Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoa Kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoa Kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 5 tháng 11, 2025

Sự trùng hợp kỳ lạ giữa Lincoln và Kennedy

"Trùng hợp" có hai nghĩa: (1) trong hóa học là phản ứng liên kết nhiều phân tử nhỏ (monomer) thành một phân tử lớn (polymer); (2) trong xã hội là sự trùng lắp, xảy ra đồng thời của các sự kiện và hoàn cảnh không có mối liên hệ nhân quả rõ ràng.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ bàn tới sự trùng lặp của cuộc đời. Cụ thể hơn là sự “trùng hợp kỳ lạ” giữa hai nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Hoa Kỳ. Đó là Abraham Lincoln, Tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ (1861-1865) và John Fitzgerald Kennedy, Tổng thống thứ 35 (1961-1963).

Có nhiều sự trùng hợp được cho là "kỳ lạ" giữa hai Tổng thống Abraham Lincoln và John F. Kennedy. Tuy nhiên, những điểm trùng hợp này thường được xem là sự “ngẫu nhiên” chứ không phải là vì những mối quan hệ khác.

Lincoln được bầu vào Quốc hội năm 1846 và trở thành Tổng thống năm 1860. Đúng một thế kỷ sau, Kennedy được bầu vào Quốc hội năm 1946 và đắc cử tổng thống năm 1960.

 

Chân dung Tổng thống Abraham Lincoln (1861-1865)

 

Trước tiên, cả hai vị Tổng thống đều đã bị ám sát trong khi tại chức, Lincoln năm 1865 và Kennedy năm 1963. Họ của cả hai vị tổng thống đều có 7 chữ cái - "Lincoln""Kennedy".

Về hoàn cảnh ám sát, cả hai đều bị bắn vào đầu trước sự chứng kiến của vợ. Tổng thống Lincoln bị ám sát tại Nhà hát Ford, còn J. F. Kennedy bị bắn khi đang ngồi trên cỗ xe hiệu Lincoln do hãng Ford chế tạo.

 

Chân dung Tổng thống Kennedy (1961-1963)

 

Cả hai đều được kế nhiệm bởi Phó Tổng thống có họ Johnson (Andrew Johnson với Lincoln và Lyndon B. Johnson với Kennedy). Đáng chú ý, cả hai vị này đều sinh năm '08 (1808 và 1908, cách nhau đúng 1 thế kỷ). Kẻ ám sát lần lượt là John Wilkes Booth và Lee Harvey Oswald, trong đó, tên đầy đủ của hai kẻ này đều có 15 chữ cái.

Vào ngày 26/4/1865, sau khi từ chối đầu hàng, John Wilkes Booth đã bị Trung sĩ Boston Corbett bắn. Vào ngày 24/11/1963, trên đường đến nhà tù quận, Lee Harvey Oswald đã bị chủ hộp đêm Jack Ruby bắn.

 

Bức tranh minh họa cảnh Tổng thống Lilcon bị ám sát

 

Booth bắn Lincoln trong một nhà hát và trốn vào một nhà kho. Trong khi đó, Oswald bắn Kennedy từ một nhà kho và trốn vào một nhà hát. Cả hai kẻ ám sát đều bị giết bởi những tay súng sử dụng súng Colt và chỉ bắn một phát súng chí mạng.

 

Bức ảnh ghi lại cảnh chiếc xe chở ông Kennedy và phu nhân sau khi Tổng thống Mỹ bị bắn

 

Cả hai vị Tổng thống đều được kế nhiệm bởi người miền Nam. Kế nhiệm Lincoln là Andrew Johnson đến từ Tennessee và kế nhiệm Kennedy là Lyndon B. Johnson đến từ Texas. Điều đặc biệt nữa là hai người kế nhiệm đều sinh năm 1908.  

Năm 1966, bài hát "Lịch sử lặp lại chính nó" của Buddy Starcher, kể về nhiều điểm tương đồng giữa hai vụ ám sát, đã trở thành bản hit “Top 40” tại Mỹ và đứng thứ hai trên bảng xếp hạng nhạc đồng quê thời điểm đó.

Danh sách các sự trùng hợp ngẫu nhiên xuất hiện trên báo chí chính thống của Mỹ vào năm 1964, một năm sau vụ ám sát John F. Kennedy, trước đó đã xuất hiện trong Bản tin Ủy ban Quốc hội của Đảng Cộng hòa .

Vào những năm 1970, Martin Gardner đã xem xét danh sách trong một bài báo trên tạp chí Scientific American. Phiên bản danh sách của Gardner chứa 16 mục; nhiều phiên bản sau đó đã lưu hành các danh sách dài hơn nhiều.

