắc nhân tâm”

“Ở sao cho toại lòng người,
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê…”

Có thể nói, sống sao cho “được lòng người” là phương châm mà tất cả chúng ta, không ít thì nhiều, đều cố gắng hướng đến trong xã hội phức tạp ngày nay. Chẳng thế mà năm 1937, Dale Carnegie, một học giả người Mỹ đã viết một cuốn sách có tên là “How to Win Friends and Influence People”.

Tác phẩm “How to win friends & influence people”


Dale Carnegie (1888-1955) trải qua tuổi thanh niên cơ cực, thức dậy từ bốn giờ sáng mỗi ngày để vắt sữa bò cho gia đình, nhưng ông vẫn cố gắng tốt nghiệp State Teacher's College tại Warrensburg.

Công việc đầu tiên của ông sau khi tốt nghiệp là bán phiếu theo học các lớp hàm thụ cho những người nông dân; sau đó ông chuyển sang bán thịt lợn xông khói, xà phòng và mỡ lợn cho Armour & Company.

Ông đã thành công trong việc thiết lập thị trường tiêu thụ tại Nam Omaha, Nebraska. Thành tựu lớn nhất của ông chính là cuốn “How to Win Friends and Influence People” do Simon & Schuster xuất bản. Cuốn sách trở thành một bestseller từ khi xuất hiện năm 1937, và được tái bản tới lần thứ 17 chỉ trong vài tháng.

Tác giả Dale Carnegie


Khi Carnegie mất, cuốn sách của ông đã được dịch qua 31 ngôn ngữ, và đã có 450.000 người tốt nghiệp các khóa học tại Học viện Dale Carnegie. Trong cuốn sách, ông đã nghiên cứu hơn 150.000 bài phát biểu trong phong trào giáo dục cho người lớn ở thời điểm đó.

Sách phát hành trên toàn thế giới trong đó có tiếng Việt. Học giả Nguyễn Hiến Lê là người đầu tiên dịch tác phẩm này sang tiếng Việt với tựa đề "Đắc nhân tâm", được nhà xuất bản Phạm Văn Tươi in lần đầu tiên tại Sài Gòn năm 1951 và sau đó được tái bản nhiều lần.

Bản dịch “Đắc nhân tâm” của Nguyễn Hiến Lê


Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) là một học giả, nhà văn, dịch giả, nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục với 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn và dịch thuật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, lịch sử, du ký, gương danh nhân, chính trị, kinh tế…


Dịch giả Nguyễn Hiến Lê


Cuốn sách "Đắc nhân tâm" hay nói nôm na là “được lòng người”, gồm 6 phần, mỗi phần có nhiều chương, với các đề mục như sau:

* Phần I: Những thuật căn bản để dẫn đạo người

 - Chương 1. Muốn lấy mật đừng phá tổ ong: Không chỉ trích, oán trách hay than phiền một ai.

- Chương 2. Bí mật lớn nhất trong phép ứng xử: Thành thật khen ngợi và biết ơn người khác.

- Chương 3. Ai Làm Được Điều Dưới Đây, người đó sẽ có cả thế giới: Hãy khêu gợi ở người cái ý tự muốn làm công việc mà chính ta đề nghị với họ.

- Chương 4. Tám lời khuyên để giúp các bạn đọc sách này được nhiều lợi ích nhất: Hãy thật lòng quan tâm đến người khác.


* Phần II: Cách tạo thiện cảm tốt đẹp

- Chương 5. Để cho tới đâu cũng được tiếp đón niềm nở: Hãy luôn nở một nụ cười trên môi. 

- Chương 6. Để mọi việc luôn được suông sẻ: Luôn nhớ rằng tên của một người là âm thanh êm đềm, thân thương và quan trọng nhất đối với họ.

- Chương 7. Để trở thành người giao tiếp khéo léo: Biết lắng nghe và khuyến khích người khác nói về vấn đề của họ.

- Chương 8. Thu hút sự quan tâm của người khác: Hãy nói về điều người khác quan tâm.

- Chương 9. Để người khác yêu thích bạn ngay lập tức: Hãy thật lòng làm cho người khác thấy rằng họ quan trọng.

- Chương 6. Làm sao cho người ta ưa mình liền: Hãy nói về điều người khác quan tâm.

 

* Phần III: Tranh cãi

- Chương 10: Không Tranh Cãi!: Cách giải quyết tranh cãi tốt nhất là đừng để nó xảy ra.

- Chương 11: Tôn trọng ý kiến người khác: Đừng bao giờ nói rằng “Anh/Chị sai rồi!“.

- Chương 12: Thẳng thắn thừa nhận sai lầm của mình: Nếu bạn sai, hãy nhanh chóng và thẳng thắn thừa nhận điều đó.

- Chương 13: Mật ngọt trong giao tiếp: Luôn bắt đầu bằng một thái độ thân thiện.

- Chương 14. Bí quyết của Socrates: Hỏi những câu khiến người khác đáp “Vâng” tức thì.

- Chương 15. Khôn ngoan khi gặp đối đầu: Hãy để người khác cảm thấy họ là người làm chủ cuộc nói chuyện.

- Chương 16. Để nhận được sự hợp tác cao nhất: Hãy để người khác tin rằng chính họ mới là người đưa ra ý tưởng đầu tiên.

