Hiển thị các bài đăng có nhãn Báo chí. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Báo chí. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 12 tháng 12, 2023

Góc nhìn của “Bên Thắng Cuộc” về Henry Kissinger

Bên Thắng Cuộc trong bài viết này là Trương Huy San (Osin Huy Đức), tác giả cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” được xuất bản ngày 12/12/2012, tại Hoa Kỳ.

Khi Sài Gòn thất thủ năm 1975, Huy Đức chỉ mới 13 tuổi. Khi đó còn ở tít tận một vùng quê nghèo đói miền Bắc dưới Xã hội Chủ nghĩa. Huy Đức tâm sự trong “Mấy lời của tác giả” ngay phần đầu trang sách:

“Cuốn sách này bắt đầu bằng những câu chuyện xảy ra trong ngày 30-4-1975. Ngày mà tôi, một cậu bé mười ba, trước giờ học chiều, đang vật nhau ven đồi thì nghe loa phóng thanh truyền tin “Sài Gòn giải phóng”. Thay vì tiếp tục ăn thua, chúng tôi buông nhau ra.

“Miền Nam, theo như những bài học của chúng tôi, sẽ chấm dứt “hai mươi năm rên xiết lầm than”. Trong cái thời khắc lịch sử ấy, trong đầu tôi, một sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, xuất hiện ý nghĩ: phải nhanh chóng vào Nam để giáo dục các bạn thiếu niên lầm đường lạc lối”.

(hết trích)

Huy Đức cũng viết trên Facebook:

“Mình đặt tên sách là Bên Thắng Cuộc, lại còn đề dưới hai câu thơ của Nguyễn Duy, “Nghĩ cho cùng trong mỗi cuộc chiến tranh/Phe nào thắng thì nhân dân đều bại”, vậy mà còn rất nhiều bạn xưng là “bên thắng cuộc”, nhiều bạn xưng là “bên thua cuộc”. Khi viết, tôi cứ tưởng các bạn là nhân dân”.

Cuộc chiến vừa qua để lại nhiều hậu quả khôn lường. Theo người viết bài này, quan trọng hơn cả, tàn tích của nó còn ảnh hưởng sâu đậm đến những thế hệ kế tiếp thuộc cả “bên thắng cuộc” lẫn “bên thua cuộc”. Không chỉ một thế hệ kế thừa mà còn cả những thế hệ tiếp nối sau đó. Điều này khiến người đọc rùng mình.

 

“Bên Thắng Cuộc” và những ý kiền nhận xét

 

Huy Đức, tên thật là Trương Huy San, sinh ngày 20/8/1962 tại Hà Tĩnh (về tuổi tác, tôi hơn anh đến gần 20 năm).  Anh nhận được Học bổng Nieman Fellowship tại Đại học Havard (Boston) và đã từng có 8 năm tham gia trong hàng ngũ Quân đội Nhân dân Việt Nam, trong đó hơn 3 năm ở Campuchia, thời kỳ chiến tranh biên giới Tây Nam với Khmer Đỏ.

Điều đáng nói, Huy Đức không được đào tạo qua trường lớp chuyên nghiệp về báo chí. Tất cả chỉ là mầy mò, học hỏi và tích lũy qua kinh nghiệm khi vào thực tế nghề báo. Đó cũng là điều người đọc cảm thấy “nể” khi đọc “Bên Thắng Cuộc”, một tổng hợp khối lượng thông tin và phỏng vấn khổng lồ trên trang sách.

Nhân ngày mất của Henry Kissinger (1923-2023), Ngoại trưởng Hoa Kỳ thứ 56 dưới thời Tổng thống Richard Nixon và Gerald Ford, Huy Đức đã có một bài viết trên Facebook với nhan đề “HENRY KISSINGER” để kỷ niệm ngày mất của nhà ngoại giao hưởng thọ 100 năm tuổi (29/11/2023).

Ngay từ đầu bài viết, tác giả Huy Đức nhắc lại cuộc phỏng vấn Kissinger ngày 10/3/2006 với nguyên văn như dưới đây:

“Ông có biết là từ mấy hôm nay, cộng đồng sinh viên vùng Boston, trong đó có cả những sinh viên đang học giáo trình ‘Ngoại Giao’ của ông, kêu gọi tổ chức biểu tình chống ông và gọi ông là ‘tội phạm chiến tranh’? Kissinger trả lời: “Tôi biết. Nhưng, liệu thế giới có như hiện nay nếu ngày ấy chúng tôi không làm như thế?”

 

Huy Đức và Kissinger. Hình chụp ngày 10-3-2006 (hình trên FB Truong Huy San)

 

Một trong những việc “làm thay đổi thế giới” của Henry Kissinger là tổ chức một cuộc gặp giữa Nixon và Mao Trạch Đông vào tháng 2/1972 tại Bắc Kinh . Sau buổi gặp gỡ, có một bữa tiệc chiêu đãi mà trong đó Trưởng phân xã Thông tấn Xã Việt Nam (TXVN) tại Bắc Kinh cũng được mời tham dự.

Tại Hà Nội, ông Lê Đức Thọ ra lệnh cho TTXVN làm “bản tự kiểm điểm” về việc tham dự buổi chiêu đãi. Huy Đức nhận xét:

“Đọc Bản Tự Kiểm mới thấy hết một thời ấu trĩ. Những hoạt động của các phóng viên TTXVN lúc ấy tại Bắc Kinh lẽ ra rất cần được khen thưởng vì nhờ những hoạt động như vậy mà những thông tin họ báo cáo về là rất có giá trị.”

 

Bản “Tự kiểm điểm” của TTXVN về viếc dự buổi chiêu đãi của Nixxon tại Bắc Kinh (hình trên FB Truong Huy San)

 

Theo ông Trần Phương, trợ lý ông Lê Duẩn, cho rằng “Lê Duẩn nói, chúng ta đã bị bán rẻ cho Mỹ để người Trung Quốc thay Đài Loan ngồi vào chiếc ghế ở Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc”!

Hà Nội mong đợi Bắc Kinh giúp đỡ cuộc chiến của mình với “tinh thần quốc tế vô sản”, nhưng Bắc Kinh dùng cuộc chiến ấy để trả giá với người Mỹ. Washington không coi cuộc chiến ấy là “Chiến tranh Việt Nam” mà là xung đột giữa hai phe và bàn cờ mà họ chơi với Bắc Kinh là bàn cờ thế giới.

Ngay sau “Thông Cáo Thượng Hải”, ngày 27/2/1972 Thủ tướng Chu Ân Lai đến Hà Nội để giải thích chính sách mới của họ với người Mỹ. Nhưng theo Huy Đức, Lê Duẩn lại coi đó là việc “bán đứng Việt Nam”.

Ông nói: “Các đồng chí lấy xương máu của dân tộc Việt Nam để trả giá với Mỹ. Chúng tôi biết nhưng chúng tôi không sợ, chúng tôi sẽ đánh đến cùng và nhất định chúng tôi sẽ thắng”.

Huy Đức kể lại:

“Không chỉ phản ứng trong hội đàm, khi đưa tiễn Chu Ân Lai, thay vì đi cùng thầy trò Chu ra tận chân cầu thang máy bay, Lê Duẩn đã dừng lại ngay cửa nhà ga sân bay Gia Lâm. Các quan chức Việt Nam tất nhiên cũng phải đứng lại.

“Chu Ân Lai và người phiên dịch, Lương Phong, gần như phải lủi thủi bước lên máy bay đi về. Lương Phong, về sau nói với nhà ngoại giao Dương Danh Dy của Việt Nam rằng, hành động đó của ông Lê Duẩn là rất phản cảm”.