 

John Wilkes Booth, kẻ ám sát Tổng thống Lincoln

 

Cả hai đều quan tâm đến quyền công dân: Lincoln cảm thấy rằng tất cả nô lệ nên được giải phóng và đã ban hành Tuyên bố Giải phóng, tuyên bố này đã giải phóng hợp pháp nô lệ trong Liên minh miền Nam. Trong khi đó, Kennedy quan tâm đến bình đẳng chủng tộc và là người đầu tiên đề xuất những gì sẽ trở thành Đạo luật Dân quyền năm 1964.

Cả hai đều kết hôn ở độ tuổi 30 với những người phụ nữ ở độ tuổi 20: Lincoln kết hôn vào năm 1842. Cô dâu của Lincoln, Mary Anne Todd, sinh năm 1818, khiến cô 23 tuổi vào thời điểm kết hôn. Kennedy kết hôn năm 1953 khiến ông 36 tuổi vào thời điểm kết hôn. Cô dâu của Kennedy, Jacqueline Bouvier, sinh năm 1929, khiến cô 24 tuổi vào thời điểm kết hôn.

Cả hai đều có nhân viên an ninh tên là William, mỗi người đều qua đời trong vòng 48 giờ sau khi đạt đến độ tuổi 75. Vệ sĩ của Lincoln, William H. Crook, sinh năm 1839 và mất năm 1915. Nhân viên mật vụ của Kennedy, William Greer, sinh năm 1909 và mất năm 1985.

Khi còn ở Nhà Trắng, mỗi vị Tổng thống đều có một gia đình với ba người con, và cả hai đều mất một người con do tử vong. Trong khi đó, cả Lincoln và Kennedy đều là con thứ hai trong gia đình. Điều thú vị là cả hai đều đã từng là thuyền trưởng trước khi làm Tổng thống.

 

Lee Harvey Oswald, kẻ ám sát Tỗng thống Kennedy

 

Trên đời này còn rất nhiều sự trùng hợp ngẫu nhiên đến độ… khó tin. Nhưng liệu tất cả những chi tiết nói ở trên có chứng minh được mối liên hệ nào giữa hai vụ giết người không?

Không, tất nhiên là không!

Đó chỉ là một ví dụ điển hình cho những bí ẩn và sự trớ trêu nhỏ nhặt thường thấy trong bất kỳ thảm kịch lớn nào.

 

***
--> Read more..

Thứ Bảy, 26 tháng 4, 2025

Central Park, New York City

Bạn đã từng đến New York City (NYC) chưa?

Thành phố này có Central Park, được mệnh danh là “một địa điểm lý tưởng của cả thế giới”, toạ lạc giữa Upper East Side và Upper West Side của quận Manhattan, thuộc NYC.

Manhattan cũng là trung tâm của các chương trình truyền hình và điện ảnh Mỹ… có thể nói, Manhattan là nơi sàn xuất các shows diễn của thế giới, đồng thời thu hút khoảng 38 triệu khách du lịch mỗi năm.

Với diện tích 850 mẫu tây, Central Park còn là “mảng xanh khổng lồ” của NYC, nơi có hàng trăm địa điểm du lịch trong đó bao gồm vườn thú, địa điểm picnic, nhà hát lộ thiên cùng với các tượng đài lịch sử và nghệ thuật.

Central Park là công viên lâu đời nhất nước Mỹ và cũng là một hồ chứa đến 1 tỳ gallon nước với 59 dặm đường dành cho người đi bộ muốn tìm một cảm giác được sống giữa thiên nhiên trong một thành phố được coi là có nhịp sống ồn ào của NYC.

Cựu Tổng thống Hoa Kỳ, Barack Obama, đã có lần tâm sự:

“Tôi chỉ muốn được đi khắp Central Park để ngắm nhìn người qua lại. Dành cả một ngày để nhìn thiên hạ. Tôi tiếc nhớ điều đó” (I just want to go through Central Park and watch folks passing by. Spend the whole day watching people. I miss that).

Nhân dịp cuối tuần, mời các bạn xem những bức hình tiêu biểu dưới đây để hình dung một hoạt động đa dạng của Central Park, công viên nổi tiếng của Hoa Kỳ. 


***

 

Tượng đài Simón Bolívar trong Bolivar Plaza, Central Park South, nằm tại Ngã tư Đường số 59 và Đại lộ thứ 6.


Tượng đài nhạc sĩ Beethoven, toạ lạc tại Central Park Mall.


“Alice trong thế giới phi phàm” (Alice in Wonderland) tại phía đông Đường số 74 trong Central Park’s Conservatory Water.


Lâu đài Belvedere gồm rất nhiều phòng trưng bày nghệ thuật và một đài quan sát trên cao… nằm trên Đường Seame.


Tượng người chèo thuyền tại Central Park Boathouse.


