Hiển thị các bài đăng có nhãn Thi ca. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thi ca. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 25 tháng 7, 2025

Tôi đến với Nàng Thơ

 “Ngán cho cái mũi vô duyên,

Câu thơ thi xã, con thuyền Nghệ An”

(Cao Bá Quát)

 Tương truyền trong thời gian làm một chức quan nhỏ ở Bộ lễ, Cao Bá Quát được nghe thơ của “Thi xã Mặc Vân”, nơi quy tụ nhiều thi sĩ nổi tiếng như Tùng Thiện Vương, Hà Tôn Quyền... thế nhưng ông lại lắc đầu, bịt mũi và thốt lên hai câu tỏ ý chê bai như trên.

Cao Bá Quát đã so sánh thơ thi xã với mùi của con thuyền buôn mắm xứ Nghệ… theo ý ông, “thơ không thể ngửi được!”… Đó có lẽ là lối phê bình thơ có một không hai trên thi đàn nước ta từ xưa đến nay.

Ngày nay, chúng ta thường coi thơ là một hình thức nghệ thuật tinh vi trong việc sử dụng ngôn ngữ với sự chọn lọc và sắp xếp từ ngữ để tạo nên hình ảnh mang tính gợi cảm đồi với người đọc hoặc người nghe.

Trong các thể loại thơ ở Việt Nam, ta có thể kể đến lục bát, song thất lục bát, các thể loại thơ Đường luật như thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cú rồi đến các loại thơ mới và thơ tự do.

Ngoại trừ thơ tự do, một hình thức hầu như không có một cấu trúc rõ rệt, các loại thơ khác hầu như đều có niêm luật nhất định. Chặt chẽ nhất có thể là các loại thơ Đường, trong đó cấu trúc về nội dung, luật về số chữ trong câu, số câu trong bài, về cách gieo vần quyết định thể loại của bài thơ.

Sự khắt khe trong cấu trúc làm cho thơ Đường trở nên gần như một hình loại văn học chỉ dành riêng cho các tầng lớp trung lưu trở lên. Chính vì sự khắt khe này, thơ Đường hiện nay dần dần bị phai nhạt và hầu như không còn ai để ý đến nữa.

***

Tôi cũng có một thời gian lạc vào đất của Nàng Thơ bằng cách “ti toe” viết ra một số bài thơ tuỳ theo cảm hứng và thấy rằng để làm “thi sĩ” khó hơn “văn sĩ” rất nhiều! Với văn chương, chỉ viết trong lúc ý tưởng tuôn trào nhưng với thơ phú không thể như vậy, làm thơ là một quá trình nhiêu khê vì phải sàng lọc câu chữ để diễn tả nỗi lòng.

Bước đầu tiên tôi có cả một thời gian dài chỉ dành để chép thơ của các thi sĩ nổi tiếng mà mình yêu thích khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Những bài thơ của các “bậc thầy” như Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính… cho đến Nguyên Sa, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Tất Nhiên… đã chiếm một chỗ ngồi trong quyển sách “thư chép tay”.

Phải đợi đến những năm cuối trung học trên Đà Lạt tôi mới lần đầu tiên làm 4 câu thơ lục bát do hoàn cảnh hữu tình xuất phát từ sở Xứ sở Sương mù. Cậu học sinh cảm thấy cô đơn giữa những con phố đông người đã phải thốt lên: 


“Tôi đi giữa phố đông người

Bước chân thu nhỏ cho chiều dừng đây

Khẳng khi đôi ống chân gầy

Kéo lê hè phố gót giầy thời gian!”


Bài thơ “Xưa & Nay” viết năm 2023 lập lại ý của những câu thơ đầu tiên nhưng đã có phần mô tả những diễn biến của cuộc đời sau khi đã từng bị đời hành “lên bờ, xuống ruộng”:

 

“Xưa đi giữa chốn đông người

Kéo lê hè phố gót giầy thời gian

Nay ngồi một chỗ thở than

Muốn đi chẳng đặng… vẫn ham với đời!

 

“Xưa còn hăm hở làm người

Bon chen, kèn cựa… nửa cười, nửa than

Ngày nay quanh quẩn một mình

Biết không tìm được ai người tri âm!

 

"Một mình lặng lẽ âm thầm

Cuối đời tiếc nuối… chỉ ngần ấy thôi

Đi ra rồi lại đi vào

Cũng may còn sức… đi vào, đi ra!

 

“Bao giờ thoát kiếp ta bà

Để ta rảnh nợ… đường xa khởi hành

Giã từ mọi thứ đành hanh

Bước lên một chuyến tàu nhanh tốc hành?

 

Cho đến khi tôi gặp được người trong mộng, nàng chỉ nói một câu “Chán em đi!” thế là bao ý tưởng tuôn trào:

 

“Mới hôm qua, gần nhau, em thủ thỉ

“Anh yêu nhiều, yêu quá… chán em đi!”