(hết trích)

“Thông Cáo Thượng Hải” là ví dụ điển hình trong cách hành xử của Bắc Kinh, “bất kể mèo trắng hay mèo đen”, nó đánh dấu một bước ngoặt giúp Trung Quốc bắt đầu những thập niên thịnh vượng.

“Trung Quốc mạnh lên càng khiến cho Kissinger bị chỉ trích. Trung Quốc mạnh lên không chỉ tăng khả năng “bá quyền” cho Bắc Kinh mà còn mang lại thịnh vượng cho người dân, thế giới bớt được 1,3 tỷ người nghèo khổ”, Huy Đức nhận xét.

Tác giả “Bên Thắng Cuộc” viết trong bài “HENRY KISSINGER” trên Facebook:

“Khi xung đột Bắc Kinh - Hà Nội bắt đầu hầm hập nóng trên báo chí, trên hệ thống loa phóng thanh, có một giai thoại bắt đầu lan ra: “Năm 1973, khi Kissinger tới Hà Nội, ông ta chỉ tay về phương Bắc, nói với Lê Đức Thọ, “Kẻ thù của Việt Nam ở phía này”.

Trở lại với cuộc phỏng vấn Kissinger ngày 10/3/2006, Huy Đức kể lại chuyện này và  hỏi Kissinger một câu khiến người được hỏi bật cười trả lời:

“Lê Đức Thọ dẫn tôi thăm Bảo tàng Lịch sử, ở đấy lúc đó có rất nhiều phần nói về cuộc chiến tranh của người Việt với người Trung Hoa, trong khi chưa có phần nào nói về cuộc chiến tranh với người Mỹ. Anh nghĩ, người Việt còn cần một lời khuyên từ tôi ư?”.

Nói xong, Kissinger hỏi Huy Đức "Are you from the North"… và sau đó kéo Huy Đức ra chụp ảnh!!!

 

rương Huy San phỏng vấn Kissinger tại Thư viện và Bảo tàng John F. Kennedy, ngày 10-3-2006 (hình trên FB Truong Huy San)

 

***

 

Phần thứ hai của bài viết “HENRY KISSINGER” có tựa đề “MÙA HÈ ĐỎ LỬA”, Phụ Lục Đánh & Đàm, BÊN THẮNG CUỘC, quyển II, Quyền Bính. Phần phụ lục này khá dài nên tác giả có lời khuyên “ai có thời gian thì hẵng đọc”.

Các bạn có thể tham khảo toàn bộ 2 phần của bài viết “HENRY KISSINGER” trên Facebook Truong Huy San tại:

https://www.facebook.com/Osinhuyduc/posts/6730350180333439

 

***

 

* Tham khảo thêm “Đọc “Bên Thắng Cuộc” (1) – về tác giả Huy Đức” trên

http://chinhhoiuc.blogspot.com/.../oc-ben-thang-cuoc-1-ve...

  

***

--> Read more..

Thứ Sáu, 3 tháng 11, 2023

Tiểu thuyết “feuilleton” trong làng báo Sài Gòn

“Feuilleton” phát nguồn từ Pháp để ám chỉ những bài viết đăng nhiều kỳ trên báo. Khởi đầu với truyện “La Comtesse de Salisbury” của nhà văn Alexandre Dumas, đăng năm 1836, từ ngày 15/7 đến 11/9, trên tờ Press. Sau đó là truyện “La Vieille Fille” của Balzac từ 23/10 đến 30/11/1836.

 

Tác phẩm "La Comtesse de Salisbury" của Alexandre Dumas

 

Du nhập vào làng báo Việt, “feuilleton” là một sinh hoạt độc đáo của báo chí quốc ngữ thời xa xưa tại Miền Nam. Có thể nói, đi đầu trong thể loại này là “Vè Tam Cang” bằng văn vần được đăng liên tục tám kỳ trên báo “Thông Loại Khóa Trình” (1888-1889) của Trương Vĩnh Ký.

Riêng về tiểu thuyết, “feuilleton” đầu tiên xuất hiện trên báo Nam kỳ phải kể đến loại truyện 1.001 đêm với hai truyện “Bảy chuyến đi của Sinbad” và “Chuyện người thợ cao vô duyên bạc phận” thuộc loại bài đăng nhiều kỳ nhất trên “nhựt trình”.

Nhà văn Hồ Biểu Chánh cũng nổi tiếng với những tác phẩm “feuilleton” như “Nhơn tình ấm lạnh”, “Nợ đời”, “Tiền bạc bạc tiền”... đăng trên các báo Phụ Nữ Tân Văn, Trung Lập. Cũng  có tiểu thuyết đăng trên cả hai tờ báo, đó là “Châu về hiệp phố” của Phú Đức, nửa đầu đăng trên báo Công Luận, nửa sau đăng báo Trung Lập.

 

Trang trong với "feuilleton" của báo chí Sài Gòn Xưa

 

Với báo chí Sài Gòn xưa, “feuilleton” là “món ăn” không thể thiếu của người đọc báo. Chính vì truyện luôn là sáng tác mới của các nhà văn, nhà báo nên nhiều người mê tiểu thuyết phải mua và đọc báo hằng ngày, không phải vì tin tức thời sự mà chỉ vì... tiểu thuyết hấp dẫn.

Nhà văn viết tiểu thuyết “feuilleton” có tên tuổi ở miền Nam phải kể đến Lê Hoằng Mưu, Hồ Biểu Chánh, Phú Đức, Ngọc Sơn, An Khê, Bình Nguyên Lộc, Bà Tùng Long, Lê Xuyên…

An Khê có tiểu thuyết “Sóng tình”, do nhà xuất bản Miền Nam in năm 1960, dài đến 695 trang. Nhà văn Lê Xuyên viết tác phẩm “Chú Tư Cầu”, đăng trên báo Sàigòn Mai từ tháng 2 năm 1961 đến tháng 2 năm 1963, xuất bản thành sách vào tháng 3 năm 1963, dài đến 907 trang.

Nhà văn Bình Nguyên Lộc cho biết, ông thích viết “feuilleton” trên giấy kẻ hàng của vở học trò. “Nghề dạy nghề” nên ông cũng rất rành trong việc cần phải viết bao nhiêu trang giấy thì đủ in một kỳ cho nhật báo.

Thông thường, các nhật báo in trên tờ giấy báo khổ 74x58 cm, gấp đôi thành 4 trang báo, tiểu thuyết in ở trang trong. Mỗi trang báo được chia làm 4 “cột” theo chiều dọc, tiểu thuyết in theo phần đó cũng chia làm 4 “cột”.

 

Chính những "feuilletons" bên trong mới mang lại sự ăn khách của tờ báo

 

Sang đến thời truyện chưởng của Kim Dung dịch từ trên báo ở tận Hồng Kông hầu như báo nào ở Sài Gòn cũng đăng truyện kiếm hiệp do Hàn Giang Nhạn hay Từ Khánh Phụng dịch. Đa số độc giả, từ trí thức đến người lao động, thấy “Cô Gái Đồ Long” quá hấp dẫn nên các tờ báo đua nhau có truyện chưởng.

Hai nhân vật chính của “Cô Gái Đồ Long” là Vô Kỵ và Triệu Minh nổi tiếng trong giới mê chuyện kiếm hiệp. Ngay như “ông tướng râu kẽm” Nguyễn Cao Kỳ còn tự nhận mình là Vô Kỵ, bà vợ Đặng Thị Tuyết Mai lại biến thành Triệu Minh!

