Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân vật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân vật. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2025

Cặp bài trùng Thomas Edison & Henry Ford

Thomas Alva Edison (1847-1931) là một nhà phát minh đã phát triển rất nhiều thiết bị có ảnh hưởng lớn tới cuộc sống con người trong thế kỷ 20. Ông là tác giả của khoảng 1.500 bằng sáng chế tại Hoa Kỳ, Anh Quốc, Pháp, và Đức. Trong số đó, việc phát minh ra bóng đèn điện đã làm thay đổi nếp sống của toàn thế giới.

 

Thomas Edison (1847-1931)

 

Ông từ trần ngày 18/10/1931 tại New Jersey, hưởng thọ 84 tuổi. Ba ngày trước khi ông qua đời (và cũng là ngày lễ kỉ niệm 52 năm xuất hiện những chiếc bóng đèn điện đầu tiên), cả nước Mỹ tắt toàn bộ đèn điện trên toàn lãnh thổ trong một phút! Đó là cách tri ân “vô tiền khoáng hậu” đối với một nhà phát minh có tầm ảnh hưởng với cả một quốc gia.

Ngoài bóng đèn điện, ông đã góp công trong việc thực nghiệm điện thoại, máy quay đĩa, tàu điện, máy phân tích quặng và một số cải tiến phát minh khác. Năm 1880 ông trở thành kỹ sư trưởng của Xưởng đèn Edison với công suất hơn 50.000 bóng đèn.

 

Mô hình bóng đèn thành công đầu tiên của Thomas Edison, tháng 12 năm 1879

 

Phòng thí nghiệm của Thomas Edison ở Menlo Park, New Jersey, thực ra là viện nghiên cứu được thành lập với mục đích chuyên biệt nhằm tạo ra những cải tiến và cách tân liên tục trong công nghệ.

Vốn bị ảnh hưởng bởi một chế độ ăn giàu chất béo từ hồi còn nhỏ, trong những năm cuối đời, ông không ăn gì ngoài việc cứ ba giờ uống một lít sữa!. Ông tin rằng chế độ ăn như vậy sẽ giúp ông hồi phục sức khỏe trong đó có sự khiếm khuyết về thính giác của mình.

 

Phòng thí nghiệm Menlo Park của Edison, tại Greenfield, Dearborn, Michigan

 

Năm 1896, Thomas Edison gặp gỡ Henry Ford (1863-1947), một nhà phát minh trong công ty của mình với tham vọng chế tạo một chiếc xe hơi thử nghiệm. Cuộc gặp gỡ “định mệnh” diễn ra trong một bữa tiệc của công ty ở New York và Edison rất ấn tượng với ý tưởng về chiếc xe chạy bằng xăng của Ford.

Nhận xét về Henry Ford, Edison đã từng nói: "Chàng trai trẻ đó đã chọn một điều đúng đắn và tôi nghĩ anh đang đi đúng hướng! Tôi khuyến khích anh tiếp tục theo đuổi!". Được sự khích lệ của nhà phát minh đáng kính, Henry Ford tiếp tục công việc của mình, cuối cùng một chiếc xe hơi đã làm nên lịch sử.

Cha của Henry Ford đã cho ông một cái đồng hồ đeo tay khi ông bắt đầu sang tuổi thanh niên. Tới mười lăm tuổi, ông đã nổi tiếng là một anh thợ sửa chữa đồng hồ giỏi, đã từng tháo ra và lắp lại các loại đồng hồ của bạn bè và hàng xóm tới hàng chục lần.

 

Henty Ford (1863-1947)

 

Năm 1891, Ford trở thành một kỹ sư ở Edison Illuminating Company, và sau khi ông được thăng chức lên làm kỹ sư trưởng năm 1893, ông đã có đủ thời gian và tiền bạc để dành cho sự chú tâm của mình tới việc thực nghiệm máy chạy xăng.

Năm 1879, Henry Ford rời gia đình để đến thành phố gần đó ở Detroit và làm việc với tư cách thợ học việc. Năm 1882, ông quay trở lại Dearborn để làm việc ở trang trại gia đình và trở thành người lão luyện trong việc điều khiển máy hơi nước loại Westinghouse và ông đã được công ty thuê để bảo dưỡng các loại máy móc.

Henry Ford sau này là người sáng lập Công ty Ford Motor. Ông cũng là một trong những người đầu tiên tiên phong áp dụng sản xuất dây chuyền lắp ráp trong ngành công nghiệp ô tô.

Ngày 5/1/1914 Ford công bố “chương trình 5 đô la một ngày” với mục đích nâng cao thu nhập cho công nhân. Chương trình này kêu gọi giảm giờ làm việc từ 9 giờ xuống còn 8 giờ và nâng mức lương tối thiểu từ 2,34 lên 5 đô la cho các công nhân lành nghề.

 

Dây chuyền sản suất xe hơi của Ford

 

Henry Ford không chỉ cách mạng ngành công nghiệp sản xuất ở Hoa Kỳ và châu Âu mà còn có nhiều ảnh hưởng tới kinh tế và xã hội trong thế kỷ 20. Người ta thường nói đến "Chủ nghĩa Ford", bao gồm sự phối hợp giữa những yếu tố sản xuất hàng loạt, tiền lương cao cho công nhân và giá thành sản phẩm thấp đối với người tiêu dùng.