- Chương 17. Đặt mình vào hoàn cảnh người khác: Thành thật nhìn nhận vấn đề theo quan điểm của người khác.

- Chương 18. Điều mọi người mong muốn: Đồng cảm với mong muốn của người khác,

- Chương 19. Khơi gợi sự cao thượng: Hãy luôn khơi gợi sự cao thượng nơi người khác.

- Chương 20. Trình bày vấn đề một cách sinh động: Cần phải biết trình bày vấn đề một cách sinh động.

- Chương 21. Khơi gợi tinh thần vượt lên thử thách: Phải biết cách khơi gợi tinh thần vượt lên thử thách.

 

* Phần IV: Phê bình

- Chương 22. Trước khi phê bình, hãy khen ngợi: Bắt đầu câu chuyện bằng lời khen ngợi chân thành.

- Chương 23. Phê bình một cách gián tiếp: Hãy góp ý về sai lầm của người khác một cách gián tiếp.

- Chương 24. Nhìn nhận sai lầm của bản thân trước khi phê bình người khác: Hãy tự xét mình trước khi phê bình người khác.

- Chương 25. Gợi ý thay vì ra lệnh: Cố gắng đừng làm người khác bị tổn thương, dù là chỉ là một câu nói đùa.

- Chương 26. Giữ thể diện cho người khác: Phải biết giữ thể diện cho người khác.

- Chương 27. Khuyến khích người khác: Thật lòng khen ngợi sự tiến bộ, dù nhỏ nhất, ở người khác.

- Chương 28. Cho người khác niềm tự hào: Khen ngợi làm người khác sống xứng đáng với lời khen đó.

- Chương 29. Khuyến khích, mở đường cho người khác sửa chữa lỗi lầm.

- Chương 30. Tôn vinh người khác: Đó là cách làm cho họ vui vẻ thực hiện đề nghị của bạn.

 

Ngoài ra, “Đắc nhân tâm” còn có 2 phần: “Những bức thư màu nhiệm” và “Bảy lời khuyên để tăng hạnh phúc trong Gia đình”. Về hạnh phúc lứa đôi có các vấn đề xoay quanh:

1. Chôn sống hạnh phúc gia đình cách nào lẹ nhất?

2. Tùy Ngộ Nhi An

3. Thương nhau chín bỏ làm mười. Em tận chín rưỡi chẳng cho lên mười.

4. Làm cho Người ở xung quanh mình được sung sướng là điều dễ dàng

5. Cái gì làm cảm động một người Đàn bà

6. Phu phụ tương kính như tân

7. Những kẻ thất học trong hôn nhân

  

Cho đến nay, cuốn sách của Dale Carnegie và bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Hiến Lê vẫn là một “kiệt tác” đối với người đọc của mọi thời kỳ. Để sống sao cho “được lòng người”, chúng ta hãy ghi nhớ:

“Không có sự vật, hiện tượng hay hoàn cảnh tốt hay xấu mà chính cách nghĩ của con người khiến nó xấu hay tốt”.

 

Phần trên ngôi tháp nhỏ này là nơi lưu giữ di cốt của học giả Nguyễn Hiến Lê

 

* Tham khảo về “Đắc nhân tâm” tại:

https://nhasachmienphi.com/doc-online/dac-nhan-tam-322410

 

*** 

--> Read more..

Thứ Bảy, 6 tháng 9, 2025

Đọc lại “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng

 “Số đỏ” là một tiểu thuyết văn học phóng sự của nhà văn Vũ Trọng Phụng, người được mệnh danh là “ông vua phóng sự đất Bắc”. Truyện được đăng trên Hà Nội Báo từ số 40 ngày 7/10/1936 và được in thành sách lần đầu vào năm 1938.

Với 20 chương, tác phẩm xoay quanh nhân vật chính là Xuân, biệt danh “Xuân Tóc Đỏ”, chỉ vì đầu trần không đội mũ giữa cái nắng chang chang của Hà Nội. Từ vị trí một kẻ bị coi là hạ lưu, Xuân bỗng chốc đã bước lên tầng lớp danh giá của xã hội nhờ trào lưu Âu hóa của giới tiểu tư sản thời đó.

Tác phẩm “Số đỏ”, cũng như hầu hết các tác phẩm khác của Vũ Trọng Phụng, đã từng bị cấm lưu hành tại Miền Bắc trước năm 1975 cũng như tại Việt Nam sau ngày thống nhất từ năm 1975 cho đến năm 1986.

Cho đến nay, “Số đỏ” đã được tái xuất bản nhiều lần, thậm chí một đoạn trích của tác phẩm còn được đưa vào chương trình Ngữ văn lớp 12 với tên gọi: “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc” hay còn được gọi là “Nỗi buồn của ông bố vợ không bị đấm”.

 

Chân dung Vũ Trọng Phụng (1912-1939) trong cuón sách của Lan Khai, Minh Phương xuất bản năm 1941

 

Tác phẩm được coi là có nhiều ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội Việt Nam, với nhiều nhân vật và câu nói trong tác phẩm đã đi vào cuộc sống đời thường. Sau này, “Số đỏ” cũng đã được dựng thành kịch và phim.

