Hiển thị các bài đăng có nhãn Ban Mê Thuột. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ban Mê Thuột. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 18 tháng 3, 2025

Mặt trận Tiểu khu Darlac 10/3/1975

* Lời giới thiệu: Tôi nhận được email của Nguyễn Văn Hoa, người bạn đồng môn trường Trung học Ban Mê Thuột ngày xưa. Anh Hoa có viết một câu thật cảm động:

“Hôm nay, một tuần sau ngày giỗ 50 năm thị xã Ban Mê Thuột và tỉnh Darlac gục ngã, tôi vừa khóc vừa đọc lại bài "Mặt trận Tiểu khu Darlac 10/3/1975" do một người ký tên tắt KD trích lại.  Xin được chia xẻ với quý đồng môn BMT”.

Xin post lại nguyên văn những dòng dưới đây của tác giả KD để gửi đển các thân hữu và đồng môn “hồi ức” một ngày tang tóc của xứ “Buồn Muôn Thuở” 50 năm về trước. Những hình ảnh đi kèm do NNC sưu tầm trên mạng.

Nguyễn Ngọc Chính

*** 

Từ 9 giờ 30 sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975, các mũi tiến quân của Cộng quân từ hướng bắc và hướng tây bắc đã hoàn toàn tràn ngập trung tâm thành phố và tập trung nỗ lực tấn công Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu nằm trên đại lộ Thống Nhất.

Bộ đội và chiến xa T54 của Cộng quân từ khuôn viên nhà thờ chính tòa tràn qua ngã Sáu, chiếm Câu Lạc Bộ Biên Thùy, khu cư xá sĩ quan, nằm trên Ngã Ba đại lộ Thống Nhất và đường Lê Lợi, nhưng không tràn qua được khu vườn hoang của Bác Sĩ Tôn Thất Niệm, nằm sát hệ thống công sự phòng thủ của Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu.

Lực lượng phòng vệ Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu phản công quyết liệt. Một chiếc T54 của Cộng quân bị bắn cháy. Dù với chiến thuật biển người và với BKZ 82 ly cùng đại bác 100 ly trang bị cho T54 bắn trực xạ không ngừng vào hệ thống công sự phòng thủ của Tiểu khu, Cộng quân vẫn chưa tiến sát được vào hệ thống công sự phòng thủ này.

Tinh thần chiến đấu và lòng dũng cảm của những chiến sĩ thuộc Tiểu Khu quả thật không thể tưởng tượng. Cứ mỗi đợt tiến công của Cộng quân là những tràng đại liên, M-79 (súng phóng lựu) và M-16 từ các công sự phòng thủ xối xả phản kích làm cho bước tiến quân của Cộng quân đã phải ngừng lại.

Cộng quân lui về cố thủ khu vực cư xá sĩ quan và Câu Lạc Bộ Biên Thùy, đồng thời chia quân tràn qua đại lộ Thống Nhất đánh chiếm Tòa Án, Bưu Điện, tòa nhà Đại Biểu Chính Phủ, và tiếp tục thực hiện trận mưa pháo bằng đại bác 100 ly từ các chiến xa T54 và đại bác 130 ly cùng hỏa tiễn 122 ly từ hướng Tây thị xã (khu vực Bandon) đổ vào Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu.

11 giờ 20, một chiếc T54 của Cộng quân tiến vào cổng trước Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu trên đường Thống Nhất đã bị bắn hạ. Tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ Tiểu Khu càng lên cao.

11 giờ 45, hai chiếc Commando Car (thiết giáp với bốn bánh cao su, không xích sắt) của Thiết Đoàn 8 từ hướng chùa Khải Đoan theo đường Quang Trung qua Tôn Thất Thuyết để tiến về đánh bọc hậu lực lượng của Cộng quân đang công hãm Tiểu Khu. Nhưng khi đến ngã Ba Ama Trang Long Tôn Thất Thuyết, các chiến sĩ Thiết Đoàn 8 bị lực lượng của Cộng quân từ ngã Sáu tràn xuống chận đánh. 2 chiếc Commando Car bị Cộng quân bắn cháy trước Bar Quốc Tế. Nhưng các chiến sĩ của Thiết Đoàn 8 đã len theo khu phố Ama Trang Long để tiến về hướng Tiểu Khu.

Cũng giờ này, khu chợ Ban Mê Thuột, từ đường Quang Trung chạy dọc theo đường Y Jút đến Ama Trang Long bị trúng đạn và bốc cháy dữ dội. Nhà hàng Thanh Thế mới khai trương, cũng tân kỳ không thua gì nhà hàng Thanh Thế ở đại lộ Lê Lợi Sài Gòn, giờ đây đang là một biển lửa.