Chán em ư? Chuyện chẳng có bao giờ

Khi tình vẫn một lòng yêu, em nhỉ?

 

“Anh lại nghĩ, đến một ngày nào đó,

Em quay lưng, phủi tay… em giũ bỏ…

Chán cuộc đời và chán cả tình anh

Biết sao được… khi bất ngờ còn… bỏ ngỏ?

 

Nguồn thơ lai láng, tôi lại làm tiếp một bài “Bao giờ anh mới chán?”:

 

“Em hỏi anh, “Bao giờ anh mới chán?”

Câu hỏi này anh suy nghĩ lan man

Nói sao nhỉ? Cuộc đời này chán thật,

Một kiếp người mang khát vọng dở dang.

 

“Anh vẫn nghĩ, cuộc đời sao chán quá

Hết ngày này, rồi tháng khác trôi qua

Rồi công danh, sự nghiệp… đến tuổi già

Trong phút chốc thành hư vô, huyền ảo.

 

“Cho đến ngày anh gặp em trong mộng

Bỗng thấy mình như sống lại, chờ mong

Bao buồn chán bỗng dưng tan biến mất

Một nụ cười cũng đủ xóa hư không!

 

“Kể từ đó, anh không còn biết chán

Khi nhìn em như một giọt sương tan

Như người say nhìn đáy cốc rượu tàn

Và như thế… cuối đời anh viên mãn!

 

Thơ tình tời trai trẻ thật muôn mặt, kể cả những lúc thất tình chỉ mong toàn điều xấu xảy đến với người mình yêu. Phải chăng đó là phản ứng “trả thù” vì đã yêu mà không được đáp lại:

 

“Gió rung rầm rập mái lầu

Nghe như đinh đóng trên đầu người yêu!

Mưa rơi sầm sập mái ngoài

Dường như đinh đóng quan tài tình yêu!

 

“Mưa rơi, mưa đổ mỗi chiều

Mình ta lặng ngắm người yêu lìa đời!

Mưa rơi, mưa mãi không thôi

Làm sao như thể xa rồi người ơi!

 

“Trời cho mưa gió, chi trời

Lòng ta một nỗi rối bời tâm can.

Ước gì không phải là nàng

Để ta không phải ngỡ ngàng tình si!

 

Năm tháng trôi qua, tôi thấy mình bắt đầu già và chỉ còn lại một mình. “Độc hành” là tựa một bài thơ của một người bỗng cảm thấy cô đơn sau khi đã bon chen với đời… mà đời thì lại dửng dưng với kẻ đã từng lăn lộn trong guồng máy vô tình:

 

“Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời

Xa hoa, lộng lẫy… một mình tôi

Có ai thấu được lòng tôi với

Xin góp dùm tôi… chỉ một lời!

 

“Tôi vẫn ngồi đây quá nừa đời

Buồn vui lẫn lộn… chỉ mình tôi

Ai người thấu được đời phiêu lãng

Một kẻ lang thang rất kiệm lời.

 

“Cứ thế mà trôi đến cuối đời

Sang hèn, tủi nhục… một mình tôi

Đến nay biết được thì tôi đã

Gần đất, xa trời… bỏ cuộc chơi!

 

Độc hành

 

Tôi “Tự trào” qua một bài thơ ngũ ngôn, chữ thì ít nhưng lại truyền tải một ý thật dài để diễn tả cuộc đời của một kẻ mà người ta thường ca tụng “thất thập cổ lai hy”:

 

“Trông gầy như que tăm,

Ít đi, chỉ muốn nằm

Tuổi già ngày chồng chất,

Ngày tháng bỗng lạnh căm!

 

“Húp cháo ngon hơn cơm,

Thịt thà trông phát ớn

Còn đâu tái, nạm, gầu

Những ngày ăn phở sớm.

 

“Cá là bạn thiết thân

Dễ nhai, chẳng phải nhần

Răng cái còn, cái mất

Cố gắng mà nuôi thân.

 

“Cá là bạn thiết thân

Dễ nhai, chẳng phải nhần…

 

Cuộc gặp gỡ với Nàng Thơ xin được chấm dứt bằng ”Chân dung tự họa” viết năm 2022. Tôi nhìn thấy mình như một bộ xương khô hữu dụng cho các sinh viên trường Y để nghiên cứu về xác thân con người. Đó là việc làm hữu ích cuối cùng để giúp đời trước khi nhắm mắt:

 

“Bày mươi năm... tuổi có dư

Thêm bốn năm nữa là tròn tám mươi

Cầm tinh con chó giữ nhà

Thức khuya dậy sớm cùng gà gáy vang.