Xuân Tóc Đỏ là một đứa trẻ mồ côi cha mẹ từ nhỏ, phải kiếm sống bằng đủ thứ nghề như trèo me, hái sấu, thổi kèn đám ma, quảng cáo thuốc lậu và cuối cùng nhặt banh ở sân quần vợt.

Nhân vật thứ hai: Bà Phó Đoan, một người đàn bà lấy chồng Tây, đã 2 đời chồng và cực kì lẳng lơ nhưng lúc nào cũng tỏ ra là một quả phụ gương mẫu. Chính bà là người đã tạo điều kiện để Xuân Tóc Đỏ “đổi đời” từ một anh nhặt banh thành một người đáng kính trong tầng lớp của “giới tinh hoa” Hà Thành!

Cụ Cố Tổ là một ông lão 80 tuổi, có gia sản lớn nên con cháu ai cũng muốn ông chết để chiếm gia tài. Cụ Cố Hồng cũng là một ông lão gần 60 tuổi, nghiện thuốc phiện nặng và lúc nào cũng tỏ ra là mình già.

Trong truyện, Cụ cố Hồng có câu nói nổi tiếng đã đi vào đời sống: "Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!". Cậu Phước, con “cầu tự” của bà Phó Đoan, lúc nào cũng chỉ biết nói "Em chã, em chã".

 

Cụ Cố Hồng bên bàn đèn, một nhân vật quen thuộc trong “Số đỏ”

 

Văn Minh, con trai Cụ Cố Hồng, chủ tiệm may Âu Hóa, đã từng đi du học Pháp nên lúc nào cũng muốn cải cách xã hội mặc dù không có bằng cấp gì. Trong khi cô Hoàng Hôn (con gái cụ cố), đã có chồng nhưng vẫn thường xuyên ra ngoài để tìm “cảm giác lạ”. Ông Phán “mọc sừng”, người chồng “đáng thương” của cô Hoàng Hôn, tuy biết vợ mình ngoại tình nhưng cũng đành bất lực.

Cô Tuyết (con gái út Cụ Cố Hồng), mới tròn đôi tám muốn “hư hỏng một cách có khoa học” nhưng cô vẫn tự hào là mình chưa đánh mất “chữ trinh”. Cậu Tú Tân (con trai cụ Cố) tham danh với đời, mong đỗ tú tài nhưng thực chất thi rất nhiều lần vẫn không đỗ.

Ngoài ra còn có ông “Tuýp-phờ-nờ” (chứ tắt của TYPN - Tôi Yêu Phụ Nữ) người thiết kế thời trang của tiệm Âu Hóa. Ông là người đưa ra những mẫu quần áo tân thời để phục vụ các bà, các cô theo trường phái “tân tiến”.

Trong truyện cón có một nhà sư là Sư cụ Tăng Phú. Sư sung sướng và vênh váo ngồi trên một chiếc xe, vì sư chắc rằng, trong số thiên hạ đứng xem ở các phố, thế nào cũng có người nhận ra rằng sư cụ đã đánh đổ được cả Hội Phật Giáo.

 

Tiệm may Âu Hóa và cảnh Xuân tóc đỏ đến nhà bà phó Đoan, tranh do họa sĩ Thành Phong vẽ

 

Mọi chuyện bắt đầu khi bà Phó Đoan đến chơi ở sân quần vợt nơi Xuân Tóc Đỏ lượm banh. Vốn tính trăng hoa, anh chàng lén nhìn trộm một cô đầm thay đồ nên bị cảnh sát bắt giam. Cũng may cứu tinh xuất hiện: bà Phó Đoan đứng ra bảo lãnh.

Bà còn giới thiệu Xuân đến làm việc ở tiệm may Âu Hóa, từ đó Xuân bắt đầu tham gia vào việc cải cách xã hội. Nhờ thuộc lòng những bài quảng cáo thuốc trị bệnh lậu, Xuân được vợ chồng Văn Minh “nâng cấp lên thành "sinh viên trường thuốc", "đốc tờ Xuân".

Xuân gia nhập xã hội thượng lưu, quen với những người giàu và có thế lực, quyến rũ được cô Tuyết và phát hiện cô Hoàng Hôn ngoại tình. Xuân còn được bà Phó Đoan nhờ dạy dỗ cậu Phước, được nhà sư Tăng Phú mời làm cố vấn cho báo Gõ Mõ.

 

Trang bìa bản in đầu tiên của “Số đỏ” được nhà in Lê Cường xuất bản lần đầu vào năm 1938

 

Cũng vì vô tình, Xuân gây ra cái chết cho Cụ Cố Tổ nên được mọi người “mang ơn” vì họ được dịp chia gia tài cụ để lại. Văn Minh vì nghĩ ơn của Xuân nên dẫn Xuân đi xóa bỏ lý lịch trước kia rồi đăng ký đi tranh giải quần vợt nhân dịp vua Xiêm đến Bắc Kì.

Bằng thủ đoạn xảo trá, Văn Minh làm 2 vận động viên quán quân bị bắt ngay trước hôm thi đấu nên Xuân được dịp thi tài với quán quân Xiêm. Vì để giữ tình giao hảo giữa hai nước, Xuân được lệnh phải thua.