Tháp đồng hồ trong sở thú của trẻ em. Trên tháp có 2 con khỉ rung chuông, 1 chim cánh cụt gõ trống, 1 con hà mã chơi đàn violon, 1 con gấu chơi lục lạc, 1 con voi chơi đàn accordion, 1 con dê thổi sáo và 1 con kangaroo thổi kèn.


Tượng Balto bằng đổng, vinh danh giống chó Siberian Husky đã cứu một thị trấn khỏi bệnh bạch hầu. Tượng toạ lạc tại ngã tư Central Park East Drive và Đường số 66.


Bồn hoa phun nước Bethesda và toàn cảnh khu vực Angel of the Waters.


Dairy, một trong những địa điểm thu hút nhiều du khách, toạ lạc tại phía nam Đường số 65.


Tượng đài Richard Morris Hunt để tưởng nhớ mộr kiến trúc sư, nằm tại ngã tư Đường số 5 và số 70.


Đài phun nước Pulitzer với bức tượng Pomona trong khu Grand Army Plaza tại ngã tư Đường số 59 và Đại lộ thứ 5.


Khu tưởng niệm ca sĩ John Lennon, toạ lạc tại phía tây Đường số 72.


“Chiếc kin của Cleopatre” theo kiến trúc Ai Cập nằm trên Đường số 82, gần Metropolitan Museum of Art.

Tượng Hans Christian Andersen, nhà văn nổi tiếng người Đan Mạch, toạ lạc bên cạnh hồ Central Park.


“Cầu vòng cung” (Bow Bridge) nằm ở phía nam hồ Central Park. Đây là 1 trong tổng số 39 cây cầu trong khu Central Park.


Đài tưởng niệm Nạn nhân tàu USS Maine tại lối vào khu Columbus Circle.


Rạp hát lộ thiên Delacorte với 1.800 chỗ ngồi là nơi thường diễn ra những vở kịch của Shakespeare. Rạp hát toạ lạc tại Đường số 81, khu phía tây Central Park.


***



 



--> Read more..

Thứ Tư, 5 tháng 3, 2025

Nước Mỹ nhìn từ thập niên 70s

Tôi đến nước Mỹ năm 1971, khi đó chiến tranh Việt Nam vẫn còn là đề tài chiến sự nóng hổi hằng ngày. Đó cũng là thời điểm mà người dân Mỹ, dù tiền thuế của họ đóng góp cho chiến tranh bên kia bờ Thái Bình Dương, vẫn khó mường tượng hai chữ Việt Nam nằm ở đâu trên bản đồ thế giới!

Tháng 10/1971 tôi đến Mỹ với cấp bậc Thiếu uý, Giảng viên Anh ngữ của Trường Sinh ngữ Quân đội, để theo học khoá đào tạo giảng viên căn bản “English Language Basic Course”. Đến Mỹ trong thời gian này là một kỷ niệm khó quên của một thanh niên vừa bước vào đời.

Cảm giác đầu tiên là sự bỡ ngỡ trước một xã hội được coi như là điển hình của một đất nước rộng lớn nhưng cũng đa dạng về tình người. Nước Mỹ, còn được gọi là Hiệp Chủng Quốc, cái tên hàm ý một quốc gia được kết hợp bởi sự đa dạng chủng tộc từ khắp mọi nơi trên trái đất, đủ mọi màu da, đủ mọi chính kiến.

Hồi đó, có mặt trên đất nước này với màu da vàng, tôi được người Mỹ “coi như là” người Tàu trên đường phố. Họ ngạc nhiên khi tôi tự giới thiệu là người Việt Nam vì khi đó chưa xuất hiện “boat people” như bây giờ. Những khi mặc quân phục với dòng chữ “Vietnam” trên vai trái nhiều người vẫn còn thắc mắc: Việt Nam ở đâu trên bản đồ thế giới?

Có lẽ chỉ những gia đình Mỹ bình thường có con em đi “quân dịch” và được gửi sang Việt Nam chiến đấu mới quan tâm đến đất nước này, nhưng quả thật nhiều người còn thắc mắc không biết đó là Bắc hay Nam Việt Nam nơi con cái họ đang phục vụ!

Trước khi đến “xứ cờ hoa”, tôi có quen với một giảng viên người Mỹ tên Tronvig, cùng dạy tại trường. Khi biết tôi sẽ du học, anh ngỏ ý muốn giới thiệu tôi với gia đình anh đang sống tại Walnut Creek, California. Anh còn cẩn thận ghi số điện thoại để khi đến căn cứ Travis tôi có thể liên lạc với họ qua “long distance call”.

Gia đình Tronvig thật hiếu khách, ngày đầu tiên họ đã đưa tôi đến chiêm ngưỡng chiếc cầu treo bắc ngang Vịnh San Francisco được khánh thành năm 1937. Tôi đã được thấy “Golden Gate Bridge” ở San Francisco, tượng trưng cho “Cổng Vàng” để chào đón những người bên kia bờ Thái Bình Dương đến “vùng đất hứa” của “American Dream”, một giấc mơ mà nhiều người ấp ủ.