 

“Cơm ba bốn bữa ăn vào

Mà sao thân thể lúc nào cũng teo

Xương trên, xương dưới thi nhau

Xuất đầu, lộ diện trước sau đuề huề.

 

“Tay chân cà khẳng, cà kheo

Mắt mờ nên phải kinh đeo cả ngày

Ngủ thì chợp mắt tỉnh queo

Như con mèo ướt meo meo góc giường.

 

“Sáng ra nhìn lại trong gương

Thấy nguyên một bộ xương khô đứng nhìn

Ai đây? Ngợm chẳng ra người

Hồn ma, bóng quế miệng cười thấy ghê!

 

“Chân dung tư họa rõ phiền

Có ai thông cảm nỗi niềm… bộ xương?

Mai đây xin việc Trường Y

Bộ xương cách trí giúp nhiều sinh viên.!

 

Chân dung tự họa

 

Hi vọng những vần thơ vụng về của một kẻ "ngoại đạo" như tôi sẽ không khiến những bậc đàn anh, đàn chị phải "bit mũi" như Cao Bá Quát ngày nào!

 

***

 

(*) Cao Bá Quát (1808-1855) sống cùng thời với Phó bảng Nguyễn Văn Siêu (1795-1872) nổi tiếng về tài thơ văn, đồng thời là kiến trúc sư xây dựng nên quần thể đền Ngọc Sơn, Đài Nghiên, Tháp Bút, cầu Thê Húc ở Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội. Cả hai ông đều được người đương thời xưng tụng là “Thần Siêu, Thánh Quát” hay như “Văn như Siêu Quát vô tiền Hán”.

 

***

--> Read more..

Thứ Hai, 30 tháng 6, 2025

Nhà thơ Hữu Loan khóc giữa Sài Gòn

Lời giới thiệu của NNC:

 Nói đến Nguyễn Hữu Loan, tức nhà thơ Hữu Loan, người ta liên tưởng đến bài thơ “Màu tím hoa sim” được ông sáng tác vào năm 1949 tại Thanh Hoá với lời đề tặng “Khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh”. Bà là con gái cụ Lê Đỗ Kỳ, cùng công tác tại Uỷ ban tỉnh Thanh Hoá sau Cách mạng tháng Tám với Hữu Loan.

 

Hữu Loan và vợ

 

Cụ Lê Đỗ Kỳ có người con trai cả là Lê Đỗ Khôi, hy sinh tại Điện Biên Phủ 5 tiếng đồng hồ trước khi quân ta cắm cờ trên sở chỉ huy của Pháp. Tiếp đó là Lê Đỗ Nguyên, tức Trung tướng Hồng Cư. Em ông Cư là Lê Đỗ An, tức Nguyễn Tiên Phong, sau là Bí thư Trung ương Đoàn TNCS HCM. Em ông Nguyên là Đại tá Lê Đỗ Thái. Hai ông Hồng Cư và Lê Đỗ Thái hiện sống ở Hà Nội và đều lấy con gái GS. Đặng Thai Mai.

Bài thơ phổ biến tại Miền Nam không những qua sách báo, mà còn được phổ nhạc, hát rộng rãi trên đài phát thanh, các buổi trình diễn văn nghệ trên sân khấu, nhất là vào những năm thập niên 60 của thế kỷ 20. Bài thơ đả được các nhạc sĩ Dzũng Chinh, Phạm Duy, Anh Bằng, Duy Khánh, Nguyễn Đặng Mừng, Thu Hồ, Hồng Vân... phổ nhạc.

 

Hữu Loan và Phạm Duy

 

Bản “Màu tím hoa sim” thời ấy ngắn hơn bản tác giả công bố sau này. Bản cũ chấm hết ở mấy câu: “Tôi hát trong màu hoa. Áo anh sứt chỉ đường tà. Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu” chứ không có thêm “Tôi ví vọng về đâu. Tôi với vọng về đâu. Áo anh nát chỉ dù lâu...” ở cuối bài như sau này:

“Khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh”

Nàng có ba người anh đi bộ đội

Những em nàng

Có em chưa biết nói

Khi tóc nàng xanh xanh

Tôi người Vệ quốc quân

xa gia đình

Yêu nàng như tình yêu em gái

Ngày hợp hôn

nàng không đòi may áo mới

Tôi mặc đồ quân nhân

đôi giày đinh

bết bùn đất hành quân

Nàng cười xinh xinh

bên anh chồng độc đáo

Tôi ở đơn vị về

Cưới nhau xong là đi

Từ chiến khu xa

Nhớ về ái ngại

Lấy chồng thời chiến binh

Mấy người đi trở lại

Nhỡ khi mình không về

thì thương

người vợ chờ

bé bỏng chiều quê...

