Hiển thị các bài đăng có nhãn Thời điêu linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thời điêu linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2018

“Đảo Ánh Sáng” và thuyền nhân người Việt

30 tháng 4 năm nay có gì lạ?

Ngày 20/2/2018 đài truyền hình Pháp (France 2) đã trình chiếu cuốn phim tài liệu dài 65 phút với nhan đề “Île de Lumière” (Đảo Ánh Sáng) do đạo diễn Nicolas Jallot dàn dựng.

Đối với đa số người Việt, khi nói đến “thuyền nhân” có may mắn được các tàu nước ngoài cứu vớt ngoài Biển Đông, người ta thường chỉ biết đến các tàu của Hải quân Mỹ, tàu Cap Anamur của Đức… nhưng ít người nhắc đến chiếc tàu “Île de Lumière” của Pháp.

Thoạt đầu, chiếc tàu cũ “Île de Lumière” được mang danh là “tàu bệnh viện”, nặng 1.500 tấn, có chiều dài 90m và neo tại đảo Poulo Bidong, ngoài khơi Mã Lai. Trên tàu có 100 giường để chữa trị cho 20.000 thuyền nhân trên đảo qua sáng kiến của Bác sĩ Bernard Kouchner.

Kouchner có biệt danh “French Doctor”, vì ông là người sáng lập tổ chức “Médecins Sans Frontières” (Bác sĩ Không Biên Giới) để đưa các y sĩ Pháp đến giúp đỡ các nạn nhân chiến tranh hay thiên tai trên khắp thế giới. Sau đó, Kouchner còn sáng lập và điều hành tổ chức “Médecins Du Monde” (Y Sĩ Thế Giới), trước khi trở thành Bộ trưởng Ngoại Giao dưới thời Tổng thống Sarkozy.

Bác sĩ Bernard Kouchner

Thuyền trưởng “Île de Lumière” khi đó là François Herbelin, mới 29 tuổi, nhớ lại những  kỷ niệm sâu đậm nhất trên đời ông.

“Tôi rất cảm phục những người Việt… họ rất bình tĩnh, có tổ chức, có tư cách và quyết tâm đi tìm tự do. Khi mới tới đảo, họ kiệt lực, nhưng hồi phục rất nhanh và nghĩ ngay tới tương lai.”

Sau này, Herbelin thành hôn với một phụ nữ thuyền nhân người Việt và trở thành thuyền trưởng một chiếc tàu thương mại.

Năm 1979, tàu rời thủ đô Nouméa của Nouvelle-Calédonie với 17 nhân viên y tế để đến Singapore rồi tiếp tục cuộc hành trình đến đảo Bidon để chăm sóc sức khỏe cho những thuyền nhân trên đảo.

Tàu Bệnh Viện "Ile de Lumière" 

Chín tháng sau, “Île de Lumière” bắt đầu sứ mạng mới: ra khơi cứu vớt những thuyền nhân lênh đênh trên biển cả để tìm tự do, dù biết rằng đó là sự liều lĩnh giữa sự sống và cái chết, giữa giông bão và hải tặc. Hiện vẫn chưa có được con số thống kê chính xác nhưng điều chắc chắn là có đến hàng trăm ngàn người bỏ mạng trên biển cả.

Về phần mình, tàu “Île de Lumière” đã cứu hàng chục ngàn người, chở về Poulo Bidong chờ ngày được nhận đi định cư ở Hoa Kỳ, Canada hay Âu Châu. Sau 14 tháng ngược xuôi, “Île de Lumière” được thay thế bởi một chiếc tầu mới, “Île de Lumière II”.

Sứ mạng nhân đạo của tàu “Île de Lumière” chấm dứt khi làn sóng người tỵ nạn giảm dần vào cuối thập niên 1980. Chiếc tàu trở lại công việc bình thường trong việc chuyên chở hàng hóa theo hải trình giữa Nouvelle Calédonie, Úc Châu và New Zealand. Tháng 2/1986, tàu ngưng hoạt động.

Người tỵ nạn trên đảo Bidon

“Île de Lumière” được hiểu theo tiếng Việt là “Đảo Ánh Sáng”, một cái tên nhiều ý nghĩa. Những người lênh đênh vượt biển chỉ có một hy vọng cuối cùng là được nhìn thấy đất liền. Nói chính xác hơn là một hòn đảo nào đó. “Île de Lumière” chính là hòn đảo ánh sáng của hy vọng, của sự sống!

Hơn thế nữa, “Île de Lumière” lại là biểu tượng của “cái bắt tay lịch sử” giữ hai giới trí thức “thiên tả” và “thiên hữu” tại Pháp. Một trong những gương mặt nổi bật của phe “thiên tả” là triết gia Jean Paul Sartre, một trong những người hình thành chủ nghĩa hiện sinh (existentialism) tại Pháp.

Sartre, một người thiên Cộng, đã từng nói một cách thẳng thừng: “Những người chống Cộng là những con chó” (Tout anticommuniste est un chien). Trong khi đó, Raymond Aron là triết gia, bình luận gia đã viết sách, viết báo để vạch trần bộ mặt thực của chủ nghĩa Cộng Sản.

Tại Pháp thời đó, Sartre được ngưỡng mộ, Aron bị đả kích, chế nhạo. Tuy nhiên, Sartre đã chuộc lại những lầm lẫn của mình bằng một thái độ đáng phục: khi tuổi đã cao, ông đã bỏ qua tự ái để cùng Aron gõ cửa chính quyền, kêu gọi cứu giúp khẩn cấp các thuyền nhân Việt Nam.  

Vào cuối năm 1979, chuyện khó tin nhưng có thực đã xẩy ra: hai ông lãnh tụ trí thức “không đội trời chung” đã ngồi lại với nhau và cùng lên tiếng ủng hô dự án “Île de Lumière” của Bernard Kouchner, kêu gọi dân Pháp mở rộng bàn tay tiếp đón thuyền nhân.

Sartre cùng với Aron vào điện Elysée, kêu gọi Tổng Thống Giscard d’Estaing đón nhận những thuyền nhân trên lãnh thổ Pháp. Tổng Thống chấp thuận và dân chúng vui lòng đón tiếp, tận tình giúp đỡ trên 128,000 thuyền nhân, chỉ trong những năm đầu. Trong đó, dĩ nhiên, nhiều người đã được tàu “Île de Lumière” cứu vớt ngoài Biển Đông.

“Cái bắt tay lịch sử” giữa Jean Paul Sartre (trái) và Raymond Aron (phải)

***

P/S: Theo tài liệu chúng tôi có được, tàu “Île de Lumière” cũng có sự tham gia của ông Võ văn Ái, chủ nhiệm tạp chí Quê Mẹ, hiện vẫn còn sống tại Pháp. Con tàu do một độc giả của Quê Mẹ từ Nouvelle Caledonie gọi sang cho ông Ái và đề nghị cho mướn.

Trong bích chương kêu gọi giúp đỡ “Một con tàu cho Việt Nam”, một trong số những người đầu tiên ký tên kêu gọi có ông Võ văn Ái, bên cạnh những tên tuổi 'lớn' như Brigitte Bardot, Yves Montand, Olivier Todd... Ngoài ra, tất cả ngân phiếu, tiền yểm trợ của độc giả đều được yêu cầu gởi về địa chỉ “25 rue Jaffeux, 92230, Gennevilliers”. Đây chính là địa chỉ của tạp chí Quê Mẹ mà ông Võ văn Ái là chủ biên.