“Cô Gái Đồ Long” xuất hiện vào thập niên 60, thực ra thì tác giả Kim Dung không hề dùng tựa đề đó cho bộ truyện kiếm hiệp. Tựa nguyên thủy là “Ỷ Thiên Đồ Long Ký” nhưng khi qua đến Sài Gòn dịch giả Từ Khánh Phụng đã đổi tựa thành “Cô Gái Đồ Long”!

Hằng ngày cộng tác viên của các báo ra ngồi chầu chực ở sân bay Tân Sơn Nhứt chờ chuyến bay từ Hồng Kông về để có đoạn mới nhất. Bữa nào chuyến bay gặp trục trặc, các báo đành phải để trang trống với lời xin lỗi độc giả. Người đọc sẽ không ngạc nhiên khi tờ báo đăng “cáo lỗi” vì lý do… báo bên Hồng Kông gửi qua trễ!

 

Nhà văn Kim Dung, người Hồng Kông, và những tác phẩm được dịch tại Sài Gòn

 

“Feuilleton” luôn đòi hỏi phải là truyện mới nên các tiểu thuyết đăng báo đều phải là sáng tác. Theo Bình Nguyên Lộc, là người viết tiểu thuyết “feuilleton” chuyên nghiệp, có lúc ông phải viết đến 11 tiểu thuyết hàng ngày để đăng trên các báo. Nhà văn An Khê còn viết đến 12 tiểu thuyết cho các báo cũng trong một ngày!

Bà Tùng Long (1915 – 2006), ngoài việc phụ trách chuyên mục giải đáp, tâm tình với nữ giới còn viết khá nhiều “feuilleton”. Hồi ký của Bà Tùng Long có ghi lại:

“Tôi thường ghé tòa soạn mỗi buổi sáng, vào thẳng nhà in lấy tờ ruột đã in trang 2 và 3, để coi lại feuilleton của mình đã in đến đâu. Nếu hôm nào người ấn loát trưởng (chef typo) cho biết bài của tôi đã hết, phải đưa thêm, tôi liền ngồi vào bàn tại phòng sắp chữ, viết nối theo đoạn tiểu thuyết hôm trước, đưa liền cho thợ kịp sắp chữ, lên khuôn.

…

“Tôi luôn luôn lập sẵn dàn bài, tóm lược cốt truyện, phân chương và ghi chi tiết từng chương, định hình nhân vật … cho mỗi truyện. Trước khi viết tiếp cho báo nào, tôi luôn xem lại dàn bài này, nhờ vậy không bao giờ lẫn lộn cốt truyện, hoặc nhân vật truyện này qua truyện nọ. Nói cho đúng, tôi nhờ nghề viết văn mà lần hồi nuôi được chín đứa con, đứa nào cũng vào đại học…

(hết trích)

 

Bà Tùng Long (Lê Thị Bạch Vân, 1915 – 2006)

 

Nhà văn Hoàng Hải Thủy lại đánh giá có phần “tiêu cực” dù ông cũng sống bằng nghề viết tiểu thuyết “feuilleton”:

“Đa số các feuilleton đều kém giá trị nghệ thuật là vì cách làm việc máy móc của các nhật báo: đúng giờ đã định thì phải có bài, hay hoặc dở, hứng thú hoặc chán nản, mạnh khỏe hay đang đau yếu, người viết phải viết cho đủ bài. Đa số người viết lại là những văn nghệ sĩ làm việc tùy hứng, lười viết, chờ đến giây phút đòi hỏi cuối cùng mới ngồi vào bàn viết, tất nhiên không thể nào hay được”.

Để cạnh tranh, nhiều chủ báo thường mướn những nhà văn có tên tuổi viết riêng cho báo mình. Năm 1950, khi thấy Phú Đức viết hấp dẫn độc giả, chủ báo Đinh Văn Khai mời ông viết riêng cho báo Tiếng Chuông. Đó là truyện “Bách Si Ma” và cũng là tiểu thuyết cuối cùng trong đời sáng tác của Phú Đức.

Người viết “feuilleton” gây sóng gió trong làng báo Sài Gòn cũng là nhà văn Phú Đức. Năm 1924, ông chỉ là một thầy giáo tên Nguyễn Đức Nhuận, nhân khi rảnh rỗi đã viết tiểu thuyết đầu tay và gởi cho tờ Trung Lập Báo với đề nghị… “đăng không lấy tiền”!

Đó là tiểu thuyết “Câu chuyện Canh Tràng” được ký dưới bút danh Phú Đức. Sau đó, khi tay nghề đã cao, Phú Đức viết tiểu thuyết cho Trung Lập Báo với số lương kha khá…. 20 đồng/tháng (tiền thời đó).

Năm 1925, Phú Đức cho ra đời tiểu thuyết “Châu về hiệp phố”, được đánh giá là hay nhứt của ông khi xuất hiện trên Trung Lập Báo. Chủ báo khi ấy là ông De Lachevrotière tăng lương cho ông lên 40 đồng rồi sau đó lên đến mức 80 đồng/tháng, tương đương với lương Đốc phủ sứ thời bấy giờ!

Nhận thấy “feuilleton” của mình ăn khách quá, Phú Đức bèn nghĩ cách ra một tờ báo riêng cho mình lấy tên là Bình Dân chỉ đăng toàn tiểu thuyết “feuilleton”. Ấy thế mà chỉ sau 3 tháng ra báo riêng, ông đã tậu được nhà lầu!

 

"Châu Về Hiệp Phố" - Phú Đức (Nguyễn Ðức Nhuận, 1901-1970). NXB Xưa Nay, 1928

 

Vào thập niên 1950-1960 là thời vàng son của những nhà viết tiểu thuyết “feuilleton” tại Sài Gòn, vì thời đó có nhiều nhật báo tại Miền Nam và cũng đây cũng là mảnh đất trù phú dành cho văn học quốc ngữ phát triển, gồm có báo chí và tiểu thuyết. 

Sau năm 1975, “feuilleton” biến mất trên các mặt báo vì có quá nhiều tin bài mà tờ báo thì số trang hạn hẹp nhưng cũng có thể vì không còn những tác giả làm chuyện phi thường là mỗi ngày viết một hai ngàn chữ hấp dẫn để đăng báo?

Tiểu thuyết “feuilleton” là truyện chưa viết xong, chưa in thành sách nhưng đã đăng báo. Nhà văn có thể viết một đoạn rồi đăng báo hoặc viết tới đâu đăng báo tới đó… Thế cho nên, tác giả viết năm bảy trang đủ đăng một kỳ báo rồi đưa cho báo hàng ngày, hằng tuần hay hàng tháng.

Nhà văn Lê Hoằng Mưu thuở sơ khai của tiểu thuyết Miền Nam, cũng như nhà văn Ngọc Sơn vào thập niên 1950, được trả lương cao nhất cho tiểu thuyết của họ và được biệt đãi. Sau này, người làm Chủ bút, người lại có tiền thưởng cao vào dịp cuối năm.