Nhưng không chết

người trai khói lửa

Mà chết

người gái nhỏ hậu phương

Tôi về

không gặp nàng

Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối

Chiếc bình hoa ngày cưới

thành bình hương

tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh

ngắn chưa đầy búi

Em ơi giây phút cuối

không được nghe nhau nói

không được trông nhau một lần

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím

áo nàng màu tím hoa sim

Ngày xưa

một mình đèn khuya

bóng nhỏ

Nàng vá cho chồng tấm áo

ngày xưa...

Một chiều rừng mưa

Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc

Được tin em gái mất

trước tin em lấy chồng

Gió sớm thu về rờn rợn nước sông

Đứa em nhỏ lớn lên

Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị

Khi gió sớm thu về

cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân

Qua những đồi hoa sim

Những đồi hoa sim

những đồi hoa sim dài trong chiều không hết

Màu tím hoa sim

tím chiều hoang biền biệt

Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa

Áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu

Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau

Chiều hoang tím có chiều hoang biết

Chiều hoang tím tím thêm màu da diết

Nhìn áo rách vai

Tôi hát trong màu hoa

Áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...

Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm

Tím tình ơi lệ ứa

Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành

Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn

Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím

Tôi ví vọng về đâu

Tôi với vọng về đâu

Áo anh nát chỉ dù lâu...

 

Thủ bút của nhà thơ Hữu Loan, viết lại bài Màu Tím Hoa Sim, “khóc vợ Lê Ðỗ Thị Ninh”

 

***

 

Bài viết của Cung Tích Biền:

 

Thật hạnh ngộ khi chúng tôi được gặp nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ Màu Tím Hoa Sim, cùng một số vị trong vụ án Nhân văn – Giai phẩm, những năm từ 1957 về sau, trên đất Bắc.

Sau tháng Tư 1975, trước khi nhà thơ Hữu Loan có dịp vào Nam, đã có một số thân hữu từ miền Nam ra Bắc thăm ông. Khó có thể mô tả cảnh nghèo khó của gia đình ông thuở ấy, lại khó hình dung ra cái tình cảnh cô đơn của một Hữu Loan bị chính quyền cô lập trong bao nhiêu năm.

Ông vào thăm Sàigòn khá muộn màng, có thể do điều kiện kinh tế quá khó khăn. Anh em chúng tôi có dàn xếp một ngày để tiếp ông. Cà phê sáng, dùng cơm trưa, buổi chiều đưa ông đi dạo chơi đó đây. Thuở ấy chỉ toàn xe đạp, sang trọng tí chút là xe gắn máy. Ông rất hồi hộp khi ngồi yên sau xe gắn máy. Ông luôn bảo “Đèo nhau xe đạp, chậm rãi, thì bình an hơn”.

 

Nhà thơ Hữu Loan (1916-2010)

 

Quán cà phê vườn khá rộng. Khi anh Duy đưa Hữu Loan tới, quanh bàn chúng tôi đã có Tô Kiều Ngân, Bùi Giáng, mấy anh em văn nghệ, có cả một lúc có hai cô, Huyền Tr. và Thúy V. một cô là ca sĩ, cô kia đang là diễn ngâm thơ cho đài phát thanh, trong các chương trình thi ca.

Hữu Loan, thoạt nhìn như một pho tượng, sạm một màu đất nung. Khuôn mặt chữ điền, tóc dài, trán rộng, sống mũi thẳng, cao. Tôi nghiêng người chào ông. Ông nở nụ cười. Một nụ cười cẩn thận, nói rằng thân thiện là chưa đúng. Một cái bắt tay của giao tế, dè chừng. Sống ở miền Nam, sau cơn dâu bể, nay gặp anh trở về, gặp chị ngoài kia vô, chào một nhà văn xứ Bắc vừa chạm mặt, tôi nhận ra tất cả họ đều có một hành xử khá giống nhau.

Bây giờ ông đang trước mặt. Với ly cà phê đen, bữa nay tôi có cái để mà Nhớ Lại, có cái để được Ngắm Nhìn. Hữu Loan, Ông từ đâu tới!

 

Hữu Loan thời còn trẻ

 

Trò chuyện với Hữu Loan, mến ông là một người khá hiểu biết về văn chương, học thuật. Dễ là chốn tri âm, tương phùng. Có thể do ông là người có học hành tử tế, trưởng thành vào thời kỳ nước nhà còn lưu giữ những nền móng đạo lý, những thứ vốn văn hóa quý hiếm của giống nòi.

Một ngày gặp gỡ. Bữa trưa uống một trận bia. Chiều đưa ông thăm chơi đó đây. Buổi tối ghé một quán vườn, rất đông anh em. Sáng hôm sau ông ghé tôi. Chúng tôi cùng uống cà phê, ăn sáng. Nhà tôi ngay đường Nguyễn Huệ nên nhà hàng Givral cũng gần. Vào quán, ông đầy vẻ ngỡ ngàng. Xem thực đơn, ông nói, “Tôi không biết gọi gì, anh gọi dùm”.