Đối với thuyền nhân, tàu “Île de Lumière” xuất hiện như một tia sáng của hy vọng

***

* Tham khảo thêm: Giới thiệu phim “Île de Lumière” của đạo diễn Nicolas Jallot tại https://vimeo.com/232827503


Hải trình của "Île de Lumière"

***

--> Read more..

Thứ Năm, 16 tháng 11, 2017

Vui buồn thời điêu linh: Học tập cải tạo

Tại miền Nam, vào tháng 6/1975 Chính phủ Lâm thời Cộng hòa niền Nam Việt Nam ra thông cáo bắt buộc sĩ quan và viên chức Việt Nam Cộng hòa phải đi “học tập cải tạo”. Thông báo của Ủy ban Quân quản nêu rõ:

"Việc tổ chức cho ngụy quân, ngụy quyền và các đối tượng phản động ra trình diện học tập cải tạo thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước, có tác dụng phân hóa hàng ngũ bọn phản động, cô lập bọn đầu sỏ ngoan cố, đập tan luận điệu tuyên truyền chiến tranh tâm lý của địch, tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân."

Cụ thể hơn, chính quyền đưa ra bốn thành phần cần phải tập trung cải tạo: (1) Ngụy quân: sĩ quan từ cấp úy đến cấp tướng; (2) Ngụy quyền: cảnh sát, tư pháp, hành chính; (3) Đảng phái phản động: đảng viên hoạt động từ cấp quận trở lên; và (4) Đầu hàng, phản bội: các phần tử bị Ngụy quyền chiêu hồi.

Bên cạnh đó là những thành phần không thuộc bốn diện trên nhưng có hoạt động chống phá như nhà văn, nhà báo (còn được gọi là “những tên biệt kích cầm bút")... cùng các tội phạm hình sự như trộm cướp, ma túy cũng được xếp vào diện phải đi học tập cải tạo.

Thực tế thì việc học tập cải tạo bắt đầu từ tháng 5/1975 đối với hạ sĩ quan và binh sĩ VNCH. Họ phải qua một khóa chính trị 3 hay 4 ngày rồi được chính quyền địa phương cấp giấy chứng nhận để cho về. Thế cho nên, đa số các sĩ quan cũng chỉ “mong” tới phiên mình “được” học tập và sớm trở về với gia đình và xã hội.

Giấy chứng nhận đã học tập cải tạo cấp cho hạ sĩ quan và binh sĩ VNCH

Thời gian trình diện được quy định từ ngày 13 đến 16/6/1975. Người ta chú ý đến chi tiết phải mang theo lương khô đủ dùng trong 10 ngày để tự túc về lương thực. Hạ sĩ quan và binh sĩ đã học 3 ngày nên sĩ quan cấp úy sẽ học 10 ngày là điều… vô cùng hợp lý. Đối với nhiều người, đó là một chính sách nhân đạo.

Một trong những trường hợp lạc quan là Bác sĩ Nguyễn Phước Đại, khi đó làm Giám đốc Bệnh viện Sài Gòn (xế bên Chợ Bến Thành). Ông vốn là dân Tây mới về nước nên thắc mắc với các nhân viên trong bệnh viện: “Lươn khô tôi không biết ăn, vậy chứ nếu mang thứ khác thay thế được không?”. Ông bác sĩ giỏi tiếng Pháp nhưng lại không rành tiếng Việt nên cứ tưởng “lương khô” là… con lươn được sấy khô! 

Thủ tục đầu tiên để được cải tạo là… đăng ký để đi học. Địa điểm tôi đăng ký là trường Taberd nằm ở góc đường Hai Bà Trưng – Lê Thánh Tôn, sau này đổi tên là trường Trung học Sư phạm. Trong ba lô hay túi xách của mỗi người đi trình diện có các loại lương khô như mì gói, gạo sấy, thịt chà bông… kèm theo các vật dụng cá nhân như một bộ quần áo để thay đổi, bàn chải-kem đánh răng và vài viên thuốc cảm phòng khi trái nắng trở trời.

Nói chung, bầu không khí đăng ký tại đây có phần “hồ hởi” vì ai cũng nghĩ đến ngày học xong để trở về với gia đình và xã hội. Việc đăng ký cũng đơn giản: chỉ cần khai họ tên, số quân, cấp bậc, chức vụ, đơn vị phục vụ… Tuy nhiên, đăng ký xong là tập trung học tập ngay chứ không phải… đăng ký, giữ chỗ rồi về nhà chờ.


Trình diện học tập cải tạo

Ngay tối hôm đó chúng tôi được một đoàn xe Molotova bít bùng chở đến địa điểm học tập. Trên xe ngoài tài xế còn có 2 anh bộ đội với súng AK ngồi ngoài cùng. Các anh còn rất trẻ, khi thấy trong xe tôi có cả nữ quân nhân nên nói với nhau: “Lại còn đem cả vợ đi học nữa”!

Đường ban đêm nên chẳng biết xe đi đâu. Mọi người chỉ đoán xe chạy rất lâu, khoảng 100 km, thì dừng. Có người tỏ ra quen thuộc với địa điểm này, anh nói hình như đây là căn cứ Trảng Lớn của Sư đoàn 25 bộ binh ở Tây Ninh. Anh bạn cùng xe với tôi đã nói đúng vì trước đây anh phục vụ tại sư đoàn này.

Tuy vậy, anh chỉ đúng có một phần. Hồi xưa đơn vị anh là chủ căn cứ nhưng giờ đây nơi này thuộc quyền kiểm soát của “bên thắng cuộc”. Chúng tôi chỉ là “những người khách không mời” của trại cải tạo Trảng Lớn, Tây Ninh. Sự nghiệt ngã của chiến tranh là vậy.

Nằm ở phía Tây Nam Sài Gòn, Trảng Lớn là một căn cứ quân sự quan trọng chỉ cách biên giới Cambodge chừng 40 km. Ngọn núi Bà Đen cũng là một điểm chiến lược trọng yếu, từ đây có thể khống chế toàn khu vực nên có đặt một đài radar. Đối với người cải tạo, núi Bà Đen (trước đây còn được gọi là “Đỉnh Buồn Hiu” vì mang tên Núi Một) tượng trưng cho Sài Gòn để họ hướng về nơi gia đình và người thân đang sống.

Núi Bà Đen, Tây Ninh

“Trảng” là một từ ngữ phổ biến tại vùng Tây Nam bộ, hàm ý một vùng cỏ hoang, bằng phẳng giáp với rừng hay giữ hai cánh rừng. Đó có thể cũng là lý do Sư đoàn 25 thiết lập một căn cứ quân sự khá lớn với nhiều doanh trại làm theo kiểu nhà tiền chế và rất nhiều kho quân nhu, quân dụng.

Giờ thì mỗi căn nhà có thể chứa khoảng 50 người cải tạo, một sự sắp xếp trớ trêu của định mệnh sau ngày miền Nam thất thủ. Phải nói là chúng tôi vẫn còn may mắn khi Trảng Lớn đặt dưới quyền kiểm soát của bộ đội chứ không là công an. Vì sao ư? Đơn giản chỉ vì bộ đội không quá khắc nghiệt như công an, vốn nổi tiếng với cách điều hành một trại giam.