Về phần mình, nhà văn Hoàng Hải Thủy tâm sự:

“Năm 1956 tôi bắt đầu viết tiểu thuyết phơi-ơ-tông cho nhật báo Ngôn Luận, tiền trả mỗi tháng cho truyện của tôi là 4.000 đồng, sau đó lên 5.000 đồng. Đồng bạc Việt Nam Cộng Hòa vững giá trong thời chính phủ Ngô Đình Diệm – cũng có lạm phát nhưng tỷ lệ không đáng kể – và mất giá thê thảm trong những năm sau đó. Năm 1966, 1967 tôi viết tiểu thuyết “Môi Thắm Nửa Đời” – bị anh em gọi là “Môi Thắm Nửa Đùi” – cho nhật báo Chính Luận, được trả 7.000 đồng một tháng…

…

“Gần năm mươi năm sau ngày tôi viết bộ tiểu thuyết phơi-ơ-tông thứ nhất của tôi – truyện “Nổ Như Tạc Đạn” – năm nay lưu lạc quê người, nhớ và viết về những truyện phơi-ơ-tông, những người viết phơi-ơ-tông ở Sài Gòn ngày xưa, tôi thấy trái tim tôi trĩu nặng. Tôi nhớ những tác giả tiểu thuyết phơi-ơ-tông nổi tiếng một thời ở Sài Gòn nay đã không còn ở cõi đời này: anh Chu Tử trúng đạn thù chết trên đường ra biển ngày 30 Tháng Tư 1975, Trọng Nguyên mất vì ung thư phổi năm 1982, anh Hoàng Ly, tác giả Một Thời Ngang Dọc, Giặc Cái, mất năm 1983, Chú Tư Cầu Lê Xuyên chết năm 2000, anh An Khê, Duyên Anh qua đời ở Pháp…

(hết trích)

 

Nhà văn Hoàng Hải Thủy

 

Như đã thấy, trước năm 1975, tiểu thuyết “feuilleton” giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành một tờ báo ở Sài Gòn. Một tiểu thuyết “feuilleton” hấp dẫn, ăn khách, giúp tờ báo có được nhiều độc giả.

Từ đó, tờ báo có thể sống vững, dù phần thời sự, nghị luận nơi trang ngoài của tờ báo không có gì hơn những báo khác. Chỉ nhờ có tiểu thuyết “feuilleton” ăn khách, một tờ nhật báo ở Sài Gòn cũng có thể trở thành một tờ báo lớn, bán chạy.


*** 

--> Read more..

Thứ Hai, 17 tháng 7, 2023

Chuyến bay “giải cứu”… hay “giả cứu”

Điểm báo chính thống:

 

Bộ Công an cho biết có gần 2.000 "chuyến bay giải cứu" người Việt từ nước ngoài về trong các đợt COVID-19 vừa qua, có chuyến bay sau khi trừ chi phí, lợi nhuận lên đến vài tỉ đồng.

 

Báo Tuổi Trẻ Online - "Những con số 'kỷ lục' trong vụ án - Đồ họa Tuấn Anh

 

* Tuối Trẻ Online, ngày 20/04/2023: Cựu thứ trưởng Tô Anh Dũng 37 lần nhận hối lộ

“Từ kết luận điều tra của công an đến cáo trạng của viện kiểm sát đều cho thấy Bộ Ngoại giao được xem là "mắt xích" quan trọng khi thực hiện các chuyến bay với đầu mối là Cục Lãnh sự. Từ tháng 4-2020 đến tháng 1-2022, Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao) đã tập hợp, đề xuất lãnh đạo Chính phủ phê duyệt tổ chức thực hiện 772 chuyến bay đưa công dân từ nước ngoài về nước (400 chuyến bay giải cứu, 372 chuyến bay combo).

“Tuy nhiên, quá trình cấp phép các chuyến bay công dân tự trả phí, một số cán bộ tại Bộ Ngoại giao đã tạo thành nhóm lợi ích, đưa ra nhiều yêu cầu, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp phải tìm cách tiếp xúc, gặp gỡ, thỏa thuận và ra giá chung chi cho mỗi chuyến bay giải cứu.

“Ông Tô Anh Dũng, với chức vụ là thứ trưởng, có nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo, phê duyệt kế hoạch tổ chức chuyến bay theo đề xuất của Cục Lãnh sự trước khi xin ý kiến của tổ công tác năm bộ. Biết được vai trò của ông, 13 cá nhân đại diện doanh nghiệp đã tìm cách tiếp cận, đặt vấn đề để thứ trưởng Bộ Ngoại giao khi đó giải quyết các thủ tục liên quan đến cấp phép "chuyến bay giải cứu" đưa công dân về nước khi xảy ra dịch COVID-19.

“Trong chín tháng, từ giữa năm 2020, 13 cá nhân đại diện cho các doanh nghiệp đã nhiều lần gặp gỡ đặt vấn đề và chi hàng chục tỉ "bôi trơn" để được "qua cửa".

“Lần đầu tiên vào tháng 5-2020, tại phòng làm việc của cựu thứ trưởng ở Bộ Ngoại giao, ông Dũng gặp bà Hoàng Diệu Mơ (Tổng giám đốc Công ty TNHH thương mại du lịch và dịch vụ hàng không An Bình) và đã giới thiệu công ty của bà Mơ với Hãng hàng không Vietnam Airlines để tổ chức chuyến bay combo.

“Theo cáo trạng, ông Dũng đã tám lần nhận hối lộ của bà Mơ với tổng số tiền 8,5 tỉ. Trong đó, sáu lần ông Dũng nhận tiền tại phòng làm việc và hai lần nhận tiền ở gần cổng trụ sở Bộ Ngoại giao.

“29 lần khác, ông Dũng nhận tiền của các doanh nghiệp cũng diễn ra tại phòng làm việc của ông, ngoài quán cà phê hoặc nhà hàng gần trụ sở thông qua vợ ông. Tổng cộng ông Dũng bị quy kết nhận hối lộ 21,5 tỉ của các doanh nghiệp trong vụ "chuyến bay giải cứu".

“Theo cáo trạng, Bộ Ngoại giao có số lượng nhiều nhất cựu lãnh đạo, cán bộ bị cáo buộc nhận hối lộ trong vụ án này.

“Ngoài ông Dũng, cựu thứ trưởng Vũ Hồng Nam và bảy người khác của bộ này bị quy kết nhận tiền "bôi trơn" từ các doanh nghiệp. Trong đó, cấp dưới chịu sự quản lý trực tiếp từ ông Dũng là bà Nguyễn Thị Hương Lan khi đương chức cục trưởng Cục Lãnh sự nhận hối lộ số tiền lớn nhất với 32 lần tổng cộng 25 tỉ đồng.

“Những lần nhận tiền của bà Lan chủ yếu diễn ra tại phòng làm việc, nhà riêng, quán cà phê, thậm chí có lần doanh nghiệp chung chi cho nữ cục trưởng ngay trên ô tô riêng.

 

Poster phim giả tưởng "Chuyến bay giải cứu" được hóa thân thành con muỗi hút máu - Tranh DAD

 

* Báo Quân đội Nhân dân, 10/07/2023

“Theo kế hoạch, sáng 11-7, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm 54 bị cáo trong vụ “chuyến bay giải cứu”. 54 bị cáo này bị Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao truy tố về các tội: “Đưa hối lộ”, “Nhận hối lộ”, “Môi giới hối lộ”, “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.

“Trong số 54 bị cáo, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao truy tố:

- 21 bị cáo về tội “Nhận hối lộ” theo quy định tại điều 354 - Bộ luật Hình sự;

- 23 bị cáo về tội “Đưa hối lộ” theo quy định tại Điều 364 - Bộ luật Hình sự;

- 4 bị cáo về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo quy định tại Điều 356 - Bộ luật Hình sự;

- 4 bị cáo về tội “Môi giới hối lộ” theo quy định tại Điều 365 - Bộ luật Hình sự.

- Một bị cáo bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 174 - Bộ luật Hình sự.