Ngay từ ngày đầu tiên đặt chân đến Mỹ tôi đã cảm nhận một mối tình cảm đặc biệt về một vùng đất hứa hẹn nhiều khám phá đối với một thanh niên vừa bước vào đời từ một nền văn hoá còn khép kín ở quê nhà.

Tình cảm đó, nếu đem so sánh với những người Việt “tỵ nạn” trong đợt di dân ồ ạt sau ngày 30/4/1975 hoàn toàn khác biệt. Hồi đó, tôi chỉ là một “người khách” đến học hành rồi đi trong khi “boat people” chọn nước Mỹ là “quê hương thứ hai” trên bước đường “tạm dung”.

Trong khoá học, ngoài những chuyến “field trip” ngắn ngày, đi thăm những khu vực quanh Texas, chúng tôi còn có một chuyến dài ngày “về miền đông” như thủ đô Washington D.C., New York, Philadelphia… để tìm hiểu thêm về những thành phố lớn của Mỹ.

Cuối khoá, chúng tôi có 15 ngày để di chuyển từ Texas đến San Francisco chờ đáp máy bay về Việt Nam. Chúng tôi mua vé loại “open ticket” của hãng xe bus Geyhound theo cách thật tiết kiệm: “ban ngày ghé các thành phố dọc đường xem cho biết, ban đêm lên xe bus ngủ cho đỡ tiền thuê khách sạn”.

***

Năn 1973, Trường Sinh ngữ lại tiếp tục gửi một số giảng viên theo học khoá tu nghiệp “English Language Instructor, Refresher Course” trong 3 tháng. Lần đi Mỹ thứ hai tôi mang cấp bậc Trung uý, cũng vẫn trường xưa Defense Language Institute ở Căn cứ Lackland, San Antonio, Texas.

Đây cũng là dịp để hiểu thêm về nước Mỹ mà những người Việt định cư tại Mỹ sau này ít có cơ hội khám phá vì phải lo “cơm áo gạo tiền”, bù đầu với công việc kiếm sống. Xét cho cùng, một người du học có nhiều cơ hội tìm hiểu nước Mỹ nhiều hơn một di dân phải bù đầu vì “2 hay 3 jobs” để nuôi sống gia đình.

Chuyến đi 15 ngày sau khi mãn khoá tôi tìm đến YMCA (Young Men’s Christian Association - Hiệp hội Thanh niên Cơ Đốc), một tổ chức có hơn 58 triệu người đóng góp tại 125 chi hội cấp quốc gia. Tôi được giới thiệu đến gia đình Krumals sống tại Los Angeles.

Krumals là một gia đình điển hình người Mỹ với sự cởi mở và thân thiện. Gặp lúc nghe tin ở trên núi có tuyết họ không ngần ngại lái xe đến Angeles National Forest để chúng tôi “thấy tận mắt, rờ tận tay” những mảng tuyết lớn. Lần đầu trong đời, chúng tôi chơi trò ném tuyết một cách hồn nhiên như trẻ thơ.

Chúng tôi đã có dịp đến Disneyland nổi tiếng tại Mỹ, Universal Studios thăm phim trường hay đến San Francisco với xe điện cổ leo những con dốc thoai thoải giữa tiếng leng keng của tàu điện.

Hàng xóm của gia đình Krumals cũng rất thân thiện khi biết tin có những chàng trai từ Việt Nam đến trú ngụ. Họ còn tổ chức một chuyến du lịch vượt biên giới Mexico để đến thị trấn Tijuana “thăm dân cho biết sự tình”!

***

Năm 1994 tôi lại có dịp đến Mỹ với tư cách phóng viên của tờ Vietnam Investment Review. Nước Mỹ trong giai đoạn này đã tiếp nhận rất nhiều người Việt, đa số là những “người tị nạn” đã có một cuộc sống tương đối ổn định trên “xứ tạm dung”.

Nước Mỹ hồi đó cũng có nhiều thay đổi theo tình hình của thế giới. Ngày xưa, Mỹ được coi như một trong số những đất nước giàu có với tài nguyên phong phú, hoạt động kinh tế phát triển nên các chính phủ có “chính sách tương đối thoáng”, sẵn sàng hỗ trợ các nước nghèo ở châu Phi, châu Á.

Ngày nay Mỹ đang “siết chặt hầu bao”, cụ thể là đương kim Tổng thống Trump đã có kế hoạch đóng cửa Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), một cơ quan thể hiện sự hào phóng của nhân dân Mỹ cũng như góp phần thúc đẩy hành trình tiến tới bền vững của nước nhận tài trợ.