Sản phẩm nổi tiếng nhất của Henry Ford là chiếc Ford Model T, được sản xuất trong khoảng thời gian từ ngày 1/10/1908 đến ngày 26/5/1927. Mẫu xe này thường được coi là mẫu xe hơi giá rẻ đầu tiên, mang đến phương tiện đi lại cho tầng lớp trung lưu của Mỹ.

Model T của Ford thành công không chỉ nhờ là một phương tiện giao thông giá phải chăng được sản xuất đại trà, mà còn bởi vì chiếc xe biểu thị sự đổi mới của tầng lớp trung lưu đang lên và đã trở thành một biểu tượng mạnh mẽ của thời đại hiện đại hóa tại nước Mỹ: 16,5 triệu chiếc được bán ra, xếp thứ tám trong danh sách 10 mẫu xe có doanh số cao nhất mọi thời đại tính đến năm 2012.

 

Kiểu xe Ford Model T

 

Ford đã trở thành một trong những người giàu nhất thế giới thế kỷ 20, ông để lại hầu như toàn bộ tài sản của mình cho Quỹ Ford, nhưng vẫn thu xếp để gia đình ông giữ được quyền quản lý công ty.

Ford rời Công ty chiếu sáng Edison năm 1899 để thành lập Công ty Ô tô Detroit. Công ty này đã nhanh chóng phá sản bởi vì Ford tiếp tục cải tiến thiết kế, chứ không bán xe. Ford cho xe của mình chạy đua với xe của các công ty khác để thể hiện các ưu thế trong thiết kế của ông.

Vì chú ý tới xe đua, ông đã thành lập nên một công ty thứ hai, Công ty Henry Ford. Trong giai đoạn này, chính ông là người lái xe và chiến thắng trong cuộc đua với Alexander Winton, một tay đua nổi tiếng và rất được hâm mộ vào ngày 10/10/1901.

Trở lại câu chuyện về “cặp bài trùng” Edison-Ford, ngày 9/12/1914, phòng thí nghiệm và nhà máy của Edison bị thiêu rụi trong một vụ hỏa hoạn. Khi đó Edison đã tuổi 67, thiệt hại trong vụ hoả hoạn quá lớn để bảo hiểm có thể bù đắp.

Trước khi đống tro tàn nguội lạnh, Henry Ford đã trao cho Henry Edison một tấm séc trị giá 750.000 đô la kèm theo một ghi chú rằng Edison có thể nhận thêm nếu cần để biểu thị “mối tình bạn vong niên” giữa hai người.

Quả thật Thomas Edison đã khiến cho Henry Ford tự tin vào bản thân mình để tạo ra một tình bạn suốt đời dù hai người cách nhau đến 16 tuổi. Tình bạn đối với hai người thật đúng như ta thường ví von là… “một cặp bài trùng”!

Đó là thứ tình bạn thực sự.

Một khi bạn cùng nhau cười vào những lúc vui vẻ… nhưng cũng sẽ cùng nhau chia sẻ trong những lúc khó khăn!

 

***
--> Read more..

Thứ Sáu, 18 tháng 7, 2025

Người viết thuê từ Sài Gòn

Tại Bưu điện Trung tâm Sài gòn có một người đã từng được mệnh danh là "người viết thư xuyên hai thế kỷ", “người viết thư tay thuê cuối cùng của Việt Nam”… người đã từng chấp bút cho hàng nghìn lá thư viết tay bằng các thứ tiếng Việt, Anh, Pháp, giúp các gia đình người Việt ở nước ngoài được kết nối với người thân trong suốt 30 năm làm hành nghề.

“Người viết thuê” Dương Văn Ngộ (1930-2023) vốn xuất thân từ một gia đình gốc Hoa nghèo khó, năm 16 tuổi, ông bắt đầu làm việc cho ngành bưu điện với vai trò bưu tá, đến năm 1990 về hưu và bắt đầu công việc viết và dịch thư tay thuê ngay tại Bưu điện Sài Gòn.

Người Sài Gòn quý ông bởi sự cần mẫn và tỉ mỉ trong từng con chữ, thay họ truyền tải thông điệp qua những cánh thư gửi đến thân nhân ở nước ngoài. Bưu điện có đến 6 người cùng nghề nhưng đã nghỉ việc rồi qua đời, nhưng ông là người viết thư cuối cùng, theo đuổi đến ngày cuối đời dù đã 90 tuổi.

 

Ông Dương Văn Ngộ (1930-2023)

 

Ông Ngộ đã bắt đầu gắn bó với nghề bưu chính từ năm 16 tuổi, ban đầu làm việc tại Bưu điện Thị Nghè và đến năm 1948, ông trở thành nhân viên chính thức của Bưu điện Sài Gòn. Công việc ban đầu của ông là lựa thư để chuyển đi, sau đó lần lượt trải qua nhiều công việc chuyên môn trong nghề.

Năm 36 tuổi, ông được bưu điện cho đi học tiếng Anh và Pháp nhằm phục vụ công việc. Ông Ngộ kể rằng lúc đầu được học tiếng Pháp ở Trường Tiểu học Phú Lâm, còn việc thông thạo tiếng Anh là nhờ được Ban giám đốc cho đi học ở Hội Việt Mỹ.