Kết thúc trận đấu, khi bị đám đông phản đối, Xuân hùng hồn diễn thuyết cho đám đông dân chúng hiểu hành động "hy sinh vì tổ quốc” của mình, được mời vào hội Khai trí tiến đức, được nhận huân chương Bắc Đẩu Bội tinh và cuối cùng trở thành con rể cụ cố Hồng.

Không chỉ vậy, Xuân còn được bà Phó Đoan “nâng cấp” thành người có tầm ảnh hưởng trong giới thượng lưu: trở thành giáo sư quần vợt, làm cố vấn cho tập đoàn Gõ Mõ, cải cách Phật giáo…

Xuân từ một kẻ lang bạt, vô giáo dục nghiễm nhiên có tầm ảnh hường rộng lớn. Từ một tên “hạ lưu” nhảy vọt lên tầng lớp “thượng lưu” danh giá, là một “đại anh hùng dân tộc” vì đã thua tay vợt người Xiêm La để góp phần củng cố mối quan hệ hai nước.

 

“Số đỏ” của nhà xuất bản Văn Học

 

Nếu chỉ hiểu rằng: Số đỏ là số phận may mắn của một nhân vật thì thực chưa đánh giá hết tầm vóc của Vũ Trọng Phụng, đặc biệt là tư tưởng nghệ thuật, tư tưởng xã hội của ông. Lấy tên tác phẩm là “Số đỏ”, ông không chỉ ám chỉ số phận may mắn của Xuân, đó là một ẩn dụ, một ám chỉ cho tất cả các nhân vật trong tác phẩm.

Số đỏ, như thế phải là một diễn ngôn về đặc tính của xã hội lúc bấy giờ. Nó không chỉ là xã hội “chó đểu” mà tởm hơn: “đĩ bợm”. Đĩ từ thằng già đến thằng trẻ, từ đàn ông đến đàn bà, từ gái có chồng, chết chồng đến chưa chồng. Đĩ từ thi sĩ, nhà thể thao đến thầy lang, sư sãi.

Nhân vật nào cũng đáng cười, đáng khinh, bệnh hoạn, ghê tởm. Nhưng, tất cả lại được giấu sau vẻ rất phong lưu, lịch lãm, sang trọng của giới trưởng giả. Những lớp che phủ ấy không khác gì lớp son phấn nước hoa trên người gái bán dâm. Nó che giấu cái tật bệnh, ung nhọt, nhơ nhớp bên trong. 

Hâm mộ phong cách văn chương của Vũ Trọng Phụng, vợ chồng giáo sư sử học Peter Zinoman và Nguyễn Nguyệt Cầm đã dịch tiểu thuyết “Số Đỏ” sang Anh ngữ với tựa đề là “Dumb Luck”.

Theo bình chọn của nhật báo Los Angeles Times, dịch phẩm này nằm trong danh sách 50 quyển sách hay nhất năm 2003 tại Mỹ. Tiểu thuyết cũng được xếp vào danh mục tác phẩm văn học Việt Nam được giảng dạy tại các giảng đường đại học trên toàn nước Mỹ.

Trong một cuộc phỏng vấn của đài BBC, giáo sư Zinoman cho biết ông đọc tác phẩm đầu tiên của Vũ Trọng Phụng vào năm 1989 khi làm đề tài tiến sĩ tại Hà Nội. Những quan điểm về công bằng xã hội trong sáng tác của nhà văn hiện thực phê phán này đã thu hút sự chú ý của Zinoman.

 

Bản dịch “Số đỏ” của Peter Zinoman

 

Người đọc Trung Quốc lại ví von Xuân Tóc Đỏ của Vũ Trọng Phụng có điểm giống nhân vật "Vi Tiểu Bảo" của truyện Kim Dung. Tiểu thuyết do Nhà xuất bản Văn nghệ Tứ Xuyên phát hành, người chuyển ngữ là Hạ Lộ - phó giáo sư ngành Ngôn ngữ và Văn hóa Đông Nam Á, khoa Ngoại ngữ, Đại học Bắc Kinh. Bà nói:

"Đọc xong sách, tôi hiểu vì sao tác giả được gọi là Balzac của Việt Nam. Tác phẩm như một tấm trò đời phiên bản Việt, đậm chất hài hước, châm biếm. Mỗi nhân vật và sự việc đều như một tấm gương phản ánh những hình hài của cuộc đời…”

 

Bản in “Số đỏ” có minh họa màu của họa sĩ Thành Phong

 

Vũ Trọng Phụng (1912-1939) là hiện tượng của văn đàn Việt. Từ 1930 đến 1939, ông viết 28 truyện ngắn, 9 tiểu thuyết, 8 tập phóng sự, 6 vở kịch và dịch thuật. Ngoài ra, ômg còn viết hàng trăm bài tranh luận, phê bình về văn học, văn hóa và các vấn đề xã hội khác.

Khoảng năm 1937-1938, ông bị lao phổi nhưng không có tiền chữa bệnh. Những ngày cuối đời, trên giường bệnh ông từng phải thốt lên với nhà văn Vũ Bằng: "Nếu mỗi ngày tôi có một miếng bít tết để ăn thì đâu có phải chết non như thế này". Vũ Trọng Phụng mất ngày 13.10.1939 tại Hà Nội, ở tuổi 27.