USAID hợp tác với chính phủ Việt Nam, từ khu vực tư nhân, các trường đại học và tổ chức nghiên cứu, đến các tổ chức trong nước và quốc tế cũng như các bên liên quan khác kể từ năm 1989 nhằm thúc đẩy các ưu tiên chung.

Trước khi vào quân đội năm 1968, tôi đã có một thời gian làm việc với đoàn MILPHAP (Military Provincial Hospital Assistance Program) tại Dân y viện Ban Mê Thuột do chương trình USAID tài trợ. Đây là đoàn gồm 3 bác sĩ và những y tá của quân đội Hoa Kỳ nhưng lại phục vụ ngành dân y tại thị xã.

Tuy thời gian làm việc tương đối ngắn nhưng tôi cũng nhận thấy rõ tôn chỉ hoạt động của USAID tại Việt Nam: giúp đỡ về y tế cho các cơ sở dân y trong tình trạng chiến tranh khốc liệt trên cả nước.

Thật đáng buồn khi chính quyền của Tổng thống Trump đang biến USAID, một tổ chức đã tồn tại hàng thập kỷ, chịu trách nhiệm thực hiện các chương trình viện trợ trên toàn thế giới, trở thành mục tiêu hàng đầu trong chiến dịch tinh giản chính phủ liên bang. Đó cũng có thể xem như một chính sách “hướng nội” thay vì “hướng ngoại” như trước đây.

Gần đây truyền thông thế giới đã có không ít bài viết bàn về khẩu hiệu “Make America Great Again” sau khi “cuộc chiến tranh lạnh” kết thúc. Một bài viết trên The Economist năm 2025 cho biết nước Mỹ hiện chiếm 26% GDP toàn cầu với một thị trường tài chính mạnh khiến các công ty khởi nghiệp dễ dàng huy động vốn một cách tốt hơn thay vì phải đi vay tiền mặt.

Điều mâu thuẫn lớn nhất là nước Mỹ luôn cho thế giới thấy họ là một… “mớ hỗn độn” do chính người dân Mỹ tạo ra. Gần như không bao giờ người Mỹ hài lòng với đất nước mình: 2 phần 3 người Mỹ tin rằng đất nước họ đang đi sai hướng và gần 70% đánh giá nền kinh tế là “không tốt” hoặc “kém”.

Tổng thống Trump luôn nói rằng nền kinh tế Mỹ đang “rất không ổn”, guồng máy kinh tế “đang thất bại”… Đất nước có quá nhiều “đầm lầy” và cần được “tát cạn”. Theo tôi, nước Mỹ thật ra chẳng cần ai giúp để nó “vĩ đại trở lại” vì bản thân nó đã và đang “vĩ đại”.

Phải chăng đó chính là nước Mỹ “tự làm khó mình” nếu nhìn từ thập niên 70s cho đến nay. Cũng có thể đó là cách người đứng đầu quốc gia muốn lèo lái dư luận với phương châm “Make America Great Again”!

 

***


Đoàn giảng viên ghé Okinawa trên đường đến Mỹ (1971)


Defense Language Institute, San Antonio, Texas (1971)


Defence Language Institute (1971)


San Antonio, Texas (1971)


Disney Land, Alice's Castle (1971)


Golden Gate Bridge (1971)


The Alamo, San Antonio, Texas (1971)


Tuọng đài Abraham Lincoln, (1971)


Universal Studios (1971)


Lackand AFB (1973)


Universal Studios, California (1973)


Cầm trong tay cục tuyết lần đầu tiên trong đời - Angeles National Forest (1973)


Empire State Building (1994)


New York (1994)


Với bà Krumal, Angeles National Forest (1973)


Tijuana, Mexico (1973)


San Francisco (1994)

Washington D.C, (1994)


Chicago (1994)


Hawaii (1994)


***
--> Read more..

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2025

Sống lâu trăm tuồi !

Người Việt ta thường chúc nhau “sống lâu trăm tuồi” nhưng chỉ… “chúc để mà chúc” thôi chứ ít ai đạt được cột mốc “không tưởng” đó.

Xét cho cùng, sống đến 100 tuổi mà chịu những “nghịch cảnh” như lọm khọm hay ngồi xe lăn, đầu óc thì nghễnh ngãng quên trước quên sau thì có gì là hạnh phúc? Thêm vào đó lại còn có một đống thuốc hàng ngày phải nhắm mắt nuốt cho trôi để cầm cự với tuổi già thì cột mốc “bách niên” dường như quá sức đối với những người… “ham thọ”!

Thế nhưng cũng có những cụ ông vẫn kiên trì kéo dài tuổi thọ để vui cùng con cháu. Một trong những ông cụ thuộc loại đó là Jimmy Carter, cựu Tống thống thứ 39 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, sinh ngày 1/10/1924 và mất đúng 100 năm sau, ngày 29/12/2024, khi vừa tròn 100 tuổi.