Dãy phố bên kia đường Ama Trang Long, đối diện với nhà hàng Thanh Thế như tiệm Rồng Vàng, nằm mặt sau của Ty Cảnh Sát cũ đã là một bãi gạch vụn.

Khu phố nằm trên đường Y Jút, đối diện với chợ Ban Mê Thuột như nhà của Ông Tôn Thất Hối đã bị sập.

Cho đến giờ này, 11 giờ 45 ngày 10 tháng 3 năm 1975, các chiến sĩ của Tiểu Khu Darlac vẫn cố thủ Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, và lực lượng của Cộng quân từ 2 mặt, phía Bắc, tức là khu cư xá sĩ quan và mặt tiền Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, tức là từ Bưu Điện, tòa nhà Đại Biểu Chính Phủ đã bám sát hệ thống công sự phòng thủ của Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Những trận đánh xáp lá cà đẫm máu đã xảy ra dọc theo hệ thống công sự phòng thủ.

1 giờ 15 trưa ngày 10 tháng 3 năm 1975, Trung Tâm Hành Quân của Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu bị trúng pháo, mọi liên lạc truyền tin bị phá hủy.

2 giờ 20 trưa ngày thứ Hai, 10 tháng 3 năm 1975, Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Tỉnh Darlac thất thủ, sau hơn 7 tiếng đồng hồ giao tranh với lực lượng biển người của Cộng quân có chiến xa T54, và các loại đại pháo yểm trợ, mà không có được một đơn vị bạn nào tiếp cứu.

60 ngàn dân thị xã Ban Mê Thuột mãi mãi ghi nhớ chiến công, lòng dũng cảm và tinh thần kỷ luật của các chiến sĩ Tiểu Khu Darlac trong những giờ phút lâm nguy đã cố gắng và hy sinh để làm tròn bổn phận cho đến hết sức mình.

Xin gởi tấm chân tình sâu xa nhất của chúng tôi đến Trung Tá Vĩnh Hy, người trực tiếp chỉ huy mặt trận, với những trận tấn công và đánh xáp lá cà cùng lực lượng biển người của quân thù, và để đến giờ phút cuối đành di tản Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu để bảo toàn lực lượng.

Xin anh linh của những chiến sĩ đã sống hùng thác thiêng, phù trợ cho thành phố này và những đồng đội của mình trên những chặng đường di tản. Các vị mãi mãi là những anh hùng và thần linh của thành phố này.

(Người ghi lại bài này ký tên tắt là KD) 

***

Mặt trận Tiểu khu Darlac ngày 10.3.1975


Nhà thờ Chính toà BMT (còn có tên Nhà thờ Cột đèn Ba ngọn)


Chùa Khải Đoan


Đường Quang Trung (đoạn giữa Lý thường Kiệt - Y Yút)


Chợ Ban Mê Thuột


Đường Y Jút


Đường Tôn Thất Thuyết, đoạn giữa Phan Bội Châu-Quang Trung


Tiệm vàng Kim Môn đường Ama Trang Long


Phi trường Phụng Dực (1961)


Tên đường ngày xưa là  Ama Trang Long… nay đổi lại thành Nơ Trang Long (2017)


Bộ đội hành quân trong chiến dịch Tây Nguyên


Xe tăng tấn công thị xã Buôn Mê Thuột


Xe tăng húc đổ cổng Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23


Bộ đội đánh chiếm Bộ chỉ huy Sư đoàn 23


Tấn công trại Mai Hắc Đế


Trường Trung học Ban Mê Thuột


Thăm lại trường xưa (2017)


***


































--> Read more..

Thứ Bảy, 15 tháng 3, 2025

10.3.1975 – khởi đầu từ Ban Mê Thuột

Ông bà ta thường nói: “Vạn sự khởi đầu nan” để diễn tả sự phức tạp và khó khăn trong việc bắt đầu một công việc, một dự án hoặc một cuộc sống mới… Bài viết này không những mang hàm ý đó mà còn ở một quy mô lớn hơn, có tầm ảnh hưởng đến cả một đời người, lại còn mang ý nghĩa đến đời con, đời cháu.

Trong chiến tranh Việt Nam, ngày 10/3/1975 Ban Mê Thuột thường được mệnh danh là “sự khởi đầu của một kết thúc”. Tất cả được bắt đầu từ xứ “Buồn Muôn Thuở”, một cái tên đầy thi vị nhưng cũng đầy bi thương dẫn đến sự sụp đổ ngày 30/4/1975 tại Sài Gòn.