Mọi người sống trong tâm lý… “sinh hoạt cầm chừng” chờ ngày được về. Thời gian hơn 10 ngày đã qua đi mà trại chỉ mới tổ chức một hai buổi “lên lớp chính trị” với các bài giảng như “đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân”, “thật thà khai báo việc làm trong thời gian qua để sớm được trở về với gia đình”…

Sau mỗi buổi học tập chính trị, mỗi cá nhân phải viết “bản tự kiểm” nộp cho “quản giáo”, tức bộ đội phụ trách từng đội. Cũng có những buổi sinh hoạt tổ được giám sát bởi quản giáo để mọi người đứng ra thú nhận “tội máu với nhân dân” dù đó là anh bác sĩ quân y, anh công binh xây dựng cầu cống hoặc anh giảng viên quèn như bản thân tôi. Tất cả, dù dưới hình thức này hay hình thức khác, đều là… “kẻ thù của nhân dân”!

Ngay buổi học tập chính trị đầu tiên chúng tôi đã bị một cú sốc lớn về văn hóa của “chính uỷ” tiểu đoàn. Đó là một loại “cultural shock” mà tôi không thể nào quên. Trước một tập hợp những người cải tạo từ các đội trong một hội trường lớn, ông quản giáo phụ trách chính trị đã “lên lớp” các sĩ quan cải tạo. Đại khái như sau:

“Đế quốc Mỹ chính là con đỉa hút máu… chúng hút máu nhân dân Mỹ bằng những tay trùm tư bản lên nắm quyền Tổng thống, cai trị nhân dân lao động. Ford là Tổng thống nhưng trước đó hắn là chủ nhân công ty sản xuất xe ô-tô… thì là sao mà có chuyện thương người lao động chân tay, khổ cực, lầm than…” 

Vấn đề là vị quản giáo trên bục giảng đã quá coi thường những sĩ quan cải tạo. Ít nhất họ cũng là những người có trình độ từ tú tài trở lên nên thừa hiểu biết Henry Ford, người sáng lập Công ty Ford Motor, đã qua đời từ năm 1947… còn đương kim Tổng thống Gerald Ford là kẻ hậu sinh, được bầu là Tổng thống thứ 38 của Hoa Kỳ, năm 1974.

Một chuyện thuộc lại “tiếu lâm” khác cũng xảy ra tại một trại học tập cải tạo ở miền Nam. Khi thuyết trình về tình hình chính trị quốc tế tại Trung Đông, có một quản giáo đã nói đến hai nước “Một La Mã Răng” và “Một La Mã Rắc” trước sự ngạc nhiên của người cải tạo. Mãi sau này mới hiểu đó là các nước Iran và Iraq.

Phải thành thật nhìn nhận, trình độ hiểu biết về chính trị của các cán bộ quản giáo rất yếu kém. Tuy nhiên, khi giảng về đạo đức các vị vẫn thuộc nằm lòng câu nói của người xưa, “Đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”. Có điều những người “chạy lại” bị tập trung rất lâu trong trại.

Ngày tàn cuộc chiến

Những ngày đầu chúng tôi đều tin tưởng rằng mình sẽ được trở về sớm nhưng có người phân tích: thông cáo bảo mang theo lương khô đủ dùng trong thời gian 10 ngày… chứ đâu có nói “học tập 10 ngày”!

Anh em lại hy vọng chắc đến 2/9/1975 là ngày Quốc khánh sẽ được về nhưng tất cả đều thất vọng vì có lệnh của tiểu đoàn phải cuốc đất trồng rau, tăng gia sản xuất để “cải thiện” bữa ăn. Như vậy là đồng nghĩa với việc “yên tâm cải tạo” và chờ… khi nào cải tạo tốt thì được trại cho về!

Một ngày trong trại cải tạo được bắt đầu với tiếng kẻng đánh thức vào lúc 5 giờ sáng. Người cải tạo cũng như cán bộ “khung” trên tiểu đoàn đều thức dậy để chào ngày mới bằng những động tác thể dục mà chúng tôi gọi vui là theo kiểu… “chim bay, cò bay”.

Trước khi chấm dứt bài thể dục, cán bộ trên tiểu đoàn hô khẩu hiệu “Rèn luyện thân thể. Bảo vệ tổ quốc”. Còn chúng tôi, những người cải tạo chưa được chính thức có quyền công dân nên khẩu hiệu hơi khác đi: thay vì “Bảo vệ tổ quốc” mọi người phải sửa thành… “Học tập tốt”!

Sau màn thể dục là thời gian làm vệ sinh cá nhân. Nước thì đã có giếng, được kéo lên bằng những sợi dây bện bằng sợi nylon của bao cát. Chúng tôi may mắn vì trong căn cứ của Sư đoàn 25 có cả một kho bao cát chưa sử dụng, anh em tha về, tháo những sợi nylon rồi bện thành dây để kéo nước từ giếng lên. Có người khéo tay còn “sáng chế” ra áo khoác hay mũ đội đầu bằng bao cát. Cái khó không bao giờ bó cái khôn!

Tùy theo lịch làm việc đã được quản giáo thông báo với “đội trưởng” (cũng là người cải tạo), công việc trong ngày được phân công đại khái như sau: toán “lao động vườn rau” làm công việc “thu gom” phân và nước tiểu để chăm bón cây. Đây là một công tác không đòi hỏi sức khỏe nhưng lại rất… “nặng mùi”!

Toán “lao động chính” chờ vệ binh xuống để dẫn đường đến các điểm được chỉ định. Có thể đến Phi đạo L19 để dọn dẹp. Căn cứ Trảng Lớn ngày xưa có một phi trường nhỏ dành cho phi cơ L19, mặt phi đạo được lót bằng những tấm vỉ sắt dài, có những lỗ hình tròn. Cứ 6 người tha một vỉ sắt dài để mang về đội.

Những nhà thiết kế vỉ sắt không ngờ ngoài việc làm tấm lót phi đạo thay cho nhựa đường và xi măng lại còn có những công dụng mà họ chẳng bao giờ nghĩ tới. Đối với người cải tạo, vỉ sắt được dùng trong rất nhiều việc: làm “tường” vây các hố tiêu, tiểu… làm sàn nước quanh giếng để tắm rửa, giặt giũ.

Cũng tại phi trường bỏ hoang, chúng tôi săn nhặt những mảnh nhôm còn sót lại để đem về trại và “chế tác” thành những vật kỷ niệm cải tạo mà có lẽ chỉ Trảng Lớn mới có. Đó là những chiếc lược nhôm “Made in Trảng Lớn” mà người cải tạo sau này đem về tặng những người thân, người tình hoặc giữ lại cho chính mình.

Trong đội của tôi có một anh nguyên là kỹ sư công binh, có nghĩa là anh khéo tay chế biến các vật kỷ niệm trong điều kiện vô cùng thiếu thốn các dụng cụ để chế tác. Trước hết là công đoạn cắt mảnh nhôm thành hình những đồ vật mà mình tưởng tượng trong trí: chẳng hạn như một cái lược.