Tôi gọi cho ông ly cà phê sữa, bánh mì vuông, một đĩa thịt nguội, patê, xúc xích. Lúc này chúng tôi cũng đang túng thiếu, nhưng tiếp ông, tôi phải “bề thế” tí chút. Chẳng lẽ mấy mươi năm ông nhai củ mì ngoài Bắc, giờ này tôi mời ông mấy củ khoai lang trộn bo bo!

Tôi nhường ông ngồi ghế bên trong, nhìn ra đường, quang cảnh góc đại lộ Lê Lợi và Tự Do. “Sàigòn nó to rộng thế đấy”. Bên kia là Continental khách sạn thuộc loại cổ nhất Sàigòn, nhà Hát Tây [tòa nhà Hạ nghị viện thời Cộng Hòa], khách sạn Caravelle. Ông mãi nhìn cảnh đẹp bên ngoài, lại nhìn đĩa thịt nguội. Chừng không muốn ăn. Tôi giục ông ăn chút gì kẻo đói bụng.

Ông nói: “Anh cho tôi nhìn một hồi đã. Bao nhiêu năm tôi mới thấy cái món lạ lùng này”. Ông ăn một cách khó khăn. Chừng từ lâu không quen với dao nĩa. Tôi bèn gọi một đĩa tương tự, rồi bốc mà ăn, ý hô hào ông cùng bốc mà ăn.

 

Chân dung Hữu Loan qua nét vẽ của họa sĩ Bùi Quang Ngọc

 

Nhìn ông, tôi lại nhớ nước mắt của ông buổi sáng hôm qua. Lúc trò chuyện, tôi nói nhỏ với Thúy V. “Em nên ngâm bài Màu Tím Hoa Sim của chính Hữu Loan để tặng ông”.

Trong quán có cây đàn ghi-ta. Vũ D. đệm đàn. Tô Kiều Ngân rút cây sáo trúc “nhà nghề”, dìu giọng người ngâm thơ. Giọng Thúy V. mượt mà, khá trữ tình. Nghe ngâm thơ của mình, từ mấy mươi năm bị chế độ cấm phổ biến trên đất Bắc, Hữu Loan ngậm ngùi. Bất ngờ ông bật tiếng khóc.

Khuôn mặt như một phiến đá chỗ lòng suối cạn. Khó lòng thấm nước. Nhưng những hạt trong vắt cứ trôi xuống má. Ông có vẻ sờ soạng. Một bàn tay thò vào túi. Không có gì. Hai bàn tay thô tháp chỉ run run, ông kéo cái chéo áo ka-ki màu chàm, vải nhám, chừng cũng bẩn do mặc lâu ngày, đưa lên lau nước mắt…

 

Nhà thơ Hữu Loan (ngồi giữa) cùng con cháu những năm 2000

 

Nhà thơ Hữu Loan qua đời vào trung tuần tháng 3 năm 2010 tại quê nhà, hưởng thọ 94 tuổi. Phùng Quán ra đi ngày 22 tháng 1 năm 1995. Trần Dần mất ngày 17 tháng 1 năm 1997. Cùng những ngày của mùa xuân. Phan Khôi, Văn Cao, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Nguyễn Hữu Đang…và nhiều nữa… những thành phần trụ cột của Phong trào “Đi Tìm tự do tư tưởng, đòi hỏi nhân quyền”, là đỉnh cao của văn hóa, cội nguồn, nay đã ra người thiên cổ.

 

Mộ phần Hữu Loan bên màu tím hoa sin

 

Thiên cổ, là Bên Kia của hiện thực bên này ư? Bên kia, ai có nhớ về? Hoài niệm, bảo tôi nghĩ và viết những dòng này. 

(Hình ảnh do NNC sưu tầm trên mạng)

 

***

--> Read more..

Thứ Hai, 3 tháng 2, 2025

Tân xuân khai bàn phím!

Rồng thăng để đón mãng xà
Trong lùm, trong bụi trườn ra trị vì
Cầm tinh rắn độc có khi
Đổi đời nhân thế từ bi… lại hiền!


Xá gì một kiếp rắn rồng
Biết đâu lại được người trông kẻ chờ
Trông sao những chuyện bất ngờ
Chờ sao đến lúc làm thơ… đổi đời!


***

Bước sang năm mới yên bình
Ra đường không sợ kẻ rình, người soi
Không mang tâm trạng thiệt thòi
Nhân viên công lực không vòi vĩnh tham!


Dân đen nghiêm chỉnh chấp hành
Đèn xanh, đèn đỏ phân minh rạch ròi
Xin đừng lúc tỏ, lúc mờ
Khiến dân không biết đường rờ nơi mô!