 

Hình ảnh tấn công Ban Mê Thuột trong ngáy 10.3.1975

 

Đó cũng là “cột mốc đổi đời” hiểu theo cả hai nghĩa đối với người Việt. Với người (tạm gọi là “lạc quan”) đó là ngày “thống nhất đất nước”, còn đối với “người bi quan” thì đó lại là “xuất phát điểm” của cuộc “di tản chiến thuật” từ một đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh sang những vùng đất mới yên bình hơn.

Người ta “vượt biên” trên những chiếc tàu cũ kỹ, vượt đại dương để mong tìm được “vùng đất mới”. Cũng có những người đi đường bộ qua Cambodia để vào Thái Lan, họ sống khắc khoải trong những “trại tỵ nạn” với hy vọng được đất nước thứ ba tiếp nhận như “một người tỵ nạn”.

 

Tượng đài kỷ niệm chiến thắng ngày 10.3.1975 tại Quảng trường Ngã Sáu, BMT

 

Trở lại với Ban Mê Thuột vào tháng 3/1975, Chiến dịch Tây Nguyên (từ 4/3 đến 3/4/1975), còn được biết đến với mật danh “Chiến dịch 275”, là hoạt động mở đầu cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 do Quân Giải phóng miền Nam phát động.

Với cuộc tiến công của phía Quân Giải phóng ngày 10/3/1975 vào Ban Mê Thuột, Quân đoàn II thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) đã bị sụp đổ. Những nỗ lực tái chiếm Buôn Mê Thuột của QLVNCH trong các trận phản công ngày 11 và 13/3/1975 đều thất bại.

 

Hỏa tiễn H-12 có tầm bắn 8 km, được Mặt trận Tây Nguyên sử dụng để đánh chiếm BMT sáng ngày 10.3.1975

 

Sau các thất bại dồn dập, ngày 14/3/1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, kiêm Tổng tư lệnh Quân lực Việt Nam Cộng hoà, đã có một bước đi hết sức sai lầm khi quyết định rút quân trên toàn địa bàn Tây Nguyên để về giữ miền duyên hải Miền Trung.

Phải nhìn nhận, việc rút quân tiến hành “không theo bài bản” nên chỉ ba ngày sau đó, hầu như toàn bộ Quân đoàn II QLVNCH với 60.000 quân đã bị tiêu diệt, đầu hàng hoặc tan rã trong cuộc rút quân hỗn loạn trên con đường số 7.

 

Quân Giải phóng Miền Nam hành quân vào phía Nam Tây Nguyên

 

Cùng với những sai lầm có tính chiến lược trong phương án và cách thức điều quân, phối trí lại lực lượng của các cấp chỉ huy QLVNCH, chiến dịch này đã tạo nên những đột biến lớn trên chiến trường mở đầu cho sự thất bại và tan rã toàn diện của QLVNCH tại miền Nam Việt Nam.

Sau này người ta mới biết Lực lượng Quân Giải phóng miền Nam tham chiến tại Mặt trận Tây Nguyên ban đầu được đặt dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên (mật danh 275).

Chỉ vỏn vẹn 55 ngày trong năm 1975, Chiến tranh Việt Nam (kéo dài từ 1954 đến 1975) đã chấm dứt. Tiếp theo đó là việc “tái thống nhất Việt Nam” sau 21 năm bị chia cắt.

 

Một trong các căn cứ hậu cần của Quân Giải phóng Miền Nam

 

Ban Mê Thuột đối với tôi là vùng đất mang nhiều kỷ niệm, kể từ khi gia đình tôi rời Đà Lạt đến xứ “Buồn Mà Thương”. Tôi bắt đầu tiếp tục việc học tại BMT năm Đệ Ngũ khi ông thân sinh chuyển công tác về đây.

Gia đình chúng tôi trong thời gian đầu ở tại đường Lý Thường Kiệt, nơi bị chia cắt bởi đường Quang Trung có tiệm ăn Souris Blanche của người Pháp. Sau đó, chúng tôi dời qua đường Ama Trang Long nơi Ngã Tư Lý Thường Kiệt - Ama Trang Long, có tiệm ăn Mỹ Cảnh của người Hoa ở góc đường.

 

Hình chụp thị trấn Ban Mê, nơi có con đường Lý Thường Kiệt và Quang Trung

 

Tôi còn nhớ mãi đã nhìn thấy một anh VC lần đầu tiên trong đời. Chỉ khác một điều là anh đã nằm chết với “chiếc mũ tai bèo” trên đường phố Ban Mê!