Kỷ vật trại cải tạo

Nhôm là kim loại rất dễ uốn nắm chứ không cứng như sắt hoặc thép. Chỉ cần một cây sắt mài nhọn ta có thể khắc những hoa văn, hình ảnh hay chữ viết trên tấm nhôm kỷ niệm. Người cải tạo chúng tôi gọi công việc này là “xủi”, có nghĩa là khắc họa trên tác phẩm.

Chỉ cần một người chuyên môn như “ông thầy công binh” biết cách chế tác là cả đội có thể học lóm và những ngày nghỉ cuối tuần đội cải tạo biến thành một “xưởng thợ”, sản xuất những mặt hàng kỷ niệm để mai này về tặng lại cho người thân. Vật kỷ niệm trở thành vô giá. Ông bà ta thường nói “Của một đồng, công một nén” nhưng có lẽ trong trường hợp này giá trị tinh thần còn cao hơn thế nữa. 

Công tác lao động “nặng” nhất là việc dọn dẹp phía trong hàng rào chung quanh căn cứ đã bị bỏ hoang một thời gian. Trong chiến tranh, hàng rào phòng thủ thường gài mìn để ngăn ngừa xâm nhập. Thế là đã có những vụ nổ mìn do bất cẩn và kết quả là… từ bị thương cho đến chết.

Kinh khủng nhất là loại “lân tinh”, chiếu sáng nhờ chất phốt-pho. Một khi phát nổ, hóa chất có thể dính vào thân thể và cứ thế ăn mòn da thịt. Âu cũng là số mạng. Chiến tranh 20 năm qua không chết mà lại chết trong thời bình!

Súng đạn lúc nào cũng vô tình nên một quả M79 sau khi được bắn ra chưa đủ vòng quay nên chưa nổ… chỉ cần vô tình đụng nhẹ cũng đủ kích động. M79 vốn được thiết kế để phá hủy sắt thép thì làm sao con người bằng xương, bằng thịt có thể sống sót!

Quả đạn M79 là một thứ vũ khí mang lại sự chết chóc… nhưng cũng chính ống phóng của quả đạn này dưới bàn tay “đa năng, đa hiệu” của người cải tạo cũng có thể trở thành một kỷ vật đầy ý nghĩa để đánh dấu chuỗi ngày học tập, mất hẳn quyền tự do tối thiểu.

Ngày ra trại, trong hành trang của tôi lúc trở về với cuộc sống bình thường có hai vật kỷ niệm: một chiếc lược nhôm và một chiếc vòng có “xủi” 6 cái tên trong gia đình làm từ ống phóng M79. Những kỷ vật vô giá này đã truyền lại cho đời cháu để nhớ lại những gian khổ mà bản thân tôi đã phải vượt qua.

Chiếc vòng bằng ống phóng M79 có khắc tên kỷ niệm 6 người thân

Tôi thuộc loại người luôn “lạc quan” trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào. Triết lý sống của tôi thật đơn giản như chuyện “Tái ông thất mã” trong Cổ học Tinh hoa. Ông già họ Tái không buồn khi mất đi con ngựa, đến khi con ngựa trở về mang theo một ngựa con ông cũng chẳng vui khi hàng xóm đến chúc mừng. Con trai cưỡi ngựa bị té gãy chân, hàng xóm đến chia buồn nhưng ông bảo ông vẫn dửng dưng không coi đó là xui xẻo. Quả nhiên, vì bị gãy chân nên con trai ông không phải tòng quân!

Vui – Buồn, Vinh – Nhục, Họa – Phước cứ đến rồi đi, cứ lên rồi xuống tựa như một chuyển động hình Sin. Người ý thức được sự tuần hoàn trong vũ trụ sẽ có một thái độ dửng dưng, an nhiên tự tại trước những biến cố của cuộc đời. Cười người chớ vội cười lâu, cười người hôm trước, hôm sau… người cười!

Người cải tạo sinh hoạt trong một môi trường khép kín, vây quanh bởi lớp hàng rào kẽm gai, cách biệt với cuộc sống bên ngoài xã hội. Tuy nhiên, đó cũng lại là một trong những lý do khiến chúng tôi cảm thấy gần gũi với nhau hơn. Trong bối cảnh một xã hội cùng cực luôn xuất hiện những người bạn chí cốt, những người đã chia sẻ buồn vui trong quãng đời hoạn nạn, điêu linh.

Có thể nói, học tập cải tạo đã dậy cho tôi, không phải là những bài học chính trị, mà là ý nghĩa của của hai chữ “bạn bè”. Người ta thường lẫn lộn giữa Bạn và Bè. Ta thường nghĩ “tứ hải giai huynh đệ” nhưng thật ra có những người không phải là bạn mà chỉ là bạn nhậu, bạn chạy áp phe… giữa một xã hội xô bồ.

Bạn cải tạo không phải là vậy. Chỉ sau một thời gian ngắn tôi đã tìm ra những người bạn “chí cốt” mà gần nửa thế kỷ sau này mỗi khi có dịp gặp lại vẫn thấy tình bạn nồng ấm như những ngày còn trong trại học tập. Theo tôi, một trong những nguyên tắc để có được một tình bạn như vậy nằm trong hai chữ “vị tha”.

Nhớ lại ngày còn mới chập chững làm quen với xã hội khép kín, miếng ăn bao giờ cũng là mối quan tâm hàng đầu của những cái bao tử lép kẹp. Cơm được lãnh từ “anh nuôi” về theo từng thau, cứ 5 người một thau. Làm sao để chia thau cơm thành 5 phần đều nhau là cả một bài toán khó.

Thau cơm được cắm một chiếc đũa ngay giữa tâm của thau, từ đó vẽ ra 5 đường thẳng chia thành 5 phần giữa 10 con mắt theo dõi một cách chăm chú. Người đứng chia sẽ là người cuối cùng nhận phần cơm nên phải cố chia cho đều, nếu mình không muốn nhận phần nhỏ nhất. Ai cũng hiểu “miếng ăn là miếng tồi tàn” nhưng biết làm thế nào trong hoàn cảnh này?

Thau cơm của 5 anh em chúng tôi không chia đều mà “tự giác” mỗi người xúc cho mình một chén, phần còn lại để dành cho bữa “ăn sáng” ngày mai. Đó quả là một quyết định phải nói là “phi thường” trong tình hình đói kém.

Ngày xưa, một trong những khẩu hiệu trong quân đội là “tự thắng để chỉ huy”. Câu chuyện “chia cơm” được kể lại ở đây với hàm ý khi con người tự thắng được dục vọng của chính mình sẽ trở thành vị tha đối với bạn bè đồng cảnh ngộ. Thế cho nên, tình bạn mang nhiều ý nghĩa khiến sau này gặp lại nhau vẫn không thể nào quên.

Tôi vốn là người không có sức khỏe cường tráng như các đồng đội khác nên những người bạn cải tạo sẵn sàng hỗ trợ khi gặp những trường hợp phải dùng sức lao động nặng. Có bạn còn an ủi: “Cứ làm ‘thợ vịn’ cũng được rồi!”.