 

“Số đỏ” và chân dung các nhân vật

 

Vũ Trọng Phụng không chỉ là nhà văn trào phúng bậc thầy mà còn là một nhà báo hiện thực bậc nhất, đặt nền móng cho thể loại phóng sự điều tra ở Việt Nam. Câu nói của ông như một lời nhắc những người làm báo hôm nay:

"Làm báo là dấn thân. Viết báo là hành động. Câu chữ phải có máu, mồ hôi và cả sự đau đớn của người chứng kiến".

 

***
--> Read more..

Thứ Ba, 26 tháng 8, 2025

“Học Báo Tiếng Anh”

Trong “Lời nói đầu” của cuốn sách “Học Báo Tiếng Anh”, do Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành năm 1999, tác giả đã tâm sự:

“Học tiếng Anh tại trường lớp mang lại một số kiến thức cơ bản về ngôn ngữ. Tuy nhiên thực tế cho thấy có một khoảng cách rất lớn trong việc ứng dụng những kiến thức học hỏi từ giáo trình vào cuộc sống thực tế hàng ngày.

"Học Báo Tiếng Anh” là một phương tiện nhằm thu ngắn cách biệt giữ những kiến thức về ngoại ngữ và thực tiễn hàng ngày, giữa không gian nhỏ hẹp trong sách vở và môi trường rộng lớn của cuộc sống.

“Học Báo Tiếng Anh” là một công cụ nhằm “đời thường hoá” những kiến thức tiếng Anh vốn được thu thập qua các giáo trình khô khan tại trường lớp, đưa bạn đọc vào cuộc sống hàng ngày với những đề tài thời sự xuất hiện trên báo chí xuất bản bằng tiếng Anh cả trong và ngoài nước…

(hết trích)

 

Cuốn sách “Học báo tiếng Anh”

 

“Học Báo Tiếng Anh” có 460 trang, trải dài với 122 bài viết đã được đăng trên tạp chí “Kiến Thức Ngày Nay” (KTNN). Bài viết bao gồm các lĩnh vực Chính trị (11 bài), Khoa học (19 bài), Kinh tế (36 bài), Thể thao (11 bài), Văn hoá (26 bài) và Xã hội (19 bài).

Chuyên mục “Học Báo Tiếng Anh” chiếm 2 trang của KTNN mỗi kỳ. Dưới đây là một số trích dẫn những bài viết đã đăng:

* Chính trị: “Reform hay Renovation ?”

“Ông Roy Morey là “đại diện” (representative) của “Liên Hiệp Quốc” (The United Nations - UN) và “Chương trình phát triển của LHQ” (UN Development Programme - UNDP) tại Việt Nam trong hơn 4 năm qua. Trước khi ông chấm dứt “nhiệm kỳ” (tenure, term) để nhận “chức vụ mới” (new posting), “Vietnam Investment Review” (VIR) đã có bài phỏng vấn mang tựa đề “UNDP chief urges haste for reform” trên số báo ra ngày 23-29/12/96.

“Được hỏi về những “thành tựu” (chievements) của UNDP, ông Morey cho biết: “The most significant aspects” (khía cạnh quan trọng nhất) of the UNDP during the last four-and-a-half years are the ways in which the UNDP programmes in Vietnam is to assist with the implementation of the “doi moi” policy”.

(hết trích)

* Khoa học: “Cơn sốt ‘thần dược’ Viagra”

“Đằng sau những cái tên của sản phẩm, giới chuyên môn gọi là “nhãn hiệu đăng ký”, “nhãn hiệu cầu chứng” hoặc “nhãn hiệu trình toà” (registered trademark), là cả một quá trình sáng tạo của các nhà sản xuất. “Thần dược” (magic drug) Viagra, một trong những đề tài thời sự nóng bỏng trong giới y học vào đầu tháng 4/98, là một thí dụ điển hình về chuyện đặt tên sản phẩm.

“Trước khi nói đến tác dụng của loại thuốc trị “chứng nhược dương” (impotence) này, xin bàn đến cái tên Viagra mà nhà sản xuất “Pfizer” (fai-zơ) đã sáng tạo ra. Đây là lối chơi chữ qua việc ghép hai từ “vigor” (sự cường tráng) và Niagara, “thác nước ngoạn mục” (spectacular falls) với độ cao 50m nằm giữa biên giới Mỹ và Canada, tượng trưng cho “sức mạnh vô biên” (immense power).

(hết trích)

 

Bìa sau “Học Báo Tiếng Anh”

 

* Kinh tế: “Thị trường chứng khoán”

“Trong thời gian gần đây, “Thị trường chứng khoán” (stock market) là một “đề tài thới sự” (topic of current interest) được mọi người quan tâm. Báo “Vietnam Investment Review” (ngày 2 - 8/6/97) đã phỏng vấn ông Lê Văn Châu, “thành viên” (member) trong “Uỷ ban Thị trường Chứng khoán” (National Stock Market Committee), về “tiến trình thực hiện” (implementation process) và “hoạt động” (operation) của “Thị trường Chứng khoán” (TTCK) trong tương lai.

“Được hỏi về “thời gian thích hợp nhất để mở TTCK” (the most suitable time for stock market to open), ông Châu cho biết câu trả lời “tuỳ thuộc vào hai yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau” (depend on two closely related factors): (1) “nhu cầu” (need) và (2) “các điều kiện bảo đảm đáp ứng được nhu cầu này” (conditions secured for the satisfaction on this need).