Bạn bè tôi vào tháng 3/1975 đã có nhiều người khoác áo lính. Trong số đó có Vĩnh Anh, một sĩ quan không quân đang nghỉ phép về BMT thăm gia đình, anh lái Skyraider tại Biên Hoà.

Đêm 10/3/1975 anh đang ở nhà tôi, khi nghe “tiếng pháo”, anh rút khẩu súng lục bắn chỉ thiên một phát. Ai ngờ “tiếng pháo” đó lại là “tiếng súng” của “quân giải phóng”! Đến khi nghe tin VC đang tấn công BMT anh bạn thân của tôi vội vàng tìm đường trở về phi trường Biên Hoà ngay lập tức.

Đó là một kỷ niệm khó quên trong ngày 10/3/1975. Chỉ tiếc một điều là Vĩnh Anh đã qua đời năm 2020 tại Mỹ với lý do “bệnh tật”, chứ không phải vì “chiến tranh”!

 

Vĩnh Anh, phi công Skyraider, hình chụp năm 1965

 

Phần tôi cũng vội vàng tìm đường về Sài Gòn vì khi đó tôi cũng đang nghỉ phép từ trường Sinh ngữ Quân đội.

Gia đình tôi ở Lăng Cha Cả, rất gần với phi trường Tân Sơn Nhất nên khi phi trường bị pháo kích ngày 29/4/1975, tôi vội vàng “tránh hòn tên, mũi đạn” bằng cách chạy tới Bệnh viện Sài Gòn trên đường Lê Lợi ở Quận 1.

 

Hình chụp gia đình tôi tại BMT năm 1971

 

Bạn không thể nào tưởng tượng nổi chiếc Honda 67 lại có thể chở đến 6 người: tôi, bà xã và 4 đứa con, đứa nhỏ nhất chỉ mới 1 tháng tuổi. Nhưng rồi mọi sự đều êm xuôi trong ngày 29/4/1975, chúng tôi vẫn đến được bệnh viện nơi bà xã tôi đang làm việc.

 

Bệnh viện Saigon

 

Một lần nữa, trong ngày 29/4/1975 câu “vạn sự khởi đầu nan” là quá đúng: mọi chuyện có khó khăn, không tưởng khi nghĩ tới 6 người “chạy loạn” trên chiếc Honda nhưng rồi cũng thực hiện được.

Thật ngoài sức tưởng tượng của con người khi cái chết cận kề!

 

***
--> Read more..

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2024

Hội ngộ những khuôn mặt xưa

Gặp nhau đầu tuần mà đến hôm nay cuối tuần mới “rặn” ra được bài viết này! Tất cả cũng chỉ vì “lười” một khi “long thể bất an” nên “lực bất tòng tâm”! Xin các bạn già thứ lỗi.

Buổi gặp gỡ đầu tuần kéo dài từ 7 giờ sáng cho đến hơn 11 giờ trưa với thành phần tham dự là các “bô lão đồng môn” trường Trung học Ban Mê Thuột ngày xưa. Giờ thì người nào người nấy đều vác trên lưng “bảy tám bó có dư”.

Địa chỉ là Cà Phê Sơn (còn được gọi là Cà Phê Cô Thuý) đã được gửi đến các thành phần khách mời để tiện việc tìm kiếm. Ấy thế mà nhân vật chính trong buổi gặp mặt là Phạm Công Lạc lại là người đến cuối cùng! Đơn giản là vì “Lạc Lùn” ở tận Xứ Cờ Hoa tìm về thăm anh em.

 

Địa chỉ “Sơn Coffee & Tea” trên Foody.vn

 

Lạc Lùn” là biệt danh của Lạc từ thời còn đi học, tuy lùn nhưng lại lả một cầu thủ có lối săn bàn không thua gì “Vinh Đầu Hói” của đội tuyển VNCH. Giờ thì có lẽ cái tên “Lão Ngoan Đồng” chính xác hơn vì “Cụ Lạc” mở miệng ra không khác gì nhân vật của Kim Dung: vừa khôi hài như trẻ thơ lại pha chút “lí lắc” của một… ông già!

Lạc giải thích lỳ do tại sao đến trễ: “Tao phải đi bộ cả cây số mới tìm được cái quán này… đó là chưa kể đến việc phải hỏi đường biết bao nhiêu người mới đến được đây!”