***


Tân xuân khai bút vài dòng
“Bé Na” thông cảm nỗi lòng người dân!


***

"Bé Na" lên ngôi hậu




Cả 3 tín hiệu Đèn xanh, Đèn đỏ, Đèn vàng... đều sáng cùng lúc như thể... trêu ngươi!



Đi hay dừng... khi đèn giao thông vừa Đỏ vừa Xanh?



Núp lùm... Phạt nguội... Xì tiền!



***




--> Read more..

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2024

Thơ Nguyễn Bính viết từ Miền Nam


Trên bước đường lưu lạc giang hồ tứ xứ, nhà thơ “chân quê Bắc bộ” Nguyễn Bính (1918–1966) đã “trôi dạt” xuống Miền Trung, vào tận Sài Gòn và rồi đến vùng sông nước Lục tỉnh. Từ đó, thi đàn nước Việt có thêm một “Nguyễn Bính Miền Nam” bên cạnh một Nguyễn Bính cúa làng quê Miền Bắc.

Đầu tiên, Nguyễn Bính tỏ ý muốn đến Huế để tìm đề tài sáng tác. Gia đình ông không được khá giả cho lắm nên đã bán một số vật dụng, trong đó có một chiếc máy ảnh, để Nguyễn Bính dùng làm… “lộ phí giang hồ”.

 

Chân dung nhà thơ Nguyễn Bính (1918–1966)

 

Đến Huế, Nguyễn Bính gửi thơ về Hà Nội đăng báo, trong số đó có những bài “Xuân Tha Hương”“Oan Nghiệt”… Trong thời gian ở Huế, Nguyễn Bính đã làm một số thơ tuyệt hay, sau này tập hợp lại trong tập “Mười Hai Bến Nước”.

Nhân ngày Tết, Nguyễn Bính viết bài “Xuân Tha Hương” gửi cho người chị họ tên Trúc với những vần thơ thấm đẫm nỗi lòng của kẻ xa quê:

 

“Tết này chưa chắc em về được

Em gửi về đây một tấm lòng

Ôi, chị một em, em một chị

Trời làm xa cách mấy con sông

Em đi trăng gió đời sương gió

Chị ở vuông tròn phận lãnh cung

Chén rượu tha hương, giời: đắng lắm

Trăm hờn nghìn giận một mùa đông

Chiều nay ngồi ngắm hoàng hôn xuống

Nhớ chị làm sao, nhớ lạ lùng!...”

 

Qua bài “Màu Tím Huế” người yêu của Nguyễn Bính không còn là hình ảnh chất phác, mộc mạc của một cô gái quê Miền Bắc. Thay vào đó là hình ảnh nên thơ màu tím hữu tình của đất Thần Kinh:

 

“Thôi thế là em cách biệt rồi!

Đường đi mỗi bước lại xa xôi

Tim tím rừng chiều, tim tím núi

Tim tím chiều hôm, tim tím mai

 

“Ban chiều tim tím nhớ mong nhau

Đêm tối kìa em tím rất nhiều

Anh cúi xuống hôn màu tím giấy

Thư về em, tím nét thương đau…

 

“Mai mốt rồi đây lầm cát bụi

Anh lại đường xa trải kiếp người

Tim tím rừng chiều, tim tím núi

Chiều hôm nhiều tím thế em ơi!

 

Tem bưu chính phát hành nhân Kỷ niệm 100 năm Nguyễn Bính

 

Vào đến Sài Gòn, Nguyễn Bính có dịp được chiêm ngưỡng “Hòn ngọc Viễn đông”. Trong thời gian này ông đã gặp nhà thơ Đông Hồ, Kiên Giang… thậm chí có lúc ông cư ngụ ngay trong nhà Kiên Giang. Đó là thời ông viết những bài như “Hành Phương Nam”, “Tặng Kiên Giang”, “Từ Độ Về Đây”…

Khi còn ở Hà Nội, Nguyễn Bính chơi thân với Thâm Tâm và Trần Huyền Trân. Thâm Tâm, nhà thơ bậc thầy về thể loại hành, vào năm 1940 có sáng tác một bài hành nổi tiếng là bài “Tống Biệt Hành”.

Thâm Tâm còn sáng tác thêm một số bài hành nữa cũng rất hay như “Can Trường Hành”, “Vọng Nhân Hành” vào năm 1944. Có lẽ điều này đã kích thích Nguyễn Bính thử sức với một thể thơ không quen thuộc lắm với ông chăng?