(hết trích)

* Thễ thao: “Mike Tyson và đòn “mộc nhĩ”

“Chuyện xảy ra trên võ đài “khi chỉ còn 38 giây” (38 seconds left) trước lúc kết thúc “hiệp 3” (round 3). Hãng thông tấn “AP” (Associated Press) tường thuật: “Hollyfield jumped” (nhảy) up and down after being bitten on the right ear by Tyson…”

“Sau khi bị cắn (after being bitten), “vành tai phải” (right ear lobe) của Holyfield đã “chảy máu dầm dề” (bleeding badly) và “trọng tài” (referee) Mill Lane phải cho ngưng hiệp đấu để bác sĩ săn sóc vết thương. Tyson “bị phạt” (penalized) “một điểm” (one point) vì “cú húc bằng miệng” (butting in the mouth) thay vì “cú húc đầu” (head butt) như thường thấy trong “quyền Anh” (boxing) khi các “võ sĩ” (boxer) “nhập nội” (clinch).

(hết trích)

* Văn hoá: “Chuyện bên lề giải Oscar”

“A night to remember” là hàng tít chạy trên bản tin của hãng thông tấn Mỹ Associated Press (AP) bài tường thuật buổi lễ trao giải Oscar lần thứ 70 của “Viện hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh” (Academy of Motion Picture Arts and Sciences – AMPAS) được tổ chức đêm 23/03/98 tại Hollywood, Los Angeles.

Đây củng là đêm đáng nhớ của bộ phim Titanic với 11 giải Oscar, ngang hàng với bộ phim Ben-Hur cũng đoạt 11 Oscar vào năm 1959… James Cameron, người đoạt giải Oscar “Đạo diễn Xuất sắc” (Best Director) với bộ phim Titanic đã không dấu được xúc động: “… I just want to say… we’re here tonight to celebrate to the magic movies (sự kỳ diệu của điện ảnh) and I grateful every day to get to be a part of that magic, and a practitioner in it… and I love it… and tonight has been such a great celebration for us”.

(hết trích)

* Xã hội: “Khi nhà báo chơi chữ”

“Chơi chữ” (word play, play on words) là một nghệ thuật thuờng được áp dụng trong “văn chương” (literature) nói chung và trong “báo chí” (journalism) nói riêng. Để có thể “chơi” được với “chữ và nghĩa”, người cầm bút cần “một trình độ hiểu biết cao về ngôn ngữ” (a high level of language skills) cộng thêm “óc sáng tạo” (creativeness) và một chút “ý khôi hài” (sense of humor).

“Tờ Newsweek (22/6/98) bàn về hiện tượng “mua bán “vũ khí” (arms sales) tại châu Á với một tiêu đề thật hóm hỉnh “No Funds, No Guns”. Đây là lối “nhại chữ” (paraphrase) theo câu nói phổ biến của người phương Tây “No money, no honey” với hàm ý “thực dụng” (practical) trong quan niệm “tình yêu nặng về vật chất” (material love): không tiền bạc, không tinh yêu!

(hết trích)

 

“Học Báo Tiếng Anh” trên bán nguyệt san “Kiến Thức Ngày Nay”

 

Như đã nói ở trên, cuốn sách “Học Báo Tiếng Anh” gồm 122 bài viết trong năm 1997-1998 được xuất bản năm 1999 trong khi đó trên thực tế, tác giả còn giữ bản thảo những bài viết trong các năm tiếp theo với số lượng lên đến gần 500 bài đã đăng trong mục “Học Báo Tiếng Anh” trên tạp chí KTNN.

Nói chung, cuốn sách ra đời đã nhận được sự ủng hộ của người đọc, nhất là những người quan tâm đến tiếng Anh. Ngoài ra, cũng cần phải nói đến báo chí trong nước đã có những bình luận “có cánh” giúp cuốn sách lan toả rộng đến bạn đọc.

Báo Sài Gòn Tiếp Thị, ngày 4/9/1999, nhận xét: “... Đây cũng là công cụ nhằn thu ngắn cách biệt giữa kiến thức về ngoại ngữ tại trường lớp với thực tiễn cuộc sống hàng ngày...”

Báo Người Lao Động, số ra ngày 10/9/1999, giới thiệu: “... Người có trình độ tiếng Anh từ cao trung (upper-intermediate) trở lên, nếu chỉ quen cái học giáo khoa ‘bài bản’ ở trường lớp thì thường không dễ dàng đọc trôi một bài báo ngắn do ký gỉa nước ngòai viết một cách ‘lành nghề’... “Học Báo Tiếng Anh” của Nguyễn Ngọc Chính có thể giúp giải quyết một phần nào khó khăn ấy...”

Sài Gòn Giải phóng Thứ Bảy (phụ trương của nhật báo Sài Gòn Giải phóng), ngày 11/9/1999, phân tích: “... ‘Phương pháp Nguyễn Ngọc Chính’ về học tiếng Anh... So với phương pháp truyền thống của nhà trường có rất nhiều điểm mới...”

 

“Kiến thức Ngày nay” - Kỷ niệm số báo thứ 100 (năm 1993)

 

Quả là một trải nghiệm đáng nhớ trong cuộc đời cầm bút của tác giả khi đã lỡ lạc vào lãnh vực văn chương – xuất bản. Tôi gọi đó là “Tham vọng Văn chương”!