Khi về hưu, ông được bố trí một bàn làm việc tại một góc của trung tâm Bưu điện, phía cuối dãy hành lang. Từ thứ 2 đến thứ 6, ông Ngộ đều đặn làm việc từ 8 giờ sáng đến 3 giờ rưỡi chiều. Công việc của ông là viết thư tay, ngoài ra ông còn hướng dẫn thông tin cho những người lần đầu đến bưu điện.

 

Người về hưu trong Bưu điện thành phố

 

Suốt 30 năm trong nghề, ông Ngộ đã chứng kiến nhiều buồn vui của người đời và từng chắp cánh cho không ít cuộc hôn nhân... Hàng vạn bức thư tình của những người yêu gửi cho nhau đã từ Bưu điện Trung tâm Sài Gòn chuyển đến tận tay người nhận khắp thế giới. Dù đã viết hàng vạn lá thư tay, nhưng ông bảo, mỗi khi viết cho khách xong là ông... quên hết.

"Nguyên tắc trong nghề, phải tuyệt đối giữ bí mật và quên ngay những gì mình vừa viết ra cho khách". Nên khi khách đi là ông không giữ lại bất cứ thông tin gì cả. Ông cũng không hỏi gì thêm về nhân thân, mối quan hệ thư từ của khách bởi ông cho rằng đó là những chuyện riêng tư, tò mò là không phải phép.

Mỗi lần dịch thư, ông chỉ lấy từ 10.000 đến 15.000 đồng, nhiều người ngỏ ý muốn cho thêm nhưng ông cương quyết không nhận vì ông không làm công việc này vì tiền mà chủ yếu là để giúp đỡ mọi người.

Bàn làm việc nhỏ của ông với tấm bảng đề dòng chữ “Nơi chỉ dẫn và viết giúp”, bên cạnh là mấy cuốn từ điển Anh - Pháp - Việt, kính lúp, những bài báo cũ cùng xấp ảnh kỷ niệm do nhiều du khách khi ghé lại nơi đây đã chụp và tặng lại ông.

“Ngày nào còn cống hiến được cho xã hội thì tôi vẫn làm, mình phải làm sao để du khách tới đây người ta yêu mến đất nước của mình”, ông Ngộ tâm sự.

 

Một tấm “bảng hiệu” đơn giàn

 

Ông chưa bao giờ đi đâu ra khỏi Việt Nam nhưng ông lại có nhiều bạn bè ở khắp năm châu. Khách du lịch nước ngoài tới đây không chỉ để để ngắm một trong những bưu điện cổ và đẹp nhất châu Á mà còn để được tận mắt chứng kiến công việc viết thư thuê của một nhân viên bưu điện về hưu.

Những năm 90 của thế kỷ trước, có những bức thư tình từ Pháp gửi về Việt Nam lời lẽ rất hay. Như một anh chàng người Pháp viết rằng trời vào đông băng giá lạnh lẽo và đông cứng mọi thứ, nhưng chẳng thể đóng kín tâm hồn anh ấy khỏi nỗi nhớ về cô gái Việt Nam vừa mới gặp, anh ta mong được cô chấp nhận hò hẹn.

Tất cả những bức thư họ gửi cho nhau trong rất nhiều năm ông Ngộ là người dịch. Kể cả trước ngày cô gái lấy chồng…"Bức thư chia xa đẫm nước mắt khiến tôi cũng buồn theo vì chẳng đành lòng, tôi dịch mà tự thấy đau cho họ. Nghề này có những nỗi buồn khó nói lắm. Còn nhiều chuyện nữa, có kể cả tháng cũng không hết", ông Ngộ tâm tình.

"Thế bây giờ có thư tình nào người ta viết cho nhau nhờ bác không?"

"Có nhưng ít", ông nói. Dù gì người ta nhận một bức thư tay cảm xúc cũng sẽ khác với thư điện tử rất nhiều. Có lẽ, trong lòng ông Ngộ hiểu rõ cả một trời thương nhớ cũ rồi sẽ dần lùi đi nhường chỗ cho thư tín điện tử.

 

Ông Ngộ bên những… “tác phẩm”

 

Những yêu thương xuyên biên giới mà người gửi đi mỗi ngày vẫn tới lui bưu điện chờ hồi âm và vỡ òa khi đối phương hồi tín. Sau đó, mọi chuyện sẽ thành hoài niệm, chẳng ai kể, chẳng mấy người nhớ đến.

Có một bà mẹ vẫn lặn lội từ Bình Phước lên bưu điện Sài Gòn để nhờ ông Ngộ dịch thư sang tiếng Pháp, và gửi cho con trai đều đặn 2 – 3 tháng một lần. Qua thời gian, người đàn ông Pháp không chỉ gửi thư tay cho mẹ, mà còn gửi riêng những lá thư thể hiện sự cảm kích sâu sắc đến ông đã luôn miệt mài truyền tải thông điệp cho hai mẹ con.

Bà Nguyễn Thị Thu Vân, Giám đốc Bưu điện TP.HCM, tâm sự: "Bác Ngộ là một phần của bưu điện, bác đã dành cả cuộc đời cho nghề, những câu chuyện của bác kể cho du khách thật sự có ý nghĩa rất lớn”

Nỗi lòng của bà Vân cũng chính là lo lắng của nhiều người. Những ngày trái gió, ông mệt không thể đến được, góc bưu điện bỗng chưng hửng, trống trải. Những nhân viên bưu điện lại mong ngóng ông…

 

Hình chụp ông Ngộ bên ngoài bưu điện (tháng 7/2019)

 

Hình ảnh một ông lão đạp chiếc xe cà tàng đến Bưu điện Trung tâm Sài Gòn, cần mẫn viết hộ những dòng thư cho khách cũng đã trở thành quen thuộc, một nét rất riêng của người Sài Gòn.