 

Jimmy Carter, Tống thống thứ 39 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ

 

Một trong những vinh quang trong cuộc đời Jimmy Carter là được trao tặng Giải Nobel Hòa bình năm 2002. Trong nhiệm kỳ của mình, ông Carter còn được ghi dấu bởi Thỏa thuận Trại David năm 1978 giữa Israel và Ai Cập, mang lại sự ổn định quan trọng cho khu vực Trung Đông.

Ông Carter, một đảng viên Dân chủ, đã trở thành Tổng thống năm 1977, sau khi đánh bại Tổng thống Cộng hòa đương nhiệm Gerald Ford trong cuộc bầu cử năm 1976. Tổng thống đương nhiệm Joe Biden đã tuyên bố toàn nước Mỹ sẽ lấy ngày 9/1/2024 làm quốc tang, treo cờ rủ trong 30 ngày để tưởng nhớ Jimmy Carter.

Ngay trong buổi lễ nhậm chức của Tổng thống đắc cử Donald Trump, dự kiến diễn ra vào ngày 20/1/2024, cũng sẽ treo cờ rủ. Ông Trump tuyên bố:

"Trong vai trò Tổng thống, Jimmy đối mặt với những thử thách vào thời điểm quan trọng đối với đất nước và ông đã làm mọi thứ trong khả năng của mình để cải thiện cuộc sống của tất cả người Mỹ. Vì điều đó, tất cả chúng ta đều nợ ông một món nợ biết ơn".

 

Tổng thống Jimmy Carter qua đời ngày 29.12.2024

 

Riêng đối với người Việt đang định cư tại Mỹ, Jimmy Carter là một “đại ân nhân” trong bối cảnh cộng đồng quốc tế đang triệu tập hội nghị về người tị nạn ở Geneva vào năm 1979 và ông Carter đã là nguyên thủ đầu tiên cam kết tăng số người tị nạn mà Mỹ tiếp nhận.

Ông đã giúp hàng trăm ngàn người tị nạn Việt Nam đến Mỹ và thiết lập nền tảng để Mỹ tiếp đón người tị nạn về sau mà nếu không có ông thì đã có biết bao nhiêu thuyền nhân Việt chết trên biển trong khi đa số người dân Mỹ có khuynh hướng bài xích dân tị nạn.

Ông Carter giải thích cho dân chúng Mỹ rằng truyền thống của nước Mỹ là tiếp nhận người tị nạn, yêu giá trị tự do dân chủ khi họ là những người đã bỏ nước ra đi, bỏ tất cả sự nghiệp và tài sản để chạy trốn chế độ mới.

Nếu không có sự can thiệp của ông đối với thế giới, nếu ông không ra lệnh cho các chiến hạm của Mỹ và của hải quân Mỹ cứu vớt người Việt trên Biển Đông thì có lẽ hàng trăm ngàn người đã bỏ mạng trên Biển Đông.

Khi ông Carter mới bước vào Nhà Trắng năm 1977 chỉ có gần 16.000 “thuyền nhân”, nhưng qua đến hai năm 1978 và 1979 thì con số này đã tăng vọt, lần lượt là 87.000 và 203.000. Tuy nhiên, sự trợ giúp người Việt của ông lại khiến ông bị thất cử nhiệm kỳ hai!

 

Tổng thống Jimmy Carter: “Đại ân nhân” của những thuyền nhân vượt biển người Việt

 

Có thể nói, ông Carter là một trong những người Hoa Kỳ thuần túy có trái tim rộng lượng, biết thương người, yêu chuộng hòa bình, yêu chuộng tự do nên đã hy sinh sự nghiệp chính trị của mình.

Chính Tổng Thống Jimmy Carter là người ra lệnh tăng gấp đôi số thuyền nhân gốc Việt được nhập cảnh hồi tháng 6/1979, và cũng chính ông là người đã ký Đạo Luật Refugee Act (Đạo Luật Tị Nạn) năm 1980 để mở rộng cửa đón người Việt “vượt biên” vào Mỹ và đã mở đường cho các công việc giúp đỡ người tị nạn của ông đến tận bây giờ.

Refugee Act cho phép gia tăng gần gấp ba lần số thuyền nhân vào Mỹ, từ 17,500/năm lên 50,000/năm. Quyết định nhân đạo của Tổng Thống Carter đòi hỏi chính phủ của ông phải tìm ra thêm nguồn tiền khoảng 150 triệu đô la/năm trước mắt để thực hiện, vào thời điểm mà ngân sách Mỹ vốn đã phải chi ra khoảng 200 triệu/năm cho chương trình cứu thuyền nhân sẵn có.