Tuy mang cái tên “thợ vịn” nhưng những lúc rảnh rỗi cũng làm “thầy” khi giúp các bạn học thêm Anh văn để mở mang kiến thức! Tôi cũng là “học trò” của một anh bạn giỏi chữ Hán. Không có tài liệu nên “thầy” dậy viết theo cách “nhớ tới đâu, dậy tới đó”. Chúng tôi chỉ dùng que để viết trên đất. Thế là đủ!

Tôi cũng có một thời gian bị bệnh tại Trảng Lớn: đau thắt bên lưng và đi tiểu gắt. Mấy bác sĩ quân y cải tạo định bệnh ngay là sạn thận vì hậu quả của việc lao động nặng. Lên bệnh xá khai bệnh với y tá nhưng làm gì có thuốc trị bệnh nên lại về. Bác sĩ cải tạo bảo phải đào rễ tranh để nấu nước uống sẽ có hy vọng tống được cục sạn ra ngoài.

Khi được viết thư về gia đình tôi chỉ nhắn ráng tìm “râu bắp” đem vào. Ở nhà không hiểu tại sao nhưng cũng đem thật nhiều… râu bắp. Quả nhiên, uống nước râu bắp và rễ tranh rất “lợi tiểu” và kết quả là hòn sạn không biết đã tự tiêu hủy hay đã thoát ra ngoài cùng nước tiểu. Đó là phương thuốc “khắc phục” còn hiệu quả hơn là thuốc “Xuyên Tâm Liên” ngày đó. 

Kỷ vật trại cải tạo với cán lược chạm trổ

Người cải tạo trước khi vào trại thuộc đủ thành phần trong xã hội, vì hoàn cảnh nên bị động viên vào quân ngũ. Có anh còn có tài kể chuyện, anh kể vanh vách các tác phẩm của Kim Dung nên tối tối chúng tôi quây quần nghe hết “Cô gái Đồ Long”, “Anh hùng xạ điêu”, “Lục mạch thần kiếm” và cả truyện 9 lần vượt ngục của Papillon!

Những buổi nghe truyện như vậy kéo dài đến 9 giờ đêm khi trên trung đoàn tắt đèn và kẻng báo đã đến giờ đi ngủ. Hôm nào người kể truyện “khó ở trong mình” (hay cũng có thể là cần thời gian để “hệ thống hóa” cuốn truyện trong đầu), anh thông báo: “Tối nay không có phim vì… Hồng Kông chưa đem qua!”.

Người cải tạo còn làm được cả đàn guitar để hát nhạc vàng… nhưng khi quản giáo xuống sẽ đổi sang… “nhạc hồng”, chẳng hạn như bài “Nếu là chim…”. Đó là lời bài hát có tên “Tự nguyện” của Trương Quốc Khánh, sáng tác năm 1970 tại miền Nam trong phong trào phản chiến.

Cách mạng rất thích “Tự nguyện” vì lời bài hát dựa theo ý của một người Cộng sản Phương Tây. Bài hát đặt ra 3 giả dụ bắt đầu bằng chữ “Nếu…”: là chim, là hoa, là mây và cuối cùng “nếu là người” thì sẽ chết cho quê hương. Cũng có người cắc cớ hỏi, vậy chứ đặt ra giả thiết “nếu là người” hàm ý gì? Chắc trước đây không phải là người nên mới có chữ “Nếu”?  

Ca sĩ trong những đêm ca nhạc “chui” đều là “cây nhà, lá vườn”. Có những giọng ca ngọt ngào chẳng kém gì Sĩ Phú, Tuấn Ngọc hay Elvis Phương… và có những tay đàn điệu nghệ không thua gì “ọc-két vi-văng” trong vũ trường ngoài đời. Ban nhạc lại còn được được giữ nhịp bằng hai chiếc muỗng… dã chiến.

Chúng tôi tìm vui cho qua ngày, đoạn tháng vì giờ đã biết ngày về vô định. Gần Tết có lệnh trên tiểu đoàn: tất cả tập họp mang theo toàn bộ tư trang. Có người mừng thầm… không biết chừng… được về. Tuy không tin nhưng sâu kín trong lòng… tôi hy vọng như vậy.

Thỉnh thoảng vẫn có những lần kiểm tra vật dụng cá nhân nhưng lần này khác hẳn. Buổi tập họp này rất lạ, cán bộ đọc danh sách, ai được gọi tên đứng sang một bên. Gọi tên những người về chăng? Tôi không được gọi tên, các bạn trong cùng “thau cơm” cũng chẳng có ai, số người được gọi tên khoảng 20 người.

Tại trại, thành phần cải tạo có thể chia thành 2 loại chính: (1) loại lính văn phòng có chuyên môn kỹ thuật như bác sĩ quân y, kỹ sư công binh, giáo sư biệt phái… và (2) lính tác chiến như “giặc lái” Không quân, “giặc nói” Tâm lý chiến, “lính thủy đánh bộ” Thủy quân Lục chiến, “cọp ba đầu rằn” Biệt động quân, “thiên thần mũ đỏ” Nhảy dù…

Mãi cho đến bây giờ, hình như trại đang làm công việc phân loại tù nhân vì đa số những người được gọi tên thuộc nhóm thứ hai. Họ được lệnh di chuyển lên sân tiểu đoàn, có xe Molotova chờ sẵn và thế là… giã từ Trảng Lớn. Giã từ “hòm thư” 7595, “bí số” L1T5!

Mãi sau này tôi mới biết, họ được chở về Sài Gòn nhưng đó không phải là điểm đến cuối cùng. Họ tiếp tục cuộc hành trình từ bến tàu và trực chỉ… đảo Phú Quốc. Thân phận tù đầy như thế đó.

Papillon cũng đã qua nhiều lần chuyển trại tại các đảo tận ngoài khơi Thái Bình Dương. Người cải tạo được ra đảo Phú Quốc có lẽ còn may mắn hơn những người “được” đi xe lửa ra tận miền Bắc để về những nơi “sơn lam chướng khí”. Chúng tôi, những người ở lại Trảng Lớn, lại là những người may mắn nhất trong số những người bất hạnh.

Bất hạnh nhất là anh Ngô Nghĩa, sĩ quan pháo binh, đã bị xử bắn sau khi kế hoạch “trốn trại” không thành. Anh bị hành quyết trước sự chứng kiến của đại diện các đội. Những người tham dự buổi hành quyết hôm đó về kể lại cho anh em trong đội từng chi tiết. Đó cũng là thâm ý của trại muốn nhắn nhủ người cải tạo: Trốn trại là tìm đường chết!  

Tôi thấy số phận của anh Ngô Nghĩa còn bi thảm hơn Papillon sau 9 lần vượt ngục vì kết cuộc vẫn tìm được Tự do. Còn Ngô Nghĩa của chúng tôi đã bỏ xác tại Trảng Lớn. Tôi vẫn thắc mắc, sau này thân nhân của anh có tìm được nấm mộ đắp sơ sài, không bia đánh dấu chứ chưa nói gì đến nhang khói?

Khi học tập đã lâu, và chắc cũng đã “thông suốt”… chúng tôi được chuyển sang một trại mới có tên Trảng Táo. Không ngờ cuộc đời mình cứ loanh quanh ở các trảng, hết Trảng Lớn lại đến Trảng Táo.