 

Ông Ngộ đạp xe đến chỗ làm

 

Phần thưởng tinh thần quý giá nhất là đối với ông là Giải thưởng Kova năm 2016, một giải thưởng trao tặng cho những người hoạt động trong các lãnh vực Kiến tạo, Sống đẹp, Triển vọng và Nghị lực, được sáng lập tại Việt Nam từ năm 2002.

 

Ông Ngộ nhận Giải thưởng Kova, 2016

 

Tiếp đến, năm 2020 ông Dương Văn Ngộ còn được Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam trao danh hiệu "Người viết thư thuê lâu năm nhất Việt Nam". Quả là một điều quá tự hào!

 

Xác lập kỷ lục "Người viết thư thuê lâu năm nhất Việt Nam"

 

Ông Dương Văn Ngộ qua đời ngày 1/8/2023 tại quận Bình Thạnh, Sài Gòn, hưởng thọ 94 tuổi, và được yên nghỉ tại Hoa viên Bình Dương.

“Người viết thuê” đã để lại một kỷ niệm khó quên trong lòng những người biết chuyện tại Sài Gòn… Kính chúc ông an nghỉ sau một quãng đời, tuy bình dị nhưng lại trán đầy nhân ái.

 

Lời tiễn biệt cuối cùng


***  


--> Read more..

Thứ Hai, 30 tháng 6, 2025

Nhà thơ Hữu Loan khóc giữa Sài Gòn

Lời giới thiệu của NNC:

 Nói đến Nguyễn Hữu Loan, tức nhà thơ Hữu Loan, người ta liên tưởng đến bài thơ “Màu tím hoa sim” được ông sáng tác vào năm 1949 tại Thanh Hoá với lời đề tặng “Khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh”. Bà là con gái cụ Lê Đỗ Kỳ, cùng công tác tại Uỷ ban tỉnh Thanh Hoá sau Cách mạng tháng Tám với Hữu Loan.

 

Hữu Loan và vợ

 

Cụ Lê Đỗ Kỳ có người con trai cả là Lê Đỗ Khôi, hy sinh tại Điện Biên Phủ 5 tiếng đồng hồ trước khi quân ta cắm cờ trên sở chỉ huy của Pháp. Tiếp đó là Lê Đỗ Nguyên, tức Trung tướng Hồng Cư. Em ông Cư là Lê Đỗ An, tức Nguyễn Tiên Phong, sau là Bí thư Trung ương Đoàn TNCS HCM. Em ông Nguyên là Đại tá Lê Đỗ Thái. Hai ông Hồng Cư và Lê Đỗ Thái hiện sống ở Hà Nội và đều lấy con gái GS. Đặng Thai Mai.

Bài thơ phổ biến tại Miền Nam không những qua sách báo, mà còn được phổ nhạc, hát rộng rãi trên đài phát thanh, các buổi trình diễn văn nghệ trên sân khấu, nhất là vào những năm thập niên 60 của thế kỷ 20. Bài thơ đả được các nhạc sĩ Dzũng Chinh, Phạm Duy, Anh Bằng, Duy Khánh, Nguyễn Đặng Mừng, Thu Hồ, Hồng Vân... phổ nhạc.

 

Hữu Loan và Phạm Duy

 

Bản “Màu tím hoa sim” thời ấy ngắn hơn bản tác giả công bố sau này. Bản cũ chấm hết ở mấy câu: “Tôi hát trong màu hoa. Áo anh sứt chỉ đường tà. Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu” chứ không có thêm “Tôi ví vọng về đâu. Tôi với vọng về đâu. Áo anh nát chỉ dù lâu...” ở cuối bài như sau này:

“Khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh”

Nàng có ba người anh đi bộ đội

Những em nàng

Có em chưa biết nói

Khi tóc nàng xanh xanh

Tôi người Vệ quốc quân

xa gia đình

Yêu nàng như tình yêu em gái

Ngày hợp hôn

nàng không đòi may áo mới

Tôi mặc đồ quân nhân

đôi giày đinh

bết bùn đất hành quân

Nàng cười xinh xinh

bên anh chồng độc đáo

Tôi ở đơn vị về

Cưới nhau xong là đi

Từ chiến khu xa

Nhớ về ái ngại

Lấy chồng thời chiến binh

Mấy người đi trở lại

Nhỡ khi mình không về

thì thương

người vợ chờ

bé bỏng chiều quê...

Nhưng không chết

người trai khói lửa

Mà chết

người gái nhỏ hậu phương

Tôi về

không gặp nàng

Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối

Chiếc bình hoa ngày cưới

thành bình hương

tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh

ngắn chưa đầy búi

Em ơi giây phút cuối

không được nghe nhau nói

không được trông nhau một lần

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím

áo nàng màu tím hoa sim

Ngày xưa

một mình đèn khuya

bóng nhỏ

Nàng vá cho chồng tấm áo

ngày xưa...