Bà Rosalynn Carter, phu nhân của ông Carter, đã qua đời ngày 19/11/2023 trước ông. Bà cũng là người đã đứng ra vận động gây quỹ viện trợ nhân đạo cho người tị nạn. Và ngay cả sau khi về hưu, hai ông bà vẫn đi vận động khắp thế giới để xây cất nhà cho người nghèo, trong đó có người nghèo ở Việt Nam.

 

Ông Jimmy Carter và vợ, Rosalynn Carter, dự đại hội toàn quốc Đảng Dân chủ năm 2004

 

Tấm gương ông Carter, người đã dành cả đời phụng sự cho tha nhân dù khi đã trên 90 tuổi, và mặc dù đã về hưu nhưng ông vẫn muốn dành thời giờ để phục vụ người tị nạn và tranh đấu cho những người kém may mắn.

Tổng thống Gerald Ford, người tiền nhiệm của ông Jimmy Carter, cũng giúp đỡ người tị nạn rất nhiều, nhưng vì lý do chính trị nhiều hơn lý do nhân đạo. Đảng Cộng hòa của ông Ford luôn có sự mặc cảm vì nước Mỹ đã bỏ rơi Việt Nam Cộng hòa.

Vào năm 1977, người Việt tỵ nạn được một đạo luật đặc biệt để chuyển từ “tạm dung” (parole status) tức là không được lãnh trợ cấp thành quy chế “tị nạn” (refugee status), qua đó họ trở thành “thường trú nhân”. Nếu không có ông Carter thì người tỵ nạn cũng muôn đời ở trong tình trạng tạm dung theo đúng chính sách của chính phủ Hoa Kỳ.

Ngoải tinh thần bác ái, Jimmy Carter còn là vị Tổng thống đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ sống thọ đến 1000. Trong trường hợp của ông, lời chúc “sống lâu trăm tuồi” quá đầy đủ ý nghĩa của nó!

 

Những ngày cuối đời của Tồng thống Jimmy Carter

 

Riêng đối với người Việt tại Mỹ, lời chúc đó còn hàm ý một sự tri ân sâu sắc vì những hành động đầy tính vị tha của ông trong cơn hoạn nạn khi họ phải xa rời tổ quốc thân yêu trên những chiếc thuyền mong manh ngoài Biển Đông!


REST IN PEACE, PRESIDENT JIMMY CARTER !!!

 

*** 

--> Read more..

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2024

Chuyện Bill Gates kén rể

 

Xuyên suốt sự nghiệp, Bill Gates luôn có mặt trong danh sách những người giàu nhất thế giới từ 1995 tới 2014, ngoại trừ tháng 3/2013, 3/2012, 3/2011 (đứng hạng 2) và 2008 khi ông chỉ xếp hạng thứ ba. Tháng 5/2013, Bill Gates đã giành lại ngôi vị người giàu nhất thế giới.

Gần đây, ông là người giàu thứ hai thế giới với tổng tài sản 105,3 tỷ đôla Mỹ. Ở Microsoft, Gates làm CEO và kiến trúc sư trưởng phần mềm. Ông là cổ đông cá nhân lớn nhất của Microsoft cho tới tháng 5/2014. Ông cũng là tác giả và đồng tác giả của một số cuốn sách.

 

T

Tỷ phú Bill Gates, 2018


Trong giai đoạn gần cuối của sự nghiệp, Gates theo đuổi một số nỗ lực từ thiện, quyên góp và ủng hộ một số tiền lớn cho các tổ chức từ thiện và nghiên cứu khoa học thông qua Quỹ Bill & Melinda Gates, được thành lập năm 2000.

Gates cưới Melinda French năm 1994. Họ có ba con: Jennifer Katharine, Rory John, Phoebe Adele. Năm 2021, truyền thông thế giới ồn ào suốt thời gian dài vì thông tin tỷ phú Bill Gates và người vợ 27 năm Melinda Gates ly hôn dù trước đó họ luôn được ngưỡng mộ là hình mẫu vợ chồng lý tưởng trong giới tài phiệt.

 

Bill và Melinda Gates khi còn bên nhau (2009)

 

Cách đây vài năm có một cuộc hội nghị về Đầu tư và Tài chính, trong thành phần tham dự có diễn giả Bill Gates. Tiếp sau đó, trong phần Hỏi & Đáp của cử toạ, có một câu hỏi được đặt ra với Bill Gates đã khiến mọi người… cười ồ:  

“Trong cương vị là một trong những người giàu nhất thế giới, ông có chịu tiếp nhận một chàng rể nghèo, nói chung là tầm thường, khi anh ta hỏi cưới “con gái rượu” của ông là Jennifer Katharine làm vợ hay không?”

Bill trả lời khá dài, đại khái xoay quanh những điểm chính dưới đây.

Trước tiên, cần hiểu sự giàu có không nhất thiết phải là có tài khoản kếch xù trong ngân hàng. Tiền bạc chỉ là một trong những khả năng có thể tạo nên sự giàu có mà thôi.