Vốn đã quen với lối nói chuyện của “Lão Ngoan Đồng” từ xưa nên anh em chỉ biết… cười xoà thông cảm! Lạc rời Việt Nam từ năm 1975 với hai bàn tay trắng nhưng lại thành công trên đất nước tạm dung với các cơ sở kinh doanh phát đạt tại Houston, Texas.

Người ta thường nói tóc bạc do Trời nhưng bản tính của mỗi con người vẫn không thể nào thay đổi theo thời gian.

 

Nhân vật chính Phạm Công Lạc đến từ xứ Cờ Hoa

 

Một người nữa cũng từ ở xa về nhưng không đến nỗi phải “vượt biển” rời xứ Cở Hoa như Lạc mà chỉ từ xứ sở sương mù Đà Lạt. Trần Hữu Thịnh về Sài Gòn chỉ để gặp Lạc, hành trang của Thịnh thật gọn nhẹ, anh nói gặp Lạc xong rồi sẽ về Đà Lạt ngay vì còn bận điều hành một khách sạn khá đông khách gần khu Hoà Bình.

Nguyễn Khánh Hồng là dân Sài Gòn nên tự đứng ra đảm nhận nhiệm vụ làm cầu nối để các bạn cũ gặp nhau. Hồng chuyên về việc sưu tầm tem bưu chính và đã hình thành một câu lạc bộ của các bạn cùng sở thích. Anh tự hào tuy tuổi đã cao nhưng vẫn còn hoạt động trong lãnh vực mà mình yêu thích.

Trong số các bạn gặp nhau hôm nay còn có Bùi Thế Vĩnh, anh là một nhà giáo theo đúng nghĩa vì đã tốt nghiệp Đại học Sư phạm để giảng dạy từ BMT và về đến đất Sài Gòn. Giờ đã về hưu nhưng ở Vĩnh năng lượng vẫn tràn đầy nên có mặt trong hầu hết các cuộc hội ngộ bạn bè thời trung học.

Thêm một anh bạn học lớp dưới cũng tham gia nhưng chỉ tiếc một điều là tôi không biết rõ về anh. Thế là cả 6 người gặp nhau, chuyện trò rôm rả. Những kỷ niệm thời còn đi học được nhắc đến, thôi thì đủ chuyện, từ chuyện thầy cô cho đến chuyện tình thuộc loại “thâm cung, bí sử” của các bạn học.

 

Đội hình chính thức 6 bô lão họp mặt

 

Chầu cà phê do anh Vĩnh âm thầm thanh toán vả tiếp theo là “tăng hai” do Lạc đãi. Địa điểm ăn sáng ở ngay bên kia đường, “Bún chả Hà Nội” đối diện với Cà Phê Sơn do tôi đề nghị, lý do lúc đó cũng gần 11 giờ mà tôi thì lại ngại đi xa!

Ăn sáng xong Hồng đề nghị đi “tăng ba” ghé nhà anh ở quận Tân Bình. Tôi xin kiếu vì một buổi sáng đã kéo dài tới mấy tiếng, “theo không nổi” vì phải di chuyển quá nhiều. Các bạn cũng “niệm tình” tấm thân còm cõi của tôi nên tôi được về nhà sau một buổi sáng… “làm việc quá tải”!

 

“Tăng hai” – “Bún chả Hà Nội”

 

Vài dòng ghi lại buổi hội ngộ của các ông già “gần đất xa trời” để giữ lại kỷ niệm một ngày… “làm việc quá sức”!


 *** 

--> Read more..

Thứ Sáu, 19 tháng 3, 2021

Khởi đầu của một kết thúc

* Lời giới thiệu: Tháng 3/2017, nhân kỷ niệm ngày Ban Mê Thuột thất thủ (10/3/1975), tôi có bài viết về thành phố khởi đầu sự sụp đổ của Sài Gòn. Đây chỉ là một tổng hợp các nguồn thông tin, chắc chắn là chưa hoàn toàn đầy đủ. (http://chinhhoiuc.blogspot.com/.../ban-me-thuot-khoi-au...)

Mới đây, trên trang FB của anh Phu Nguyen xuất hiện bài viết “PHỤNG DỰC - TRẬN ĐÁNH ĐỂ ĐỜI” mà theo lời tâm sự riêng của tác giả: “…đây là mảnh ghép đẹp bị lãng quên không kịp ghi vào quân sử. Phú chưa thấy tác phẩm nào nói đến nên mạn phép ghi lại những gì tai nghe mắt thấy, cùng lời kể rất thật của anh cựu Đại tá Võ Ân Trđ trưởng 53 và cựu Thiếu tá Võ Phước Lai, Tđ trưởng 1/53…”.