Một chiều rừng mưa

Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc

Được tin em gái mất

trước tin em lấy chồng

Gió sớm thu về rờn rợn nước sông

Đứa em nhỏ lớn lên

Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị

Khi gió sớm thu về

cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân

Qua những đồi hoa sim

Những đồi hoa sim

những đồi hoa sim dài trong chiều không hết

Màu tím hoa sim

tím chiều hoang biền biệt

Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa

Áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu

Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau

Chiều hoang tím có chiều hoang biết

Chiều hoang tím tím thêm màu da diết

Nhìn áo rách vai

Tôi hát trong màu hoa

Áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...

Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm

Tím tình ơi lệ ứa

Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành

Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn

Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím

Tôi ví vọng về đâu

Tôi với vọng về đâu

Áo anh nát chỉ dù lâu...

 

Thủ bút của nhà thơ Hữu Loan, viết lại bài Màu Tím Hoa Sim, “khóc vợ Lê Ðỗ Thị Ninh”

 

***

 

Bài viết của Cung Tích Biền:

 

Thật hạnh ngộ khi chúng tôi được gặp nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ Màu Tím Hoa Sim, cùng một số vị trong vụ án Nhân văn – Giai phẩm, những năm từ 1957 về sau, trên đất Bắc.

Sau tháng Tư 1975, trước khi nhà thơ Hữu Loan có dịp vào Nam, đã có một số thân hữu từ miền Nam ra Bắc thăm ông. Khó có thể mô tả cảnh nghèo khó của gia đình ông thuở ấy, lại khó hình dung ra cái tình cảnh cô đơn của một Hữu Loan bị chính quyền cô lập trong bao nhiêu năm.

Ông vào thăm Sàigòn khá muộn màng, có thể do điều kiện kinh tế quá khó khăn. Anh em chúng tôi có dàn xếp một ngày để tiếp ông. Cà phê sáng, dùng cơm trưa, buổi chiều đưa ông đi dạo chơi đó đây. Thuở ấy chỉ toàn xe đạp, sang trọng tí chút là xe gắn máy. Ông rất hồi hộp khi ngồi yên sau xe gắn máy. Ông luôn bảo “Đèo nhau xe đạp, chậm rãi, thì bình an hơn”.

 

Nhà thơ Hữu Loan (1916-2010)

 

Quán cà phê vườn khá rộng. Khi anh Duy đưa Hữu Loan tới, quanh bàn chúng tôi đã có Tô Kiều Ngân, Bùi Giáng, mấy anh em văn nghệ, có cả một lúc có hai cô, Huyền Tr. và Thúy V. một cô là ca sĩ, cô kia đang là diễn ngâm thơ cho đài phát thanh, trong các chương trình thi ca.

Hữu Loan, thoạt nhìn như một pho tượng, sạm một màu đất nung. Khuôn mặt chữ điền, tóc dài, trán rộng, sống mũi thẳng, cao. Tôi nghiêng người chào ông. Ông nở nụ cười. Một nụ cười cẩn thận, nói rằng thân thiện là chưa đúng. Một cái bắt tay của giao tế, dè chừng. Sống ở miền Nam, sau cơn dâu bể, nay gặp anh trở về, gặp chị ngoài kia vô, chào một nhà văn xứ Bắc vừa chạm mặt, tôi nhận ra tất cả họ đều có một hành xử khá giống nhau.

Bây giờ ông đang trước mặt. Với ly cà phê đen, bữa nay tôi có cái để mà Nhớ Lại, có cái để được Ngắm Nhìn. Hữu Loan, Ông từ đâu tới!

 

Hữu Loan thời còn trẻ

 

Trò chuyện với Hữu Loan, mến ông là một người khá hiểu biết về văn chương, học thuật. Dễ là chốn tri âm, tương phùng. Có thể do ông là người có học hành tử tế, trưởng thành vào thời kỳ nước nhà còn lưu giữ những nền móng đạo lý, những thứ vốn văn hóa quý hiếm của giống nòi.

Một ngày gặp gỡ. Bữa trưa uống một trận bia. Chiều đưa ông thăm chơi đó đây. Buổi tối ghé một quán vườn, rất đông anh em. Sáng hôm sau ông ghé tôi. Chúng tôi cùng uống cà phê, ăn sáng. Nhà tôi ngay đường Nguyễn Huệ nên nhà hàng Givral cũng gần. Vào quán, ông đầy vẻ ngỡ ngàng. Xem thực đơn, ông nói, “Tôi không biết gọi gì, anh gọi dùm”.

Tôi gọi cho ông ly cà phê sữa, bánh mì vuông, một đĩa thịt nguội, patê, xúc xích. Lúc này chúng tôi cũng đang túng thiếu, nhưng tiếp ông, tôi phải “bề thế” tí chút. Chẳng lẽ mấy mươi năm ông nhai củ mì ngoài Bắc, giờ này tôi mời ông mấy củ khoai lang trộn bo bo!

Tôi nhường ông ngồi ghế bên trong, nhìn ra đường, quang cảnh góc đại lộ Lê Lợi và Tự Do. “Sàigòn nó to rộng thế đấy”. Bên kia là Continental khách sạn thuộc loại cổ nhất Sàigòn, nhà Hát Tây [tòa nhà Hạ nghị viện thời Cộng Hòa], khách sạn Caravelle. Ông mãi nhìn cảnh đẹp bên ngoài, lại nhìn đĩa thịt nguội. Chừng không muốn ăn. Tôi giục ông ăn chút gì kẻo đói bụng.