- Một bị cáo bị truy tố về cả hai tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Đưa hối lộ”.

“Trước ngày diễn ra phiên tòa, tổng cộng có gần 120 luật sư đăng ký tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị cáo. Đây là một trong số ít các phiên tòa tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội có số lượng kỷ lục luật sư tham gia bào chữa.

- Bị cáo Vũ Hồng Quang (cựu Phó trưởng Phòng Vận tải Hàng không, Cục Hàng không Việt Nam, Bộ Giao thông vận tải) có nhiều luật sư bào chữa nhất (6 luật sư).

- Bị cáo Trần Hồng Hà (Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn cung ứng nguồn nhân lực và thương mại Quốc tế Sao Việt) có 5 luật sư bào chữa.

- Bị cáo Nguyễn Thị Hương Lan (sinh năm 1974, cựu Cục trưởng Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao) có 4 luật sư bào chữa.

- Hai bị cáo Đỗ Hoàng Tùng (cựu Phó cục trưởng Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao), Chử Xuân Dũng (cựu Phó chủ tịch UBND thành phố Hà Nội) có 3 luật sư bào chữa.

- Bị cáo Tô Anh Dũng (cựu Thứ trưởng Bộ Ngoại giao) có 2 luật sư bào chữa…

 

Báo Tuổi Trẻ Cười với những chuyến bay "Vãi" Cứu - Tranh Độc Hành

 

* Báo Thanh Niên, ngày 14/7/2023:

“Doanh nghiệp trong vụ "chuyến bay giải cứu" cho biết, mỗi lần phê duyệt chuyến bay, cựu Thư ký Thứ trưởng Bộ Y tế đều gửi một bức ảnh thể hiện thứ trưởng đã ký duyệt rồi, yêu cầu chi tiền thì mới có con dấu.

“Bị cáo Nguyễn Thị Dung Hạnh, Giám đốc Công ty TNHH G 19 Việt Nam, cho biết quá trình xin cấp phép chuyến bay đã chủ động gọi điện cho ông Kiên. Cuộc nói chuyện diễn ra rất ngắn gọn. Sau đó, bà Hạnh có đến gặp ông Kiên, mang theo một túi quà đã chuẩn bị từ trước, bên trong chứa 200 triệu đồng tiền mặt. Sở dĩ có con số 200 triệu đồng là bởi bà Hạnh đã tham khảo các doanh nghiệp khác.

 

“Nói về lý do chi tiền, bà Hạnh cho hay xuất phát từ 3 lý do: muốn cảm ơn; muốn chia sẻ thành công của doanh nghiệp vì doanh nghiệp khác đưa thì mình cũng đưa; sau này có thể tạo ra các mối quan hệ tốt đẹp.

“Một bị cáo khác là Đào Minh Dương, Giám đốc Công ty cổ phần Vijasun, cho biết được phê duyệt 17 chuyến bay, ông Kiên yêu cầu chung chi 150 triệu đồng/chuyến thì mới được phê duyệt. Tất cả các chuyến, bị cáo Dương đều chuyển tiền cho ông Kiên trước khi được cấp phép.

“Bà Nguyễn Thị Thanh Hằng, cựu Phó tổng giám đốc Công ty Bluesky, cho biết giữ nguyên lời khai như tại cơ quan điều tra. Luật sư sau đó đọc nội dung bút lục, cho thấy bà Hằng từng khai không quen biết ông Kiên mà được ông Vũ Anh Tuấn, cựu cán bộ Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an, cho số điện thoại của ông Kiên. Bà Hằng gọi cho ông Kiên nhờ giúp đỡ thì được ông Kiên đồng ý.

“Cáo buộc của Viện KSND tối cao nhận định, dù không phải là các bị cáo có chức vụ cao nhất, Phạm Trung Kiên và Vũ Anh Tuấn lại là 2 người có số lần và số tiền nhận hối lộ nhiều nhất. Ông Kiên nhận 235 lần với tổng cộng 42,6 tỉ đồng; ông Tuấn nhận 49 lần với tổng số hơn 27,3 tỉ đồng.

 

 
Chuyến bay giải cứu và "túi ba gang" - Tuổi Trẻ Cười

 

* Facebooker Truong Huy San:

“Vụ án đang xử trong tuần qua là nỗi nhục quốc gia. Trong lịch sử loài người hiếm khi có một nhà nước nào đối xử với công dân của mình như thế. Từ tướng công an đến đại sứ đều ăn tiền của người dân trong hoạn nạn một cách thản nhiên. Tham nhũng đã trở thành một thứ văn hóa đang chế ngự và lộng hành đất nước… Thôi đừng hót những lời chim chóc nữa...

 

* Facebooker Lê Huyền Ái Mỹ:

“Phiên tòa xét xử vụ “chuyến bay giải cứu” sẽ đi vào “lịch sử” không chỉ của ngành ngoại giao nước nhà mà cả trong “nghề” tham ô, hối lộ. Nó xứng đáng được đưa vào giáo trình giảng dạy ở các lớp chính trị trung - cao cấp, nếu có môn phòng, chống tham nhũng. Nó cần được làm ví dụ điển hình cho sự cấu kết tham nhũng - một đặc sản của thể chế.

 “Điển hình tới mức… “mẫu mực” về lòng tham vô độ, bất nhẫn đến vô lương, lưu manh, giả trá đến tận cùng. Dẫn đầu về tốc độ ăn là thư ký Kiên với 253 lần nhận hối lộ đi kèm số tiền 42,6 tỉ đồng. Quán quân.

 

Chuyến bay "giải cứu" hay… "giả cứu"? – Tranh B.Ba

 

* Facebooker Do Duy Ngoc:

“Có lẽ trong lịch sử của toà án Việt Nam dưới chế độ Đảng Cộng Sản lãnh đạo, chưa bao giờ có một cuộc xử án mà bị cáo toàn là cán bộ cao cấp đông đúc đến thế. Mà lại là lãnh đạo các ngành quan trọng của đất nước: Công an, Ngoại giao, Y tế... Một vụ án ai biết chuyện cũng buông ra lời nguyền rủa và tâm trạng thất vọng, mất lòng tin nặng nề.

…

“Người ta thấy trong hàng ngũ bị cáo có mặt nhiều quan chức cấp cao như Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Tô Anh Dũng và Cục trưởng Cục Lãnh sự Nguyễn Thị Hương Lan, Phó Chủ tịch UBND Hà Nội Chử Xuân Dũng; Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Trần Văn Tân…

 

* Facebooker Việt Trần:

“Câu nói lạ nhất trong phiên tòa “chuyến bay giải cứu” là của bị cáo Tô Anh Dũng - cựu thứ trưởng Bộ Ngoại giao là cán bộ ngoại giao chuyên nghiệp, có bằng cấp thạc sỹ. Ông ta nhận hối lộ tổng số tiền điều tra được lên tới 21,5 tỷ đồng. Vậy mà bị cáo Dũng thản nhiên khai khi cầm tiền đút lót đã không nhận thức được đây là việc làm sai trái. Ông Dũng có tới 37 lần nhận “cám ơn” đúng là cạn lời!

“Hai anh công an sỹ quan cao cấp phủ nhận tội trạng trước tòa, chuyện cãi tòa là đương nhiên nếu các ông học theo khí tiết hiên ngang ngày xưa chửi tòa cho ra nhẽ và dám thách cả tòa tìm ra bằng chứng phạm tội !

 

Đằng sau những "Chuyến bay giải cứu"!