Phú là cựu học sinh trường Trung học Ban Mê Thuột. Khi chiến sự xảy ra vào những ngày tháng 3/1975, anh là một nhà báo đang đang ở quận Phước An chờ “xin một ghế trên trực thăng để bay ra khỏi vùng khói lửa”. Chiếc Chinook không thể nào cất cánh vì số người tỵ nạn quá đông nên anh ở lại tại vùng… “giải phóng” đầu tiên của miến Nam!

Bài viết là một chuỗi hồi ức, trải dài từ những ngày cuối cùng ở Việt Nam sang đến Hoa Kỳ, nơi anh hiện định cư. Không những thế, ngoài chuyện nhà binh “đánh đấm” còn có những chi tiết mà một người vốn đã có một thời gian ở BMT như tôi hoàn toàn không ngờ đến. Chẳng hạn như tại sao lại đặt tên Phụng Dực cho phi trường của thành phố?

Bài viết tuy dài, mời các bạn cùng đọc để tưởng nhớ BMT, nơi khởi đầu của một kết thúc. 

***

PHỤNG DỰC - TRẬN ĐÁNH ĐỂ ĐỜI

Phu Nguyen

“Old soldiers never die, they just fade away”.

"Người lính già không bao giờ chết, họ chỉ mờ nhạt đi".

****************

Tôi được gặp Đại Tá Võ Ân lần đầu tại Chi khu Phước An, lúc ấy là chiều 17 tháng 03 năm 1975, một tuần sau khi nổ ra mặt trận Ban Mê Thuột.

Trong những ngày cuối cùng của Ban Mê Thuột, sau khi tiểu khu Darlac và Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 BB đã thất thủ, chi khu Phước An trở thành trung tâm điểm của các hoạt động quân sự ráo riết nhất, Thiếu tá Nguyễn Thanh Thọ quận trưởng đã nhiều ngày không ngủ, vóc dáng thư sinh của anh như càng quắt hơn nữa, nhưng anh vẫn như con thoi tiếp đón hết toán quân này đến vị chỉ huy khác.

Từ khi tiếng súng nổ 2 giờ sáng thứ Hai ngày 10/3, Phước An trở thành nơi tập trung của mọi đơn vị, từ Trung tá Phạm Công Cẩn quận trưởng với đoàn lính quận Buôn Hô, đến Trung đoàn 45 từ Pleiku về chuẩn bị cho cuộc tái chiếm Ban Mê Thuột. Tỉnh trưởng cuối cùng của Darlac, Đại tá Trịnh Tiếu, cũng có ghé qua đây, nên Thiếu tá Thọ chủ nhà suốt ngày đêm bận bịu tiếp đón, sắp đặt mọi chuyện.

Anh Võ Ân cùng với khoảng 20 quân nhân vừa di tản từ bộ chỉ huy Trung đoàn 53 đóng cạnh căn cứ B50, phi trường Phụng Dực về tới Phước An an toàn. Thiếu tá Thọ chạy vội ra giữa sân quận đường chào đón toán quân:

- Chào Đại tá, Đại tá vào phòng em nghỉ, để em cho lính lo cơm nước cho anh em liền.

Thấy vị sĩ quan trẻ măng nhỏ con được đón vào chỉ đeo lon Trung tá, tôi nghĩ các sĩ quan thường hay thưa cấp trên cao lên một bậc, như các anh gọi Chuẩn tướng bằng Thiếu tướng, tôi hỏi nhỏ Thiếu úy Bùi Xuân Đình:

- Ông Trung tá này ở đơn vị nào vậy ?

- Đại tá Võ Ân, Trung đoàn trưởng 53. Vừa mới được tướng Phú đặc cách mặt trận vài ngày trước.

Vừa thì thầm bên tôi xong, Thiếu úy Đình bước qua rót nước mời anh “Đại tá”. Tôi giật thót người kín đáo liếc nhìn anh Võ Ân, anh rất trẻ, chỉ chừng ba mươi, khuôn mặt vẫn tươi vui tỉnh táo dù đã một tuần liền không ngủ quần thảo với quân giặc. Anh có dáng dấp của một giáo sư hơn là một quân nhân. Nếu không có bộ đồ trận và lon Trung tá trên cổ áo, chắc không ai tin rằng anh là một sĩ quan cao cấp, đang đảm nhiệm một chức vụ quan trọng như thế, và lại càng không thể tin được anh chính là người hùng trận Phụng Dực, vừa đánh bại hai sư đoàn khét tiếng của cộng quân, sư đoàn 320 và sư đoàn 316, tại mặt trận phi trường Phụng Dực.