Ông nói: “Anh cho tôi nhìn một hồi đã. Bao nhiêu năm tôi mới thấy cái món lạ lùng này”. Ông ăn một cách khó khăn. Chừng từ lâu không quen với dao nĩa. Tôi bèn gọi một đĩa tương tự, rồi bốc mà ăn, ý hô hào ông cùng bốc mà ăn.

 

Chân dung Hữu Loan qua nét vẽ của họa sĩ Bùi Quang Ngọc

 

Nhìn ông, tôi lại nhớ nước mắt của ông buổi sáng hôm qua. Lúc trò chuyện, tôi nói nhỏ với Thúy V. “Em nên ngâm bài Màu Tím Hoa Sim của chính Hữu Loan để tặng ông”.

Trong quán có cây đàn ghi-ta. Vũ D. đệm đàn. Tô Kiều Ngân rút cây sáo trúc “nhà nghề”, dìu giọng người ngâm thơ. Giọng Thúy V. mượt mà, khá trữ tình. Nghe ngâm thơ của mình, từ mấy mươi năm bị chế độ cấm phổ biến trên đất Bắc, Hữu Loan ngậm ngùi. Bất ngờ ông bật tiếng khóc.

Khuôn mặt như một phiến đá chỗ lòng suối cạn. Khó lòng thấm nước. Nhưng những hạt trong vắt cứ trôi xuống má. Ông có vẻ sờ soạng. Một bàn tay thò vào túi. Không có gì. Hai bàn tay thô tháp chỉ run run, ông kéo cái chéo áo ka-ki màu chàm, vải nhám, chừng cũng bẩn do mặc lâu ngày, đưa lên lau nước mắt…

 

Nhà thơ Hữu Loan (ngồi giữa) cùng con cháu những năm 2000

 

Nhà thơ Hữu Loan qua đời vào trung tuần tháng 3 năm 2010 tại quê nhà, hưởng thọ 94 tuổi. Phùng Quán ra đi ngày 22 tháng 1 năm 1995. Trần Dần mất ngày 17 tháng 1 năm 1997. Cùng những ngày của mùa xuân. Phan Khôi, Văn Cao, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Nguyễn Hữu Đang…và nhiều nữa… những thành phần trụ cột của Phong trào “Đi Tìm tự do tư tưởng, đòi hỏi nhân quyền”, là đỉnh cao của văn hóa, cội nguồn, nay đã ra người thiên cổ.

 

Mộ phần Hữu Loan bên màu tím hoa sin

 

Thiên cổ, là Bên Kia của hiện thực bên này ư? Bên kia, ai có nhớ về? Hoài niệm, bảo tôi nghĩ và viết những dòng này. 

(Hình ảnh do NNC sưu tầm trên mạng)

 

***

--> Read more..

Thứ Hai, 16 tháng 6, 2025

Thêm một cánh chim lìa đàn!

Ngày 8/4/2025 tôi nhận được tin buồn về sự ra đi của Nguyễn Trung Chính, đồng môn khi còn học tại trường Trung học Ban Mê Thuột. Sau này, anh còn là một sĩ quan không quân làm việc dưới đất tại phi trường L19, chỉ cách thị xã BMT khoảng 3km.

 

Cáo phó Guise Nguyễn Trung Chính, bút hiệu Chinh Nguyen

 

Thời trung học của tôi trong cùng một lớp có “hiện tượng” phải nói là “hi hữu” về cái tên “Chính”. Anh là Nguyễn Trung Chính, tôi Nguyễn Ngọc Chính… lại còn có Đinh Quang Chính (trưởng lớp, sau này vào Thủ Đức nhưng lại vắn số, tử trận khi mới ra trường có vài năm).

Cuộc đời đưa đẩy nên tôi về trường Sinh ngữ Quân đội ở Sài Gòn và Nguyễn Trung Chính vào không quân (không phi hành), anh về lại BMT phụ trách đài radar tại thị trấn Bụi Mù Trời.

Sau khi Sài Gòn sụp đổ, Nguyễn Trung Chính sang định cư tại Mỹ và đời anh tiến rất xa và rất nhanh trên lãnh vực văn chương, thơ phú. Nổi bật nhất là việc thành lập nhóm Văn Thơ Lạc Việt quy tụ nhiều văn thi sĩ tại hải ngoại.

 

Văn Thơ Lạc Việt

 

Lại một sự tình cờ ngẫu nhiên nữa, nhà thơ có bút hiệu Chinh Nguyên bên Mỹ trong khi tôi ở Việt Nam lại có nick trên Facebook là Nguyen Chinh. Thế là cả hai ngoài cái tên Chính lại còn có bút hiệu đảo ngược!

 

Nguyễn Trung Chính - Chinh Nguyen

 

Chinh Nguyên thời gian đầu mới đến Mỹ có trở lại thăm Sài Gòn đến 2 lần và chúng tôi đã có những buổi ngồi bên nhau trong quán cà phê để ôn lại những kỷ niệm đáng nhớ của thuở thiếu thời dưới mái trường trung học.

Thế rồi bỗng anh báo tin sẽ không được về Việt Nam lần thứ ba! Tên anh đã nằm trong “black list” của nhà nước nên bị từ chối visa nhập cảnh vì những hoạt động… “quá khích”.