“Hành Phương Nam” là một bài thơ dài, làm nhân dịp Tết xa nhà, vời lời đề tặng “Gửi Văn Viễn” được mở đầu như sau:

 

“Đôi ta lưu lạc phương Nam này

Trải mấy mùa qua én nhạn bay

Xuân đến khắp trời hoa rượu nở

Mà ta với người buồn vậy thay

 

“Lòng đắng sá gì muôn hớp rượu

Mà không uống cạn mà không say

Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã

Mà áo khinh cừu không ai may…

 

Bài thơ “Hành Phương Nam” được viết tại Ða Kao năm 1943. “Hành” là đi, bài thơ nói về chuyến đi vào Nam nhưng “hành” cũng là một thể thơ nói cái chí khí, cái ước nguyện lớn lao, chứa đựng nỗi niềm u uất, cảm khái của người viết.

Trong “Hành Phương Nam” Nguyễn Bính không còn là thi sĩ nữa, ông là tráng sĩ, lời thơ là tiếng lòng bi phẫn thoát ra từ một kiếp người:

 

“Ta đi nhưng biết về đâu chứ

Ðã dấy phong yên lộng bốn trời

Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ

Uống say mà gọi thế nhân ơi

Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ

Ta với nhà ngươi cả tiếng cười

Dằn chén hất mạnh đầu cỏ dại

Hát rằng phương Nam ta với ngươi

Ngươi ơi! Ngươi ơi! Hề ngươi ơi!

Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh

Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi…”

 

Nguyễn Bính (hoạ sĩ Tạ Tỵ vẽ) - Hành Phương Nam

 

Một bài thơ khác của Nguyễn Bình cũng thuộc loại “hành”, cũng viết ở Sài Gòn: “Ái Khanh Hành”. Bài thơ lại mang một sắc thái mới lạ pha lẫn chút âm hưởng của dòng thơ tự do qua lối gieo vần lạ lẫm:

 

“Chao ơi!

Em ngon như rau cải

Em ngọt như rau ngót

Em giòn như cùi dừa

Em hiền như nước mưa

Em nhổ nước bọt xuống mặt biển

Mặt biển thơm lên hai mươi bốn giờ!’

 

Vẫn là đề tài tình yêu, vẫn có mô-típ cũ em là “hoàng hậu” và anh là “vua” kết thành vợ chồng. Hai chữ “ái khanh” cũng rất cũ, song cũng có hơi hướng cải lương của Nam bộ. Nhưng giọng điệu của bài thơ viết theo lối hành này thì lại rất lạ, như kiểu nói của người Nam bộ thẳng băng, dứt khoát.

Nhưng đặc biệt nhất trong bài là đoạn so sánh người yêu viết rất khác, khác đến sửng sốt, so với thơ Nguyễn Bính chúng ta đã quen và cách nói kiểu này chỉ có ở thơ ông khi ông đã vào Nam.

Giọng thơ của ông đã hào sảng hẳn lên cả khi nói về tình yêu, chứ không còn nỉ non, than vãn não nùng như ngày nào. Nguyễn Bính lưu lạc vào Nam đã tự phát hiện lại chính mình và cho người đọc phát hiện mới về mình.

Trong bài “Lá Thư Về Bắc” gửi cho người anh họ, nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn, Nguyễn Bính đã nhắc lại buổi Nam Chinh của mình:

 

“Lẻ loi thân nhạn sang Nam ấy

Biết có làm nên công cán gì?”

 

Đến khi tới Sài Gòn, ông thấy mình như con chim non:

 

“Bơ vơ trong xứ người xa lạ

Rộn những phồn hoa, em chạnh buồn”

 

Nhưng Sài Gòn và đất Phương Nam đã cho ông một tin tưởng, một hy vọng, điều rất khó thấy trong thơ ông trước đó.

 

“Rồi men tráng lệ kinh thành ấy

Từ đấy in thêm bóng một người

Bóng một nhà thơ đầy nguyện vọng  

Giàu lòng tin tưởng bước tương lai”

 

Bìa tập thơ “Lỡ Bước Sang Ngang”

 

Vào Nam, điều đầu tiên ông thấy là khí hậu, trời đất khác hẳn đất Bắc, ngay cả phong tục cũng khác như trong bài “Xuân Về Nhớ Cố Hương”:

 

“Xuân về chẳng có hoa tươi

Nắng luôn cả sáu tháng trời không mưa

Người ta ăn tết buồn chưa

Rượu bia hoa giấy và dưa đỏ lòng

Ba ngày tết nóng như nung

Hỏi phong vị ấy là phong vị gì?”

 

Bài “Nam Kỳ Cũng Gió Cũng Mưa” viết tại Sài Gòn năm 1943 khiến người yêu thơ hiểu rõ hơn về thời tiết trong Nam:

 

“Nam Kỳ cũng gió cũng mưa

Đêm đêm đắp đổi cũng vừa chăn bông

Mình đi trăm núi ngàn sông

Ngờ đâu mang cả lạnh lùng sang Nam

Những ai đón bạc, đưa vàng:

Những ai đan áo ngự hàn ngày xưa

Những ai mảnh quạt đề thơ

Những ai? Ai đó? Bây giờ những ai?”