***
--> Read more..

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2023

Báo Tết ngày xưa

“Nam Phong Tết Mậu Ngọ”, xuất bản năm 1918 tại Hà Nội, là tờ báo Xuân (hay còn gọi là báo Tết) đầu tiên của làng báo Việt Nam. Tính đến đến nay, truyền thống làm báo Tết của ta đã được hơn 100 năm.

Với ấn bản đặc biệt, Nam Phong Tạp Chí nổi danh khắp trong Nam ngoài Bắc lúc bấy giờ, số báo mừng Xuân đã bắt đầu cuộc hành trình suốt một thế kỷ để trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Việt mỗi dịp Tết đến xuân về.

 

Nam Phong Tạp Chí, trang bìa, ấn bản số 1, năm 1917

Nam Phong Tạp Chí chỉ là dạng nguyệt san do L. Marty, một người Pháp rất thông thạo tiếng Việt sáng lập, chủ bút là học giả Phạm Quỳnh đã ra mắt “Số Tết 1918” (và cũng là số Tết duy nhất của tạp chí này) với lối trình bày khác biệt, không đánh số thứ tự theo thường lệ.

Xuân Nam Phong chí có 126 trang, bìa màu vàng cam nhạt, có vẽ hình hai ông cụ già tay cầm cành đào, tượng trưng cho hai vị “Hành khiển phán quan Mậu Ngọ” (cầm nhánh đào tươi) và Đinh Tỵ (cầm nhánh đào không có bông) bàn giao “ấn tín” cho nhau. Trong số Tết này, tất cả các bài viết đều nằm trong khung hoa, có nhiều tranh minh họa và không có quảng cáo.

 

Nam Phong Tết Mậu Ngọ, xuất bản năm 1918

 

Lại cũng có ý kiến cho rằng tờ báo Xuân đầu tiên xuất hiện vào năm 1908, đó là tờ Lục Tỉnh Tân văn, số ra năm Đinh Tỵ, ngày 30/1/1908 tại Sài Gòn. Với số báo thứ nhất ra ngày 15/1/1907, tờ báo viết bằng chữ quốc ngữ với tiêu đề được viết bằng cả chữ Quốc ngữ lẫn chữ Hán.

Lục Tỉnh Tân Văn sử dụng khá nhiều từ Hán-Việt trong các bài báo, ngoài ra các câu châm ngôn chữ Hán cũng được sử dụng nhiều, thậm chí có khi liên tục. Chẳng hạn như trong bài Đạo Tặc, số 3, ngày 18/1/1907, có câu:

“Quân côn đồ cường thạnh, đứa đạo tặc lăng loàn, cướp phá tứ phương, coi dường như không ai trị. Sao vậy? Là vì tại các ông chức việc trong làng hay sợ nó oán trách... Tại các sự tham sanh húy tử, và cái điều tư kỷ, chết ai nấy chịu, cho nên mới loạn ra như vậy”.

 

Lục Tình Tân Văn

 

Tuy nhiên, theo một số nhà nghiên cứu, tờ Lục Tỉnh Tân Văn số năm Đinh Tỵ chỉ là tờ báo ra vào dịp Tết chứ không phải là báo Xuân vì phần hình thức tờ báo này không khác gì tờ báo ra ngày thường.

Tiếp theo tờ Nam Phong tạp chí số Tết 1918, tờ Đông Pháp Thời Báo cũng cho ra mắt số báo Xuân với hai mầu đen, đỏ bán rất chạy vào năm 1927 hoặc tờ Thần Chung, báo của Diệp Văn Kỳ, cũng cho ra mắt số Xuân vào năm 1929.

Phong trào làm báo Xuân thật sự nở rộ trong thập niên 30 của thế kỷ trước với sự ra đời của hàng loạt tờ báo Xuân, như Loa (Hà Nội, 1935), Chơi Xuân (Hà Nội, 1935), Đuốc Nhà Nam (Sài Gòn, 1936), Quà Tết (Sài Gòn,1937), Sách Xuân (Sa Đéc, 1937). Nhưng nổi tiếng nhất phải kể đến hai tờ báo của nhóm Tự Lực Văn Đoàn là Phong Hóa và Ngày Nay.

 

Bức tranh 2 nhân vật Lý Toét và Xã Xệ của họa sĩ Mạnh Quỳnh trên bìa tạp chí Indochine số Xuân năm 1944

 

Trong giai đoạn này, một số tờ báo ra số Xuân chỉ nhằm để kỷ niệm dấu ấn chứ chưa thật sự có mục đích làm báo Xuân như sau này. Rõ ràng là Lục Tỉnh Tân văn số Xuân 1908 và Nam Phong tạp chí số Tết 1918 là sự mở màn, đặt nền móng cho việc làm báo Xuân. Và báo xuân đã trở thành nét văn hóa ngày Tết của người Việt ngoài thịt mỡ-dưa hành-câu đối đỏ.

Thời xưa, khi kỹ thuật in và công nghệ hình ảnh chưa phát triển như hiện nay, người họa sỹ chính là những người trau chuốt để tạo ra “bộ mặt” đẹp nhất, ấn tượng nhất cho mỗi ấn phẩm. Vào dịp gần Tết, người ta thường thấy Báo Xuân bày trên các sạp báo giống như một cuộc thi hoa hậu với những cô gái như mời gọi người đọc bằng những hình vẽ hấp dẫn...

 

Số báo mùa Xuân, Phụ Nữ Tân Văn, 1932

 

Các họa sỹ nổi tiếng trong lĩnh vực vẽ bìa Báo Xuân thường được nhắc đến như những người làm nên “linh hồn” cho những trang báo Xuân xưa. Và dường như cũng vì vậy, tờ báo Xuân xưa mang trong mình một hồn cốt, một phong vị đặc biệt mà có lẽ những tờ báo hiện đại không thể nào có được.

Ngày nay, cùng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin, việc làm báo liên tục cải tiến về nội dung và hình thức để đáp ứng thị hiếu ngày càng cao của độc giả. Tuy nhiên vẫn có thể nhận thấy những nét tương đồng với tinh thần làm Báo Xuân ngày xưa. Đó là phần nào phản ánh diện mạo tâm hồn của con người trước thời cuộc.

 

Số mùa xuân Phong Hóa, 1934

 

Báo Xuân thường là sự huy động tư duy sáng tạo đến từ người thiết kế nội dung, trình bày cho đến người viết. Những tờ Báo Xuân thường là nơi tập hợp những tên tuổi quan trọng làm nên giá trị hay thương hiệu của các tờ báo, những cây bút có sức ảnh hưởng với công chúng và có khả năng thực hiện những chủ đề chuyên sâu về lối sống, văn hóa xã hội, thời thế...

Đối với giới làm báo, Báo Xuân là một cuộc chơi thăng hoa và lắng đọng trí tuệ trong nghề nghiệp sau một năm quanh quẩn với thời sự khô khan. Nhu cầu thưởng thức Báo Xuân càng ngày càng đòi hỏi tính chuyên nghiệp, các đối tác quảng cáo trong thời thị trường cũng đánh giá tờ Báo Xuân là nơi quảng bá hình ảnh hiệu quả nhất.

Còn đối với bạn đọc, thói quen mua Báo Xuân để “đọc chậm” trong mấy ngày Tết dù ít nhiều hãy còn được lưu giữ. Đó cũng chính là lý do những số Báo Xuân có số trang dày hơn số thường vẫn được người ta sẵn lòng mua để đọc trong những ngày đầu xuân năm mới.