Tuy vậy, chúng tôi vẫn liên lạc qua email để nắm rõ tình hình của nhau. Anh và một số bạn bè tại Mỹ đã góp một phần không nhỏ trong việc tài trợ xuất bản những cuốn sách tôi viết nhưng không thể in tại Việt Nam.

Khởi đầu là “Hồi ức Ban Mê”, tiếp đến là “Hồi ức Sài Gòn” rồi “Hồi ức thời điêu linh”, và cuối cùng là “Hồi ức viễn du”. Riêng cuốn “Hồi ức thời điêu linh” Chinh Nguyên còn giới thiệu trên Youtube, có điều video clip này âm thanh hơi nhỏ, anh phải mang mask vì đang trong mùa dịch Covid:

(xem tại: https://www.facebook.com/nguyen.chinh.589/posts/10214772001211871)

 

Chinh Nguyen giới thiệu sách “Hồi ức thời điêu linh” của Nguyễn Ngọc Chính (Hình chụp từ video)

 

Cũng phải nói thêm, những sách xuất bản tại Mỹ hoàn toàn không mang tính cách thương mại, mục đích chính là để gây quỹ hậu sự cho các đồng môn Trung học Ban Mê Thuột và cựu giảng viên trường Sinh ngữ Quân đội đang gặp khó khăn tại Việt Nam cũng như hải ngoại.

Bây giờ ngồi nhắc lại chuyện xưa tự nhiên tôi lại nhớ đến người bạn đồng môn thời trung học thập niên 1960, chúng tôi đã gắn bó với nhau gần như suốt cuộc đời, dù đôi khi bị xa cách vì địa lý.

 

Nguyễn Trung Chính - Chinh Nguyen

 

“Nghĩa tử là nghĩa tận”

Xin đốt một nén hương lòng để tưởng niệm Guise Nguyễn Trung Chính – Chinh Nguyên.

Chúc bạn một cuộc sống an lành nơi Nước Chúa… Amen!

 


 ***

--> Read more..

Thứ Tư, 4 tháng 6, 2025

Đồng đội… đã đi xa

Cuộc chia xa nào cũng để lại nhiều hoài niệm cho người ở lại! Nhất là cuộc chia xa đó lại là “vĩnh biệt” đối với người còn ở lại trên thế gian này, vĩnh viễn sẽ không bao giờ còn thấy nhau…

Anh Tôn Thất Lan, một đồng đội ngày nào cùng khoác áo lính, ngày hai buổi đến Trường Sinh ngữ Quân đội với vai trò giảng viên Anh ngữ… nay đã không còn nữa. Anh vừa ra đi ngày 15/5/2025, giã từ Sài Gòn nơi còn lưu giữ thật nhiều kỷ niệm.

 

Cáo phó của Gia đình

 

Tôi có 3 bài viết về anh:

(1) “… vẫn chưa già…” https://chinhhoiuc.blogspot.com/2020/08/van-chua-gia.html

(2) Viết tiếp chuyện… “vẫn chưa già” https://chinhhoiuc.blogspot.com/.../viet-tiep-chuyen-van...

(3) “Tinh thần Don Quixote” https://chinhhoiuc.blogspot.com/.../tinh-than-don-quixote...

Đáng tiếc một điều là anh không chơi Facebook nên anh chỉ đọc trên điện thoại của tôi, còn cái Nokia của anh thì “cùi bắp” nên không thể chuyển bài viết sang được. Anh tình thật bảo tôi hôm nào in ra giấy cho anh để giữ làm kỷ niệm.

Ba bài viết cộng với hình ảnh đi kèm dài 15 trang giấy A4, tôi đem ra tiệm đóng sách có thêm bìa plastic để làm quà tặng anh. Thế là tập bài viết của tôi, anh về nhà vẽ thêm chân dung của tác giả dán kèm, anh gọi đó là “fancy portrait”! Thật tình anh vẽ không giống lắm nhưng đó là cái tình của anh đối với đồng ngũ ngày nào.

 

Bản in các bài viết về Tôn Thát Lan

 

Anh lại còn tặng tôi một đĩa VCD mang tựa đề “Man of la Mancha”, vở nhạc kịch về Don Quixote, với phần lời của Dale Wasserman và phần nhạc do anh sáng tác. Vở nhạc kịch này đã được các giáo sư và sinh viên trường Đại học TP. HCM diễn một lần duy nhất nhân ngày Nhà giáo 21/11/1987 tại HCMC University Auditorium.

 

Đêm diễn "Man of la Mancha" tại HCMC University Auditorium

 

Tất cả đều là những món quà quý giá mà tiền không thể mua được. Phải chăng khi về già người ta thường làm những chuyện mà lúc trẻ không bao giờ nghĩ tới vì còn bận lo cơm-áo-gạo-tiền?

“Về già vẫn có niềm vui

Một đời cay đắng, ngọt bùi… cứ vui!”

 

Nhạc sĩ Tôn Thất Lan trong vai Thợ Cạo trong vở nhạc kịch "Man of the Mancha"

 

Anh Lan là thành viên cùa một nhóm “du ca” trong màu áo lính. “Du ca” thường “có mùi phản chiến”, ngược lại với màu áo “treilli” xanh lá cây rừng! Nhưng cũng nhờ "du ca” mà nhạc sĩ Tôn Thất Lan có cơ hội giũ bỏ quần áo lính để biệt phái về làm giáo chức!