 

***

 

--> Read more..

Thứ Năm, 14 tháng 8, 2025

Niềm vui nhân đôi

Tôi có một người bạn từ thời trung học ở Ban Mê Thuột, anh kém tôi 1 tuổi nhưng học hành thật xuất sắc, năm nào cũng nhận được phần thưởng vào cuối niên học.

Đó là Nguyễn Văn Hoa, sau này anh về Sài Gỏn, học tại Phú Thọ và tốt nghiệp kỹ sư điện. Ra trường anh về Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật đồng thời giảng dạy điện tử và viễn thông tại Đại học Khoa học Sài Gòn.

Hoa đến xứ Cờ Hoa vào tháng 4/1975, ngay khi Sài Gòn sụp đổ… rồi định cư tại Bismarks, thủ phủ tiểu bang North Dakota, miền bắc lạnh giá trên đất Mỹ. Anh vẩn theo ngành kỹ thuật, làm chuyên viên kế hoạch cho một công ty điện và đến nay đã về hưu.

Mãi sau này tôi mới biết con người học kỹ thuật khô khan là vậy nhưng đầu óc lại tiềm ẩn “một nhà văn” với bút hiệu Nguyễn Ngọc Hoa. Tôi đoán, anh sửa lại chữ Văn trong giấy khai sinh thành Ngọc vì có lẽ tên của bà xã anh là Nguyễn Thị Minh Ngọc?

Anh kể mình sống tại Sài Gòn 10 năm, vừa đi học vừa đi dạy, đi làm… lúc về hưu lại mê viết để kể lại cho bạn bè nghe về những câu chuyện của cả một quãng đời xa xưa, đồng thời cũng để trau dồi tiếng Việt sau những năm dài xa quê hương.

Hoa viết rắt hăng, hiện có đến hơn 10 tập truyện ngắn, cho đến nay, tất cả đều đã được Nhà xuất bản Biển Ngọc ở Bismarks phát hành. Tôi đã có gần như đầy đủ đầu sách vì mỗi khi in xong anh luôn gửi cho tôi, gọi là… “chút niềm vui xa xứ”.

Để đọc các truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Hoa thân mời quý bạn vào trang nhà "Thân hữu Điện lực", mục "Truyện Ngắn của Nguyễn Ngọc Hoa" tại: 

https://dconnect.co.jp/.../TruyenNgan.../TruyenNgan-NNH.html.

Mới đây, tôi vừa nhận email của Hoa báo tin bà xã anh, Nguyễn Thị Minh Ngọc, hiện đang ở Sài Gòn và mang về cuốn sách mới nhất của anh, “Bản lãnh em tôi”. Sách gồm 24 truyện ngắn thuộc loại “Cố Quốc Tha Hương", chữ trích từ Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du:


 “Tấc lòng cố quốc tha hương

Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời”

 

Tác phẩm mới của Nguyễn Ngọc Hoa

 

Cũng như những cuốn sách trước, Hoa khẳng định những tác phẩm của anh “không phải là hồi ký, tự truyện hay là tài liệu ghi lại dữ kiện lịch sử, mặc dù nhiều tình tiết trong truyện có thực, kể cả nhân vật xưng hô “tôi” dùng như một chứng nhân để thuật lại chuyện đã qua”.

Trong truyện, tác giả chính là “Ba Hoa”, một biệt danh đúng như cái tên mà các bạn học ngày xưa thường gán cho những kẻ… “ba hoa chích choè” và thường đi với bước chân nhún nhảy của một con chim sáo.

Trong truyện “Bản lãnh em tôi”, Ba Hoa kể lại cuộc đời của Trọng, người em út thua anh đúng một con giáp nhưng lại là một hiện tượng đặc biệt: thông minh tử bé. Năm 14 tuổi Trọng đã bị cha là một sĩ quan chế độ cũ đã về hưu với tính khí bất thường” ông tố cáo con mình có hành động bất hiếu!

Khi gia đình sang Mỹ, cha anh uống rượu say và thường xuyên chửi bới thằng con “bất hiếu, bất mục”. Trọng bỏ nhà ra đi và trở thành một kẻ lang thang không nhà ở khắp các tiểu bang California, Texas và Florida. Trọng bắt đầu nghiện ngập và lâm vào vòng ma tuý.

Bị gia đình bắt về North Dakota để đưa đi cai nghiện, Trọng còn gỉa chứ ký của cha để rút tiền và bị bắt vào trại giam. Tại đây cậu tổ chức cuộc vượt ngục nhưng thất bại và tiếp tục ở tù.

Sau 6 tháng mất tự do mới thực sự chứng tỏ bản lãnh của Trọng: tiếp tục con đường đại học bằng cách vừa đi học, vừa đi làm. Trọng về nhà sau khi người cha khắc nghiệt qua đời. Lập gia đình, có 2 con và tiếp tục đi học để lấy bằng tiến sĩ cơ khí. Trọng là người đầu tiên trong dòng họ trở thành “Dr. Nguyễn”!