 

Số Tết, Ngay Nay, Kỷ Mão, 1939

 

Có thể nói, trải qua 100 năm, trên những tờ Báo Xuân đặc biệt, mọi thứ ồn ào, tranh cãi, lộn xộn của đời thường được tạm gác qua một bên, nhường chỗ cho những cảm xúc sâu lắng, chiêm nghiệm, nhìn lại năm đã qua và hy vọng cho năm tới tốt đẹp hơn.

Chúng ta đang ở vào thời đại Internet, ngày nay làm báo chỉ cần đánh máy vi tính, cho lên máy in, chạy ra luôn ba, bốn, năm màu và hàng chục ngàn số trong một vài giờ, được đóng sẵn sàng đưa ra thị trường.

 

Saigon Mới, Xuân Canh Dần, 1950

 

Thời đại “in typo” của ngày xưa thì khác hẳn. Muốn đưa một tấm hình vào trang báo, phải làm bản kẽm, Cliché Dàu là nơi cung cấp những bản kẽm cho các nhà in và các báo. Khuôn khổ bức hình ra sao để nó nằm gọn lỏn trong trang báo phải được tính toán trước hết. Đến lúc thợ lên khuôn mới đưa vào bài báo được.

Trước khi in, thợ nhà in phải làm một bản vỗ, tức là lấy tờ giấy thấm nước như loại giấy bản, đặt lên khuôn trang có dính chút mực, vỗ nhẹ để mực thấm vào giấy, gọi là “morasse”.

Người làm việc sửa morasse được gọi là “thầy cò”. Thường morasse phải sửa đến lần thứ hai thứ ba, lần cuối cùng do Tổng Thư Ký tòa soạn sửa và ký vào tờ “dernière morasse” chịu trách nhiệm nếu có sai sót.

 

Báo Thần Chung, Xuân Giáp Ngọ, 1954

 

Nói sơ qua như thế để bạn có thể hình dung ra phần đầu của công việc làm báo, đấy là báo thường chưa nói đến số Tết còn “ly kỳ rùng rợn” hơn. Đúng là một công việc bỏ ăn bỏ ngủ chứ không phải là chuyện đùa.

Nhân năm hết, Tết đến xin có vài dòng về Báo Xuân ngày xưa để chúng ta nhìn lại quá khứ, một “món ăn tinh thần” không thể thiếu trong những ngày Tết. Hình như không có báo Tết trong những ngày xuân người ta cảm thấy như thiếu một “cái thú” mà các bản in trên Internet ngày nay không thể nào thay thế được.

Tất cả mọi thứ trên đời này đều có cái giá của nó!

 

Phổ Thông, Xuân Nhâm Dần, 1962

 

Chiến Sĩ Cộng Hòa, Xuân Nhâm Tý, 1972
 

***

 * Tham khảo thêm: “Báo Xuân… Báo Tết…” tại:

https://chinhhoiuc.blogspot.com/.../01/bao-xuan-bao-tet.html

 

***

--> Read more..

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2022

Ông Bà Bút Trà & Báo “Sàigòn Mới”

Trước 1975, làng báo Sài Gòn có nhiều chuyện lạ, phải nói là hi hữu mới đúng. Hồi đó có tới 3 ông làm văn, làm báo có cùng họ, cùng tên và ngay cả tên đệm: Nguyễn Đức Nhuận.

Ông Nhuận thứ nhất sinh năm 1900 và chết năm 1968 là chủ nhiệm tuần báo “Phụ nữ Tân văn”, tờ báo với phương châm “Phấn son tô điểm sơn hà, làm cho rõ mặt đàn bà nước Nam”.

Ông thứ hai, cũng là Nguyễn Đức Nhuận (1901 – 1970), bút hiệu Phú Đức, với khoảng hơn 70 tiểu thuyết thiên về trinh thám võ hiệp, ăn khách nhất là các cuốn “Châu về hợp phố” (1926) và “Lửa lòng” (1929). 

Thứ ba là nhà báo, nhà thơ Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận (1900 – 1982), sinh quán Quảng Ngãi; nguyên quán Quảng Nam. Ông chọn bút danh Bút Trà là để nhớ đến núi Thiên Bút và sông Trà Khúc ở tỉnh Quảng Ngãi.

 

Ông Bút Trà Nguyễn Đúc Nhuận

 

Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận có bài thơ khóc đồng nghiệp cùng tên họ với mình là nhà văn Phú Đức Nguyễn Đức Nhuận khi ông qua đời:

“Cùng họ, cùng tên lại một nghề,

Cùng trong tòa soạn thưở nào hê?

Bốn mươi năm trước còn ghi dấu!

Bẩy chục xuân nay đã vội về.

Vắng bạn văn đàn trông thấy thiếu,

Có mình thế giới tưởng như dư.

“Lửa lòng, “Hiệp phố” lần tay giở,

Sách đó, người đâu? luống não nề!”

Đến khi gặp “người yêu”, ông Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận cũng có một bài thơ kỷ niệm:

“Từ ngày gặp được em

Muôn sắc màu hoa gấm

Muôn đường tơ tươi thắm

Cùng hòa nhịp đôi tim.

 

“Từ ngày gặp được em:

Đời càng thấy yêu thêm

Những khi em vắng mặt

Là lúc đời tẻ ngắt!

 

“Từ ngày gặp được em:

Thấm thoát đã ba năm

Giấc điệp mơ màng đủ…

Một ngàn tám chục đêm!

 

“Từ ngày gặp được em:

Năm, tháng trong mong đợi

Nay xuân đã về tới …

Đâu những phút êm đềm?!”

“Người yêu” của nhà thơ là Tô Thị Thân, mà sau này người ta thường gọi là Bà Bút Trà khi hai người thành gia thất. Chồng trước của bà Thân là một thương gia người Hoa, thường được gọi là “Chú Xồi”, điều hành 20 tiệm cần đồ.

 

Vợ chồng Ông Bà Bút Trà (1950)

 

Cơ duyên run rủi và cũng do thời cuộc đẩy đưa, báo chí ở Sài Gòn lúc đó đang cạn đề tài giựt gân ăn khách nên họ moi óc tìm chuyện để khuấy động người đọc. Rất nhiều tờ báo đua nhau phê phán các tiệm cầm đồ với lý do "tiệm cầm đồ hút máu dân nghèo”. Và vợ của “Chú Xồi” vào cuộc.

Khi người ta chế diễu bà là “Thím Xồi”, bà đáp lại: “Ừ, tôi tên là thím Xồi thì đã sao kia chớ? Thím ấy có làm hại xã hội bằng những bài vở khiêu dâm chăng? Có nêu gương đồi phong bại tục chăng?”. Khi các báo xoay qua chê trách bà làm nghề cầm đồ, bà đáp thẳng thừng, “Hàng ngàn người khác cho vay cắt cổ, sao cứ bà họ Tô mà chửi?”

Số trời đã định nên “Thím Xồi” mới bước vào làng báo trong việc “thương thuyết” với báo Công Luận (tờ báo tấn công các tiệm cầm đồ mạnh nhất). Khi đó, ông Phú Đức Nguyễn Đức Nhuận làm chủ nhiệm và nhà thơ Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận thư ký tòa soạn.

Ông Bút Trà tiếp bà Tô Thị Thân để “nói chuyện phải trái” tại tòa soạn báo và sau này, chuyện “không tưởng” lại trờ thành “sự thật” khi “Thím Xồi” trở thành “Bà Bút Trà” sau khi ly dị với “Chú Xồi”.