 

Dần dần ông nhập cuộc vào đời sống Sài Gòn. Từ một người yêu xóm đạo ở Lan Chi Viên, Nguyễn Bính đã khóc trước ảnh Chúa và tiếng chuông nhà thờ để rồi trong cơn tuyệt vọng người yêu phải lên xe hoa. Ông đã nghĩ tới một Chúa khác của lòng mình hòng bấu víu, nương tựa trong bài thơ “Chuông Ngọ”:

 

“Cái hôm hắn bước lên xe cưới

Khóc lả người đi, Chúa biết không?

Chúng con ngoại đạo và ngoan đạo

Vẫn biết và tin có “Chúa lòng”

 

Từ Jesus Christ của Thiên Chúa giáo, nhà thơ đã tạo ra một “Chúa lòng” của Ái Tình mà tất thảy những người yêu nhau đều là những tín đồ ngoan đạo của vị Chúa này. Và trước “Chúa lòng” đôi người yêu dẫu bị xa nhau nhưng vẫn thuộc về nhau.

 

Bà Nguyễn Hồng Châu bên bàn thờ và di ảnh chồng, thi sĩ Nguyễn Bính

 

Xuống đến Nam Kỳ Lục tỉnh, nhà thơ Nguyễn Bính đã dán thơ trước cửa túp lều của mình ở Rạch Giá năm 1947. Những vần thơ khí phách, bất cần đời:

 

“Từ độ về đây sống rất nghèo

Bạn bè chỉ có gió trăng theo

Những thằng bất nghĩa xin đừng đến

Hãy để thềm ta xanh sắc rêu”

 

(Từ độ về đây)

 

Tiến thêm một bước nữa là những bài thơ viết ở Ðồng Tháp Mười trong những ngày đầu kháng chiến mà Nguyễn Bính đã dừng chân lưu lạc giang hồ để tham gia. Thơ Nguyễn Bính lúc này khác hẳn lối thơ ngày trước của ông ở lối ngắt câu, ngắt đoạn, ở nhịp thơ tự do.

 

“Bông súng ngoài đồng

Bầm gan tím mặt

Nước phèn chua chát

Lắng nỗi đau thương

Đốc binh Kiều, Thiên hộ Dương

Bóng cờ khởi nghĩa mờ trong gió sương…”

 

(Đồng Tháp Mười, 1949)

 

Bài thơ “Cửu Long Giang” xuất hiện lần đầu năm 1950, hồi đó nhà thơ Nguyễn Bính đang là cán bộ tuyên truyền Khu 8. Bài thơ đã nhanh chóng chiếm được cảm tình của các chiến sĩ sau này trở thành bài hát “Tiểu đoàn 307”, được nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc.

 

“Ai đã từng qua Cửu Long Giang

Cửu Long Giang sông trào nước xoáy

Ai đã từng nghe tiếng Tiểu đoàn

Tiếng Tiểu đoàn Ba trăm lẻ bảy

Buổi xuất quân Tiểu đoàn năm ấy

Cả Tiểu đoàn thề dưới sao vàng

Người chiến sĩ tiếc gì máu rơi…

Đoàn quân lẻ bảy

Kể từ hôm ấy

Đánh đâu được đấy

Oai hùng biết mấy…”

 

Thì ra Nguyễn Bính không chỉ là nhà thơ của tình quê, hồn quê. Ông không chỉ ngồi tương tư cô hàng xóm, nhớ cô lái đò, khóc hồn trinh nữ… Ông còn thực sự là một nhà thơ chiến sĩ, xuất hiện kịp thời, có hiệu quả nhất!

Người ta còn nhớ, Thủ tướng chính phủ "Nam Kỳ Tự Trị" Nguyễn Văn Thinh có treo giải: Ai đưa được nhà thơ Nguyễn Bính "dinh tê" theo chính phủ sẽ được thưởng 1.000 đồng Đông Dương! Nếu nhà thơ tự vào thành cũng được hưởng như thế. Và đây là câu trả lời dứt khoát:

 

“Mình không bỏ Sở sang Tề

Mình không là kẻ lỗi thề thì thôi”  

 

Năm 1954, Nguyễn Bính tập kết trở lại Miền Bắc để chấm dứt quãng thời gian Xuôi Nam. Trong suốt 30 năm, Nguyễn Bính đã sáng tác nhiều thể loại như thơ, kịch, truyện thơ... Ông sáng tác rất mạnh, viết rất đều và sống hết mình cho sự nghiệp thi ca.

Nguyễn Bính mất năm 1996 tại quê hương Nam Định. Đó là vào ngày cuối cùng của năm Ất Tỵ, ngày 20/1/1966.

 

Mộ nhà thơ Nguyễn Bính tại quê nhà

 *** 

--> Read more..

Popular posts