***************

Quận Phước An đầy lính, có lẽ tôi là người mặc thường phục duy nhất trong chi khu, sự có mặt của tôi trong trại lính là một ân huệ đặc biệt từ Thiếu tá Thọ. Đã mấy hôm trước, khi quận còn yên tĩnh, tôi từ ngã ba Phước An chạy vào chi khu, xin gặp quận trưởng và trình “Thẻ báo chí” do Bộ Dân Vận Chiêu Hồi cấp, để xin một ghế trên trực thăng bay ra khỏi vùng khói lửa.

Thiếu tá quận trưởng thương tình lắm, đề nghị cho tôi một chỗ trên chiếc Chinook vừa chuyển quân Trung đoàn 45 từ Pleiku đến. Chiếc trực thăng hai cánh quạt rời chi khu Phước An không bay thẳng về Nha Trang như phi trình, mà lại đáp xuống gần ngã ba Phước An để đón vài thân nhân, vừa hạ bửng sau, một đoàn người chạy giặc liền tràn lên kín tàu, chiếc Chinook è ạch cố cất cánh khỏi mặt đất, nhưng chỉ nhấc mình lên được chừng vài chục mét lại rớt xuống ngay sát ngã ba, sau cố gắng sửa chữa không thành, phi hành đoàn ôm cặp táp trở lại chi khu, tôi lẽo đẽo lội bộ theo sau.

Thiếu tá Thọ thương tình thằng em hẩm hiu, bèn xếp cho tôi xuống ngủ với các anh thuộc phòng chiến tranh chính trị Sư đoàn 23, ở đó tôi gặp lại các “chiến hữu phe ta”: Thiếu úy Bùi Xuân Đình là chồng của chị Huỳnh Thị Hòa Thơ, xướng ngôn viên làm cùng đài phát thanh, Trung sĩ Lê Kế Chí cũng thuộc phòng Chiến tranh Chính trị Sư đoàn và là đạo trưởng Hướng đạo Daklak…

****************

Có thể nói trong những ngày chiến tranh nổ ra ở miền đất hiền hòa Bụi Mù Trời, tôi là một người may mắn, ít ra là đến lúc này.

Hôm trước khi súng nổ, tuy Chủ nhật ngày nghỉ, tôi nhận lệnh công tác ra phi trường Phụng Dực đón Thiếu tướng Phạm Văn Phú Tư lệnh Quân đoàn 2 Quân khu 2 đến kinh lý BMT, tôi cũng biết tin quận Đức Lập vừa mất buổi sáng, nhưng tới lúc ấy, tôi không hề nghĩ Việt cộng dám đánh BMT, nơi có địa thế trống trải, dân cư sung túc và chống cộng triệt để, bao năm nay vẫn sống yên bình hiền hòa.

Khoảng hơn 2 giờ sáng thứ Hai ngày 10 tháng Ba năm 1975, cả thị xã vang lên tiếng đại pháo của giặc, im được một lát, rồi lại pháo, xen lẫn với tiếng súng nhỏ. Là nhân viên trong ngành phát thanh, càng khi xảy ra biến sự, chúng tôi lại càng có nhiều việc phải làm gấp, tôi dậy sớm hơn thường lệ, đeo chiếc máy thu âm Uher vội vã rảo bước đoạn đường dài đến Đài.

Đài Phát thanh Ban Mê Thuột có hai cơ sở, thượng tầng có nhà máy phát điện và trụ antenna cao 200m tại ngã ba Chi Lăng, và hạ tầng ở số 1 Tự Do, góc đường ngã sáu cột đèn ba ngọn, tôi làm việc ở hạ tầng này. Đi trên đường Quang Trung, vừa băng qua Phan Chu Trinh gần tới hàng rào nhà thờ chính tòa, hai chiếc xe tăng xuất hiện phía Tòa giám mục bắn thẳng một tràng về phía tôi, cố men theo hàng rào xi măng tôi chạy vụt vòng tới Đài phát thanh, các anh Nghĩa quân gác cổng phải vội kéo kẽm gai cho tôi len vào.

Khung cảnh tại Đài thật hoảng loạn, anh Nguyễn Phụng Hải, Giám đốc Đài đang công tác ở Saigon chưa về, chúng tôi như rắn mất đầu, đường dây điện thoại dân sự và quân sự đều hư, phải dùng hệ thống truyền tin nội bộ SSB giữa các Đài Phát thanh liên lạc với Hệ thống Truyền thanh ở Saigon xin lệnh, trong lúc đó, trên làn sóng chỉ phát nhạc quân hành. Mọi người nhốn nháo nghe tiếng súng lúc xa lúc gần, ai cũng muốn tìm đường chạy giặc, nhưng không ai dám bỏ nhiệm sở, và cũng chẳng ai biết nên chạy hướng nào.