 

Bìa sau cuốn “Bản lãnh em tôi”

 

Mới đây “Ba Hoa” nhắn tin bà xã sẽ mang sách về cho tôi nhân chuyến tái hồi cố quốc. Tôi rất vui mỗi khi nhận được sách của người bạn học ngày xưa thật nhiều cá tính. Âu đó cũng là bạn bè hợp nhau qua sở thích văn chương khi đã về giá.

Chị Nguyễn Thị Minh Ngọc, đạo diễn sân khấu, biên kịch, nhà văn… về Việt Nam để ra mắt cuốn sách mới nhất, “Hồ nước mùa xuân”, mà chị nói trước qua điện thoại kèm giọng đùa, “Anh Hoa nói cuốn sách không hợp với cái “gu” của mình”!


“Hồ nước mùa xuân”, tác phẩm mới nhất của nhà văn & đạo diễn Nguyễn Thị Minh Ngọc

 

Sách là tổng hợp từ 21 truyện ngắn đã in rải rác trên các tạp chí từ trước năm 1975 cho đến nay. Chị Ngọc viết về cuộc đời và thân phận của nhiều phụ nữ, theo “Lời Giới Thiệu” ở đầu sách của Giáo sư Nguyễn Văn Sâm, có đọc mới thông cảm được cuộc đời của những con người đã từng bước qua sóng gió.

“… Có bầm dập đau thương trong cuộc sống từ quá khứ đến hiện tại, có chút ngang ngạnh, phản kháng trước những va chạm bầt công và có cả sự chịu đựng trong tủi nhục.

“Vì là một đạo diễn kịch nghệ, bài viết của chị mang tính chuyên đề (Sắc, Hương…), hay cay đắng trong giai đoạn trước và sau năm 1975 (Quán trọ. Dọn nhà…), lãng mạn và lạ lùng trong quan niệm tình yêu trai gái (Yêu tinh, Hồ nước mùa xuân, Hải Nguyệt).

“Nghề nghiệp khiến chị phái đi nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều mẫu người khác nhau. Vì vậy, chị có nhiều trải nghiệm hơn và chia sẻ rất thành thật trong lối hành văn độc đáo, khiến người đọc cảm thầy thú vị bởi sự đời thường.

 (hết trích)

 

Thủ bút của tác giả Minh Ngọc

 

Về phần mình, chị Minh Ngọc chia sẻ trong “Lời Tác Giả”:

“Thật ra, nhân mùa xuân, tôi cũng muốn gởi lời cám ơn đến những người đã chia sẻ nhiều chuyện riêng, chung với tôi lâu nay, trong ấy có cả học viên của tôi, khán giả, độc giả của tôi... Và sòng phẳng mà nói, dù thế nào đi nữa, tôi vẫn tin người nhận, để tâm hồn được giàu có hơn nhiều, chính là tôi.”

Đây là tác phẩm rất đáng đọc, không chỉ dành cho những ai yêu thích văn học mà còn cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về cuộc sống, về con người, đặc biệt là những người phụ nữ đầy nghị lực và khát vọng trong xã hội hiện đại.

Khi đọc “Hồ nước mùa xuân”, người ta dễ dàng nhận ra nhân vật của Minh Ngọc là người nữ đương đại, từ gái mới lớn, người tình, người mẹ, người phiêu lưu, kẻ cao sang, đến người cùng khốn, người nô lệ, kẻ hy sinh…

Truyện ngắn nào cũng lấy nhân vật nữ là trung tâm, mượn yếu tố gia cảnh, bối cảnh xã hội-thời đại để cảm nhận và bóc tách các lớp vỏ tâm lý của họ ở nhiều độ tuổi. Đó là những câu chuyện viết về cuộc đời và thân phận của nhiều người phụ nữ đáng thương nhưng cũng đáng yêu.

Ngoài những rung cảm với mỗi truyện ngắn, độc giả còn được thưởng thức 35 bức tranh sơn dầu nghệ thuật của họa sĩ Đinh Trường Chinh, con trai út của danh họa Đinh Cường. Các hoạ phẩm xoay quanh chủ đề nữ giới, tạo nên một sự kết hợp độc đáo giữa văn học và mỹ thuật.

 

Trong “Hồ nước mùa xuân” còn kèm theo 35 bức tranh của họa sĩ Đinh Trường Chinh, con trai út của danh họa Đinh Cường

 

Minh Ngọc đã dựng trên 30 vở và viết trên 70 vở kịch truyền thống và đương đại, hàng trăm kịch bản cho phim truyền hình và nhiều công trình nghiên cứu về nghệ thuật sân khấu và cải lương.

Quả thật đây là một trường hợp khá hiếm trong văn chương khi một cặp vợ chồng cùng dắt tay nhau bước vào lãnh vực viết sách.

Trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung xưa cũng có chuyện “song kiếm hợp bích” nhưng chuyện sách vở thời nay ít có chuyện như Nguyễn Ngọc Hoa – Nguyễn Thị Minh Ngọc cùng chọn chuyện viết lách như vậy.

Nhận được hai quyển sách “đặc biệt” chính là “nguồn vui nhân đôi” đối với tôi, một người “gần đất,xa trời” đã trót dấn thân vào lãnh vực văn chương chữ nghĩa. 

Xin đa tạ cả hai tác giả.

 

Cặp “song kiếm hợp bích” Nguyễn Ngọc Hoa - Nguyễn Thị Minh Ngọc

 

*** 

--> Read more..

Popular posts