Cuộc đời anh Lan không chỉ là giảng viên tại trường Sinh ngữ mà còn là Thầy của rất nhiều học trò rải rác từ trường Phan Chu Trinh Đà Nẵng vào đến Sài Gòn. Anh không chỉ là giảng viên mà còn là một nhạc sĩ trữ tình phổ nhạc từ các nhà thơ nổi tiếng từ thời tiền chiến.

Anh kể con đường trở về “dân sự” của anh cũng “trầy da tróc vẩy” vì Chỉ huy trưởng trường không đồng ý cho đi. Thế là Tôn Thất Lan lại phải tìm “đường tắt” thông qua “du ca”, cụ thể là nhờ nhạc sĩ Phạm Duy! Thế mới biết, sức mạnh của nhạc sĩ: chỉ vài lời của PD cũng đủ để anh… giã từ vũ khí.

Trong tuyển tập những ca khúc anh phổ từ những bài thơ, cứ mỗi bài hát lại có chân dung của tác giả do chính anh tự vẽ. Trong số đó có chân dung Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Bích Khê, Vũ Đình Liên, Chế Lan Viên, Quang Dũng, Huy Cận, Phùng Quán, Thâm Tâm…

 

Những tập ca khúc phổ từ thơ tiền chiến của Tôn Thất Lan

Có một tập phổ nhạc với tựa đề tiếng Anh “Life must go on” với những câu thơ do anh sáng tác:

“No origin are we to know

But step by step permeated with deep grief

And then tomorrow where to go

Just only feel the lodge unevenly brief”.


Tác giả tự dịch sang tiếng Việt:


"Xưa ta đâu biết ngọn nguồn

Giờ thì lại thấm giọt buồn tình sâu

Mai rồi chẳng biết về đâu

Chỉ nghe chấp chới mái lầu chênh vênh”

 

Bên những tác phẩm

 

Cuối cùng, nhưng cũng không kém phần quan trọng, là một tuyển tập gồm 12 truyện ngắn của Tôn Thất Lan. Truyện ngắn “Người, Xa lạ” là một kịch bản 2 màn, nhân vật gồm Người kể chuyện, Người chồng, Người vợ và Hắn (người máy giúp việc trong gia đình). Theo lời Người kể chuyện thì:

“Con người say sưa sung sướng tận hưởng những tiện nghi từ máy móc mà họ sử dụng, sai khiến những đầy tớ rất đỗi trung thành mà không hề ý thức rằng (có lẽ vì họ đã mất dần ý thức và suy tư) chính họ - Con người - lại dần dần biến thành nô lệ của những máy móc, tiện nghi mà họ sử dụng, sai khiến: Chính họ đã bị máy móc hóa, mất dần nhân tính và có thể tự thấy xa lạ với chính mình”.

Kịch có nét bàng bạc khiến ta liên tưởng đến “1984” mà George Orwell viết từ năm 1948 để vẽ ra một thế giới chính trị vào năm 1984. Kịch của Tôn Thất Lan viết năm 2008 nhưng lại đề cập đến một xã hội của năm 2085. Hai tác phẩm nói chung đều thuộc loại giả tưởng khiến người đọc không thể nào không khỏi suy nghĩ!

 

Giới thiệu tác phẩm

 

Mãi đến tháng 8/2020 chúng tôi mới tái ngộ tại Sài Gòn. Tôi rủ Lan uống cà phê nhưng anh chỉ xin một ly trà chứ cà phê anh uống ở nhà rồi. Anh nói bây giờ thì anh đã nghỉ dậy học nhưng hàng tuần vẫn gặp mặt nhóm “du ca”.

Có điều mấy tháng nay vì tình hình bệnh dịch Covid nên phải ở nhà. Hỏi anh làm gì vào lúc này, anh bảo… “ngồi chơi, xơi nước” nhưng lại nói thêm “ngồi nhìn đời trôi đi trước mắt nhưng không buồn mà cũng chẳng vui”!

Anh lại còn chế ra một câu xưa như trái đất: “Đời, c’est la vie; Tình, c’est l’amour; Tiền, c’est l’argent… và đến lúc này thì chờ đoạn kết… c’est la mort!”. Giọng anh không bi quan chút nào mà trái lại, rất vui vì được dịp… “thổ lộ tâm can”.

 

Tôn Thất Lan trong buổi họp mặt Tất niên năm 2015 của các cựu Giảng viên Trường SNQĐ

 

Nói chuyện với anh, tôi bỗng khám phá nhiều điều mới lạ. Nhìn anh, một ông già 80, với dáng người lọm khọm, đi đứng từ tốn nhưng đằng sau hình hài đó ẩn chứa một sức mạnh mà những người trẻ hơn chưa chắc gì đã có được!

Tôi ít tuổi hơn anh nhưng vẫn thường “tự nhận” là mình già. Nhưng từ chính câu nói của một “ông già thứ thiệt” khiến tôi phải nghĩ lại. Anh nói: “Già về tuổi tác nhưng vẫn chưa già trong tâm hồn, đó mới là triết lý ở đời!”.

 

Một buổi sáng bình thường đi siêu thị!

 

Mấy ai có được suy nghĩ đó? Phải chăng những tâm hồn nghệ sĩ trẻ mãi không già? Giờ này thì anh đã xa, rất xa đến độ phải chờ đến ngày tôi bắt kịp “chuyến tàu suốt” mà anh đã đi trước đó!

 

***

--> Read more..

Popular posts