Một người bình thường có may mắn trúng số, dù có đến 100 triệu đôla… nhưng chưa chắc người đó sẽ là một triệu phú suốt đời. Anh ta chỉ là một người nghèo với số tiền từ trên trời rớt xuống… cho nên, có thể chỉ trong khoảng 5 năm anh ta có thể quay lại với thân phận của một người nghèo như trước đó! 

Cũng có những người cứ tưởng là giàu nhưng lại không có tiền bạc rủng rỉnh, chẳng hạn như những người làm chủ một doanh nghiệp mới tham gia thị trường. Họ chỉ mới đang trên đường làm giàu nhưng nếu không có tiền bạc hỗ trợ, giấc mơ làm giàu chắc chắn khó mà thức hiện nổi!

 


Ba người con của vợ chồng tỉ phú Bill Gates: Jennifer, Rory và Phoebe Gates

 

Vậy thì Giàu và Nghèo khác nhau ra sao?

Một thanh niên sẵn sàng học hỏi để hoàn thiện bản thân thì chính bản thân anh đã là người giàu có rồi. Mặt khác, còn có những kẻ cứ coi người giàu là kẻ cắp, luôn tìm cách hạ nhục họ thì rõ ràng cũng chỉ là một kẻ nghèo “ghanh tị” mà thôi! 

Người “giàu thực sự” thường nuôi một ý chí cháy bỏng và tìm đủ mọi cách để đạt được nguyện vọng tiến thân mà mình ấp ủ. Trong khi đó, kẻ nghèo chỉ mong nhận được tiền từ những người thành công với một mục đích duy nhất là với số tiền mình nhận được sẽ giúp họ thay đổi tình trạng khốn khó của minh!

Thế cho nên, để trả lời câu hỏi Bill Gates có chấp nhận một chàng rể “nghèo” hay không?... ông trả lời đó phải là người có đầy đủ sự nhiệt tình trên con đường tạo dựng sự nghiệp cho tương lại. 

Đáng tiếc là đa số các tội phạm đều là những người thuộc nhóm “nghèo” cho nên trước sự cám dỗ của đồng tiền, họ ít khi có thể cưỡng lại được nên mới trộm cắp hoặc cướp bóc để phải vướng vào vòng lao lý.

Bill Gates cũng kể lại chuyện một nhân viên bảo vệ ngân hàng tình cờ thấy được một túi xách đầy tiền. Thay vì cất làm của riêng, anh ta trao lại cho viên quản lý. Người biết chuyện nói với nhau anh ta là một kẻ ngu ngốc khi hành xử như vậy.

Một năm sau chuyện giao túi tiền cho quản lý, ngân hàng đưa anh ta lên chức vụ nhân viên tiếp tân. Ba năm sau anh ta được đề bạt chức vụ chăm sóc khách hàng. Mười năm sau anh lại được cất nhắc làm quản lý ngân hàng có đền hàng trăm nhân viên với số tiền thưởng vượt quá giá trị của chiếc túi xách ngày nào!   

 

Bill Gates và cô con gái rượu Jennifer Katharine

 

Tháng 10/1994, con gái lớn của Bill Gates, Jennifer Katharine Gates, kết hôm với Nayel Nassar. Đám cưới như trong một “chuyện thần thoại tân thời” với chi phí lên đến 2 triệu đôla tại New York.

 

Jennifer Katharine & Nayel Nassar trong lễ cưới 2 triệu đôla

 

Chú rể Nayel Nassar là một vận động viên cưỡi ngựa nổi tiếng gốc người xứ Kuwait. Không những thế, anh còn sở hữu một tài sản trị giá khoảng 100 triệu đôla, trong đó đáng kể nhất là giải thưởng cuộc đua Grand Prix trị giá lên tới 1 triệu đôla!

 

Vận động viên cưỡi ngựa Nayel Nassar

 

Nayel Nassar sinh năm 1991 tại Chicago, là con của người sáng lập công ty Diwan, chuyên về kiến trúc và trang trí nội thất, được thành lập năm 1987 tại Kuwait. Thật ra anh là một “công dân toàn cầu” có nguồn gốc từ Ai Cập, thông thạo 3 thứ tiếng Anh, Pháp và Ả Rập.

Chuyện tình Nayel Nassar và Jennifer Katharine đã khiến truyền thông tốn khá nhiều lời bàn. Phải chăng đó là câu chuyện làm sáng tỏ ý kiến phân biệt giữa Giàu & Nghèo, trong đó Bill Gates cũng góp phần gợi ý làm thế nào để “kén rể” trong thời buổi đồng tiền nắm giữa phần quyết định !!!

 

Nayel Nassar và Jennifer Katharine

 

***

--> Read more..

Popular posts