Tuy nhiên, người cải tạo vẫn thấy “hồ hởi” vì theo cán bộ, chúng tôi được “đưa ra ngoài lao động thật sự” để chờ ngày về. Mà “vui” thật! So với Trảng Lớn về các tiện nghi sinh hoạt thì Trảng Táo chẳng có gì nhưng lại nằm gần ga Gia Huynh có nghĩa là gần với xã hội bên ngoài. Công tác lao động đầu tiên là vào rừng lấy lá về dựng lán trại.

Vui nhất là được tiếp xúc với “thế giới bên ngoài” khi nhìn những chuyến tầu qua lại. Những chuyến xe lửa từ trong Nam ra ngoài Bắc hay ngược lại, chúng tôi gọi là “những chuyến tầu ma” trên đường sắt Thống Nhất. “Những con ma trên tầu” yên lặng nhìn “những con ma vác lá bên đường rầy”. Không một cái vẫy tay chứ chưa nói gì đến một nụ cười… thông cảm.

“Những chuyến tầu chợ” thì khác hẳn. Luôn luôn để lại cho người cải tạo nhiều ý nghĩa vì khách trên tầu là người miền Nam, có lẽ họ đi buôn để kiếm đồng ra đồng vào. Cũng có thể họ đi thăm bà con tại các tỉnh nhưng điều quan trọng là họ biểu thị sự thông cảm với hoàn cảnh của những người cải tạo bằng những cái vẫy tay. Chúng tôi cũng vẫy tay lại.

Tôi chưa gặp trường hợp hi hữu này nhưng qua lời kể lại của những bạn cùng trại, người cải tạo còn nhận được quà gói trong bọc nylon từ những người khách quăng xuống từ trên tầu. Khi thì vài cục đường tán, khi thì một bịch thuốc rê… Đó là tấm lòng của người miền Nam, dù cũng đói khổ nhưng cũng thể hiện tinh thần… “lá rách đùm lá nát”!

Cũng có thể chính người khách trên tầu là thân nhân của người cải tạo đứng bên đường ray nên tìm cách tiếp tế cho những người đồng cảnh ngộ. Quà không địa chỉ chính xác nhưng cũng đến tay người cần. Đó là tính nhân bản của người miền Nam vốn hiền lành, chất phác.

Công việc dựng lán trại vừa xong, kế tiếp là việc khai hoang trồng khoai mỳ chứ không trồng rau như ở Trảng Lớn. Chế độ thăm nuôi cũng có phần cởi mở hơn xưa, các món đồ khô để dành ăn dần được gia đình tiếp tế trong những lon mà ngày xưa dùng để đựng sữa Guigoz.

Cũng như các tấm vỉ sắt như đã nói ở trên, các nhà thiết kế lon Guigoz sẽ không thể nào tưởng tượng được công dụng tuyệt vời của nó trong thời điêu linh tại Việt Nam. Lon Guigoz đối với người cải tạo chẳng khác gì cái cặp Samsonite mà các doanh nhân giàu có thường kè kè bên mình.

Ngoài những “ca, cóng linh tinh” mà người cải tạo đã bỏ công ra “gò” từ những mảnh tôn, lon Guigoz cũng được sử dụng như một cái nồi để nấu nước sôi. Đặc biệt lon lại vừa khít, nằm lọt thỏm trong bếp làm bằng vỏ đạn đại bác 105 ly!

Chỉ cần đục một lỗ cho củi và 2 cọng thép chắn ngang làm giá giữa “nồi Guigoz” và lò là ta sẽ có sự ăn ý tuyệt hảo mà các nhà sáng chế chưa bao giờ nghĩ ra. Chúng hợp nhau đến từng centimét!

Lon Guigoz trong thời điêu linh

Những ý tưởng sáng tạo ngay cả cán bộ quản giáo cũng phải… ngả nón cối bái phục. Thế cho nên, một anh quản giáo mang gỗ xuống nhờ cải tạo đóng “một cái thùng để dê non”. Chỉ trong vòng một ngày anh nhận được “tác phẩm” nhưng anh lại không vừa ý: “Cái thùng như vậy làm sao mà bỏ dê non vào được?”.

Mãi lát sau anh mới giải thích vừa mới tậu được cái máy vô tuyến truyền hình hiệu “dê non” chứ đâu có nuôi dê non. Và cũng mãi lúc sau người cải tạo mới hiểu. Thì ra anh vừa mua được một cái TV hiệu Denon “second hand” ngoài chợ trời nên muốn đóng một cái tủ đựng TV như ngày xưa người miền Nam thường có!  

Chúng tôi sống bên đường rầy xe lửa ở Trảng Táo cho đến ngày được trở về đời thường, tính ra cũng gần tròn 3 năm. Thế vẫn còn may mắn nếu so với Đại tá Nguyễn Công Vĩnh, người có “thâm niên” cải tạo 13 năm tại miền Bắc. Ông sinh năm 1930 tại Long An và từ trần vào tháng 2/2017 tại Newport Beach, California, hưởng thọ 87 tuổi.

Ngày trở về của Đại tá Nguyễn Công Vĩnh

Những chuyện buồn-vui thời cải tạo được ghi lại theo hồi ức của một người nay đã ngoài 70. Cái tuổi “thất thập cổ lai hy” thường bị mắc chứng dễ quên hay nói cho chính xác là “nhớ đó, quên đó”.

Với tinh thần đó, tác giả xin góp nhặt chuyện buồn-vui thời điêu linh để thế hệ con cháu giữ làm kỷ niệm. Có điều chi sơ suất xin người đọc niệm tình bỏ qua.

Giấy Ra Trại ký ngày 15/9/1977 nhưng phải qua đến năm 1978 mới đến tay người cải tạo. Địa chỉ trình diện là Đà Lạt nơi bố mẹ sinh sống trong khi vợ con lại ở Sài Gòn. Chính quyền khi đó thực hiện chính sách “giãn dân”, hạn chế tối đa người cải tạo trở về Sài Gòn.

***


--> Read more..

Thứ Ba, 24 tháng 10, 2017

Bất đáo Chí Hòa phi hảo hán

Người Trung Hoa rất tự hào về Vạn Lý Trường Thành. Đó là một bức tường thành được xây dựng bằng đất và đá từ thế kỷ thứ 5 trước công nguyên đến thế kỷ 16. Tường thành bảo vệ Trung Hoa khỏi những cuộc tấn công của người Hung Nô, Mông Cổ và rất nhiều bộ tộc du mục khác.

Tần Thủy Hoàng, vị Hoàng đế đầu tiên của Trung Hoa, đã có sáng kiến xây Vạn lý Trường thành từ năm 220 trước công nguyên nhưng phần tường này chỉ còn sót lại một vài di tích. Vạn Lý Trường Thành ngày nay, với chiều dài khoảng hơn 6.000 km, cao 7 m, được xây dưới thời nhà Minh và người Trung Hoa rất tự hào về nó.

Vạn lý Trường thành

Thế cho nên con cháu Thiên Tử mới có câu “Bất đáo Trường thành phi hảo hán”, hàm ý chưa đến Trường Thành chưa phải là hảo hán. Sang đến Việt Nam, giới giang hồ “số má” lại đổi tên Trường Thành bằng Chí Hòa: “Bất đáo Chí Hòa phi hảo hán”.