 

Nhật báo “Saigon Mới” của ông bà Bút Trà

 

Trong “Hồi ký văn nghệ”, nhà văn Bình Nguyên Lộc viết về cuộc tình giữa hai “Ông Bà Bút Trà” có sự “đóng góp” của ông, khi đó mới 17 tuổi!

Một hôm, bà Tô Thị Thân kêu ông Tô Văn Giỏi là kế toán của bà: “Em Giỏi nè, em có biết ông nào viết nhựt trình thật giỏi, mà ăn lương rẻ hay không?... Chị muốn lập ra một tờ nhựt trình để chửi lại cái tụi đã chửi chị”.

Ông Giỏi lại không hề quen một ký giả nào hết nên tìm đến người em bà con là Tô Văn Tuấn (tên thật của nhà văn Bình Nguyên Lộc), đang là học sinh trường Petrus Ký vì ông biết thằng em mình vì ham văn chương, chắc quen với một số nhà văn, nhà thơ nên nhờ Tuấn giới thiệu giùm.

Cậu học sinh 17 tuổi trình bày yêu cầu của Bà Thân và ông Bút Trà đồng ý gặp. Hóa ra anh chàng Tuấn lại là cầu nối giới thiệu ông Bút Trà cho ông Giỏi và sau cùng là cuộc hội ngộ của Ông và Bà Bút Trà để tạo ra một “câu chuyện có một không hai” trong làng báo Sài Gòn xưa!

 

Nhà văn Bình Nguyên Lộc

 

Bình Nguyên Lộc viết: “Có thể nói mà không sợ sai là chính tôi đã tạo ra bà Bút Trà. Và ngược lại chính bà Bút Trà đã tạo ra Bình Nguyên Lộc. Duyên văn là như thế. Bà họ Tô ấy quả đã có công thật lớn với kẻ họ Tô là tôi đây”.

Về nhan sắc, ông mô tả: “Bà là người đàn bà Việt Nam thuộc vào hạng phụ-nữ Việt Nam cao lớn nhứt nước. Bà có đẹp hay không vào thuở đó? Tôi bảo đảm là bà ấy rất đẹp. Nhưng tình-trạng giàu có của bà với lại sắc đẹp của bà thật ra chẳng có gì đáng kể đối với tài tháo-vác của bà...”

Báo “Sài Thành” (1932) đổi tên thành “Sài Gòn” (1933) rồi lại thành “Sàigòn Mới” kéo dài hơn nửa thế kỷ. Bà Bút Trà Tô Thị Thân một tay quán xuyến cơ đồ, dù ít học mà cũng chẳng có kinh nghiệm làm báo. Ông Bút Trà thực ra không làm gì khác ngoài nhiệm vụ “làm chồng” và làm thơ Đường!

“Sàigòn Mới” trong suốt 30 năm không ngừng phát triển, ấn bản có lúc lên đến 100.000 với sự hợp tác của nhiều nhà văn, nhà báo có tiếng như Bà Tùng Long, Bình Nguyên Lộc, Hoàng Hải Thủy, Nguyễn Vỹ, Dương Hà, Trọng Nguyên... Ngoài ra còn có các thân hữu của ông Bút Trà như các nhà thơ Đông Hồ, Vũ Hoàng Chương, Bàng Bá Lân...

 

Nhật báo “Saigon Mới” của ông bà Bút Trà

 

Ông Bà Bút Trà còn có 2 tờ báo khác là “Phụ nữ Diễn Đàn” và “Phụ nữ Ngày Mai” giao cho 2 người con là Nguyễn Đức Chiến (Hai Chiến) và Nguyễn Đức Khiết (Sáu Khiết) trông coi. Hai tờ báo này rất được độc giả là nữ giới yêu thích.

Cả 3 tờ báo còn có những sáng kiến tạo ra những tiết mục đặc biệt rất hấp dẫn người đọc. Mục “Gỡ rối tơ lòng” do Bà Tùng Long phụ trách, “Giải đáp pháp luật” do luật sư của báo đảm nhận và “Giải đáp y tế” giúp người đọc hiểu biết về sức khỏe của mình.

Riêng tiết mục “Vận số trong tuần” do vị sư sáng lập Tam Tống Miếu và cũng là người anh thứ ba của Bà Bút Trà tiên đoán vận số theo tuổi tác. “Sàigòn Mới” còn độc quyền phát hành lịch Tam Tống Miếu trên toàn quốc.   

Ông Bút Trà cũng tham gia hoạt động xã hội như là sáng lập viên Hội Ái Hữu Trung Việt còn Bà Bút Trà cũng là Chủ tịch Hội Phụ Nữ Việt Nam. Phong trào Phụ Nữ Liên Đới của bà Ngô Đình Nhu được thành lập để ủng hộ chính quyền sau vụ “đảo chính hụt” vào cuối năm 1960, Hội Phụ Nữ Việt Nam phải sáp nhập vào Phụ Nữ Liên Đới.

Sự thành công của Ông Bà Bút Trà không ít thì nhiều cũng gây ra sự ghanh tị trong cạnh tranh nghề nghiệp với các báo khác. Họ tìm đủ cách để triệt hạ một khi thấy báo có sơ suất. Chẳng hạn như tin “giựt gân” về chuyện “người lấy khỉ” ở Cà Mau đăng trên “Sàigòn Mới”. Các báo khác thi nhau gọi đây là một tin thuộc loại “lá cải”, câu khách.

 

Tòa soạn báo “Saigon Mới”, đường Colonel Grimaud (nay là Phạm Ngũ Lão)

 

Sau cuộc đảo chính năm 1963 tờ báo phải đình bản một thời gian vì bị kết tội “thân với chế độ của Tổng thống Ngô Đình Diệm”. Đến năm 1972 “Sàigòn Mới” phải đình bản hẳn khi có luật báo chí quy định các chủ báo phải ký quỹ 20 triệu đồng.

Sau năm 1975, rạp chiếu bóng Kim Châu (mang tên của người con gái lớn) bị nhà nước quản lý vì gia đình có liên quan đến 3 diện: vừa là nhà báo lại vừa là tư sản, gia đình lại có con là sĩ quan cao cấp thuộc chế độ cũ. Bà Bút Trà mất năm 1979, thọ 76 tuổi, hai năm sau, ông qua đời, hưởng thọ 76 tuổi.

 

Ngày 2.11.1963, báo “Saigon Mới” bị đập phá sau khi Tổng thống Diệm bị lật đổ

 

Nhà văn Hoàng Hài Thủy với 50 năm trong nghề báo, nhắc đến cả hai ông bà với những dòng tưởng niệm thật cảm động:

“... Tôi đã làm việc với khoảng trên dưới 10 chủ báo, chỉ có ông bà Bút Trà được tôi coi như chủ nhân của tôi. Trong suốt 9 năm trời tôi không một lần thấy bà xẵng giọng với nhân viên, bà không rầy la nhân viên trước mặt đồng nghiệp của anh ta, bà cũng chẳng bao giờ than phiền một nhân viên nào làm việc bê bối với người trong tòa soạn, cần nói gì bà mời riêng nói chuyện...”

Đó là điều chứng tỏ sự thành công của báo “Sàigòn Mới” nói chung và Ông Bà Bút Trà nói riêng. Nói rộng ra, tờ báo đã có tác dụng hơn cả Bộ Giáo Dục trong việc phổ biến văn hóa đọc trong mọi tầng lớp dân chúng miền Nam.

Thành quả này đã biểu hiện rõ ràng nếu đem so sánh trình độ dân trí và ý thức dân chủ của người dân của hai miền Nam-Bắc.

 

Di cốt bà Bút Trà

 *** 

--> Read more..

Popular posts