Chí Hòa là nhà tù được xây dựng năm 1943 thời thuộc địa Pháp nằm tại Số 1 đường Hòa Hưng (Q. 10), Sài Gòn. Vào thời đó, đây là nơi giam giữ tù chính trị. Sang đến thời VNCH cũng là nơi giam những người chống đối chính quyền và tội phạm hình sự. Sau năm 1975, Chí Hòa là nơi “nghỉ mát” hay “gỡ lịch” của giới giang hồ cũng như tù chính trị.     

Có nhà văn nào đó đã từng viết: “Đối với người tù Sài Gòn, khám Chí Hòa được ví như trường đại học Harvard của Mỹ, Eton của Anh và Sorbonne của Pháp”. Nếu ở Mỹ có Ngũ Giác Đài (còn gọi là Lầu Năm Góc) thì ở Việt Nam có Chí Hòa là một công trình xây dựng hình bát giác khép kín với một tầng trệt và 3 tầng lầu.

Ngày nay, mỗi cạnh của hình bát giác là một ô, được đánh số thứ tự từ A đến H. Toàn bộ nhà tù được chia thành 6 khu, trong đó khu ED dành cho tù chính trị, AH dành cho tù vượt biên và các khu còn lại dành cho tù hình sự, trong khu FG còn có cả các phòng tù nữ.

Trên một khu đất rộng khoảng 7 hécta, hơn 200 phòng giam đều hướng về tâm của hình bát giác, nơi có một tháp nước với lỗ châu mai hướng về các phòng giam với 4 loa phóng thanh và trên đỉnh là một cột cờ. Tháp mước mang hình tượng một thanh gươm lớn, yểm âm dương, phong thủy, càn khôn, vũ trụ. Thanh gươm cắm mũi xuống đất nhắc nhở một khi đã lọt vào vòng bát quái rất khó tìm được lối ra.

Mô hình “lò bát quái” Chí Hòa


Thanh gươm cắm xuống đất để… yểm bùa!

Chí Hòa là vùng đất “linh thiêng” vẫn thường xảy ra sấm sét mỗi khi giông bão. Có đến ngàn lẻ một huyền thoại về khám Chí Hòa, điển hình như “con-ma-vú-dài” thỉnh thoảng vẫn chọc phá tù nhân.

Tại đây còn lưu lại máy chém có từ thời Pháp thuộc được chuyển từ khám Catinat sang và do Đội Phước phụ trách. Người cuối cùng chết dưới máy chém này là Ba Cụt, tức Lê Quang Vinh, tướng Hòa Hảo, dưới thời Ngô Đình Diệm. Chính ông Ngô Đình Cẩn, bào đệ của Tổng thống Ngô Đình Diệm, cũng bị xử bắn sau một thời gian bị giam giữ tại Khám Chí Hòa.

Chuyện “con ma vú dài” trên báo Trắng Đen năm 1969

Cơ duyên nào đã gắn cuộc đời tôi với Khám Chí Hòa?

Hồi đó cuối là đầu thập niên 80, người Sài Gòn âm thầm vượt biên. Bạn bè chừng một tuần không thấy mặt là người ta nghĩ ngay đến những chuyến vượt biển. Gặp lại người quen với cái đầu trọc lóc ta nghĩ ngay đến chuyện ra khơi nhưng không gặp may nên bị cạo đầu ngồi tù. Cửa nhà bỗng nhiên khóa im ỉm sẽ được suy diễn là cả gia đình đã ra ra đi. 

Cơn sốt bỏ nước ra đi diễn ra ngày càng tăng, kéo theo phong trào học tiếng Anh “chui”, tức là lén lút. Gia đình khá giả thì mời thầy đến tận nhà kèm riêng hoặc một nhóm góp chung tiền mời thầy đến để luyện tiếng Anh.

Cái nghề giảng viên Anh ngữ của tôi tưởng chừng như đã hết đất dung thân nay bỗng nhiên sống lại. Thế là một cuộc “đổi đời lần 2” lại bắt đầu sau thời cải tạo. Đang từ anh “lao động phổ thông” trong một tổ hợp xây dựng, anh trông hàng ngoài chợ Bình Tây rồi chuyển sang nghề bỏ mối lò dầu hôi.. cuối cùng nhảy lên làm… thầy.

Năm 1971, tôi được đào tạo giảng viên Anh ngữ ở Hoa Kỳ, sau đó lại được Trường Sinh ngữ Quân đội gửi đi tu nghiệp một lần nữa năm 1974. Với trình độ tiếng Anh và kinh nghiệm giảng dậy, “anh bán lò” trở thành một người thầy đáng tin cậy của những người ôm mộng vượt biên.

Tôi đã từng mất rất nhiều học trò chỉ vì họ ra đi vội vã không kịp từ giã thầy. Chẳng biết họ có đến được đảo hay lại bỏ mình giữa biển khơi. Người Sài Gòn thường nói “Nếu con đi thoát thì con nuôi má nhưng nếu con chết thì... con nuôi cá”.

Học trò ra đi nhiều, chỉ mỗi ông thầy là ở lại vì... thiếu “cây” để lên tầu. Người Sài Gòn khi đó có thói quen gọi 1 lượng vàng là “một cây”. Tôi lo phải chạy ăn từng bữa cũng đã thấy bở hơi tai thì “cây” đâu để tính chuyện vượt biên?

Nhưng có lẽ “thánh nhân đãi kẻ khù khờ” nên có một gia đình học trò người Hoa khá giả, đăng ký cho một xuất “vượt-biên-bán-chính-thức”. Điều kiện khá dễ dãi: “Đi trước, trả sau”! Có lẽ họ cũng tin tưởng vào trình độ Anh văn của thầy giáo sẽ hỗ trợ gia đình họ trong những bước đầu chăng?

Sài Gòn rầm rì bàn tán về chính sách “vượt-biên-bán-chính-thức” của nhà nước dành cho các “xì thẩu” Hoa kiều. Đơn giản vì họ là những người giàu nhất nước, tha hồ mà thu hàng đống “cây vàng”. Người ta còn đồn họ vượt biên bán chính thức bằng cả tàu sắt nhưng lại cũng có tin nhiều chuyến đi đã bị lừa.

Sau một đêm suy nghĩ, đắn đo, tôi quyết định phải chụp lấy cơ hội để thoát, lại còn xin thêm một “nửa vé” cho cậu con trai đầu lòng. Không đất dung thân ở nơi này. Không hộ khẩu, không việc làm ổn định, không tương lai nếu cứ tiếp tục cuộc sống bên lề xã hội.

Ra đi cũng đồng nghĩa là đương đầu với những bất trắc nhưng ít ra cũng còn một chút ánh sáng nơi cuối đường hầm với hy vọng cứu được gia đình. Ở lại là tiếp tục mò mẫm trong một đường hầm tăm tối, hoàn toàn không có lối ra.

Chiếc tàu vượt biên “bán chính thức” đón khách ngay tại chân cầu Cát Lái thuộc địa phận quận Thủ Đức. Người ta lên tàu vào buổi chiều, có cả một số thân nhân đưa tiễn! Tàu bằng gỗ, chỉ dài hơn 10m, khoang bên dưới đàn ông ngồi bó gối, xếp lớp như cá mòi, phía trên là trẻ em và phụ nữ.

Dù mang tiếng là đi “bán chính thức” nhưng mọi người vẫn căng thẳng trước những bất trắc của cuộc hành trình hứa hẹn nhiều sóng gió…

Sóng gió đâu chưa thấy mà chỉ nghe tiếng súng AK đồng loạt nổi lên cả ở hai bên bờ. Lực lượng vũ trang quận Thủ Đức lên tàu, ra lệnh cho tài công lái tàu về... bến Bạch Đằng. Tại đây có hai chiếc Molotova chờ sẵn để đưa những người vượt biên về thẳng... Khám Chí Hòa. Mọi chuyện diễn ra hoàn hảo như một kịch bản phim!

Thủ tục nhập trại giam tiến hành một cách nhanh chóng: phụ nữ và trẻ em được thả ngay, trong đó có con tôi. Đàn ông sau khi khai báo họ, tên, địa chỉ được đưa vào 2 phòng giam thuộc khu AH trong lò bát quái Chí Hòa. Duyên may của tôi với Chí Hòa là vậy! 

Toàn cảnh Chí Hòa

Chí Hòa là nơi có những đêm khuya thanh vắng tù đang ngủ phải giật mình thức giấc vì tiếng hét lanh lảnh của phạm nhân: “Báo cáo cán bộ, phòng... có người cần cấp cứu!”. Hai chữ “cấp cứu” dội lại trong lò bát quái nghe như tiếng gọi của tử thần từ một nơi xa xăm nào đó.

Chí Hòa là nơi có “những đêm giã từ” của những phạm nhân vừa ra tòa nhận án để lên đường đến các trại cải tạo lao động. Họ tổ chức đêm “nhạc sống” từ phòng giam. Họ hát từ nhạc vàng đến vọng cổ, từ blue đến rock để các bạn tù ở phòng khác cùng thưởng thức. Họ bất cần vì đã nhận án và sẽ sớm từ giã Chí Hòa. Xen lẫn với giọng nam có cả những giọng nữ cũng tham gia văn nghệ “live show” bỏ túi...

Cuộc sống tại Chí Hòa khác hẳn với sinh hoạt ở trại cải tạo. Ở Chí Hòa chỉ quanh quẩn với 3 bức tường và 1 hàng chấn song sắt. Ngày hai bữa cơm, tuần được phép xuống sân tắm rửa, giặt giũ một lần trong vòng 20 phút.

Ở trại cải tạo, dù cũng mang tiếng là ở tù, nhưng không gian rộng rãi hơn để sinh họat. Quan trọng hơn cả, Chí Hòa gom đủ thành phần xã hội phức tạp trong khi tại trại cải tạo chỉ chung một thành phần sĩ quan “ngụy”.

Tiếng là khu tù vượt biên nhưng trong phòng cũng xen lẫn một số tù hình sự chưa bị kết án. Đám thiểu số này lại nổi bật giữ đám tù vượt biên, nắm trọn quyền sinh sát. Họ giữ từ chức Trưởng phòng, Phó phòng đến Trật tự viên, Thư ký, Tổ trưởng.

Trong phòng luôn xảy ra chuyện “đi-chợ-đêm”, nhất là sau những ngày thăm nuôi. Kẻ trộm thường là những tay tù hình sự, không thăm nuôi, hay còn gọi là “Con Bà Phước”. Bọn chúng “đi chợ” vào ban đêm khi những người tù ngủ say. Chúng lục giỏ cói để tìm thức ăn khô và thường thanh toán “chiến lợi phẩn” ngay tại chỗ để phi tang. Người nằm bên cạnh “khổ chủ”, dù có thấy nhưng vẫn phải làm ngơ vì sợ trả thù.

Hình thức trả thù kinh sợ nhất là màn “hỏa tốc”, có nghĩa là đốt bao nylon cho chảy thành nhựa rồi quăng vào nạn nhân. Nhựa nylon nóng hổi bám chắc vào da thịt với âm thanh xèo xèo nghe rợn tóc gáy.

Nhựa nylon cũng còn được tận dụng trong việc chế tác những vật dụng giải trí như đổ quân cờ domino và cờ tướng. Trong phòng tôi có một cao thủ cờ tướng, cựu đại úy không quân “ngụy”, chuyên đánh “cờ mù”.

Anh chỉ nằm vắt tay lên trán trong khi những tù khác quây quần quanh bàn cờ, “bề-hội-đồng” mà vẫn không sao thắng nổi kẻ nằm thảnh thơi không nhìn bàn cờ! Có lẽ đó là kỷ niệm “vui” nhất trong suốt thời gian 9 tháng nằm khám Chí Hòa.

Kỷ niệm buồn nhất là căn bệnh ghẻ phổ biến ở đây. Thoạt đầu ghẻ chỉ xuất hiện một cách âm thầm và nhẹ nhàng. Khởi đầu thấy ngứa giữa những kẽ tay, sau đó hình thành những mụn nước, rồi mụn mủ sưng tấy và ngứa ngáy khắp thân thể, nhất là vào ban đêm.

Vi trùng ghẻ, còn được gọi là “cái ghẻ”, lây từ người này sang người khác trong điều kiện tắm giặt hạn chế và vệ sinh thiếu thốn. Phòng tù lúc nào cũng có mùi tanh tanh khó chịu. Tuy nhiên, gãi ghẻ cũng có cái “thú-đau-thương” của nó mà tôi nghĩ đó là một “bản đàn”.

Khởi đầu là “bản đàn” du dương, rần rần vì... “gãi-đúng-chỗ-ngứa”. Khi cơn sướng đạt đỉnh điểm, ngón đàn mang lại sự đau đớn, tê rát lúc mụn ghẻ tóe máu. Sự nhức nhối biến thành một cực hình, nhất là vào ban đêm. Đó là thời gian lý tưởng nhất để những con cái ghẻ đục khoét dưới da và mò sâu vào thịt.        

Cứ như thế tôi và những người “đồng hội đồng thuyền” sống chung với ghẻ đúng 9 tháng, tương đương với 3 lệnh tạm giam, mà không hề trải qua một cuộc “chấp pháp” tức thẩm vấn điều tra. Nghĩ cũng lạ: Mất tiền để vào tù!

Tất cả chúng tôi đều khai trong lần làm thủ tục vào Chí Hòa là ra đi “bán-chính-thức” sau khi đã đóng “nghĩa vụ” với nhà nước. Đó là lần “làm việc” duy nhất trong suốt 9 tháng.

Mà chắc các cán bộ cũng chẳng có gì cần khai thác trong đám khách vượt biên. Nghe đâu chỉ những người đứng ra tổ chức mới được “chiếu cố”, thỉnh thoảng vẫn phải lên làm việc với cán bộ điều tra. 

Khám Chí Hòa nhìn từ trên cao

Ngày ra khỏi lò bát quái, những người đi cùng chuyến tàu được tập họp điểm danh rồi được dẫn ra đến cửa khám, hoàn toàn không một mảnh giấy lận lưng. Cái duyên “đáo” Chí Hòa của tôi là thế đó. Dù sao cũng phải tự hào “ké” với giới giang hồ:

“Bất đáo Chí Hòa phi hảo hán”!

Qua khỏi chiếc cổng này là… tự do!

***
--> Read more..

Popular posts