Gần trưa, một toán Biệt động quân từ phía trường Trung học Tổng hợp đã xuất hiện ngay cạnh Đài giúp chúng tôi vững tâm, tôi vội ra khu gia đình nhân viên định kiếm chút gì ăn lót dạ. Khu nhân viên này nằm phía sau, có cánh cổng thông qua tư dinh Chuẩn tướng Lê Trung Tường, Tư lệnh sư đoàn 23. Đúng lúc ấy, bà vợ tướng Tường đẩy cánh cổng sắt, nói với qua phía chúng tôi:

- Các em rời khỏi đây liền đi, Việt cộng tới bên Vinh Sơn rồi, đi về phía quân y viện Tăng cường ra cây số ba nghe chưa.

Nói rồi bà quay ngoắt ra sân trước, nơi có hai chiếc thiết giáp bánh hơi đang chờ.

Chúng tôi vội bỏ hết mọi việc, băng qua hàng chè tàu ra đường Hùng Vương, cứ theo sự chỉ dẫn của các anh lính Biệt động quân mang huy hiệu Tiểu đoàn 96, đi qua Hội đồng tỉnh, qua trường trung học Tổng hợp, tới quân y viện Tăng cường nghỉ chân một lát, đến khi nghe tiếng súng nổ vang phía Ty Cảnh sát quốc gia, chúng tôi vội vàng chạy về hướng Thác nhà đèn, rồi băng ngang buôn Kosier ra quốc lộ 21, tới cửa rạp ciné Nguyễn văn Cơ tại cây số ba.

Trời đã về chiều, đoàn người có cả đàn bà con nít đi tìm chỗ trú ngụ qua đêm. Đang phân vân đi loanh quanh, tôi gặp được Đại Úy Nguyễn Ngọc Tuấn Đại đội phó Cảnh sát dã chiến và toán cảnh sát áo rằn ri của anh, anh Tuấn đề nghị chúng tôi đến tá túc đỡ ở chùa Dược Sư, trong lúc tâm hồn bấn loạn và lo sợ, thật không gì bằng đến những nơi thờ phụng, mái chùa quả là chốn dung thân êm đềm nhất. Tối hôm ấy, tôi có được giấc ngủ say ngon lành ngoài trời, trên nền bệ xi măng của tượng đài Quan Âm hình bát giác, dù không mền gối và cả ngày qua chưa có chút gì vào bụng.

Sáng hôm sau, 11 tháng 3, nhớ lời dặn dò của bà Tư lệnh chỉ nói tới cổng số ba, chúng tôi cứ loanh quanh nghỉ chân tại đó, chẳng biết nên chạy đi đâu. Chẳng phải tất cả các quốc lộ xung quanh Ban Mê Thuột đều đã bị cắt đường rồi sao ? Quốc lộ 21 đường về Nha Trang bị giật sập cầu biên giới ở Km88 cả tuần trước, quốc lộ 14 đi Pleiku cũng bị chặn tại Thuần Mẫn, phía tây địch đã chiếm Đức Lập. Đi về hướng nào cũng là đi gần đến vùng địch. Đúng là tiến thoái lưỡng nan !

Vừa lo sợ, vừa chán chường, tôi một mình bước chân đến bên ngôi nhà thờ nhỏ cây số ba. Nhà thờ đóng cửa im ỉm, cha xứ chắc đã đi lánh nạn nơi nào, tôi đứng lặng cầu nguyện bên ngôi giáo đường gỗ cũ kỹ, thả hồn vào lời cầu xin thống thiết.

Bỗng một tiếng nổ kinh hồn vang lên ngay khu nhà dân phía sau nhà thờ, khói đen bốc lên ngùn ngụt, tôi co giò chạy ngược ra đường. Một chiếc xe Jeep từ trong xóm chạy ra, bò lên mặt đường nhựa, tôi vội vàng phóng tới, bám vào sau xe đu mình lên, giọng một người phụ nữ trong xe hối hả:

- Chú vô trong này, coi chừng té.

Tôi rướn người cúi đầu chui vào trong xe, lặng lẽ thu mình vào một góc, toàn những khuôn mặt xa lạ. không biết các anh đồng sự đi chung giờ chạy hướng nào. Chiến tranh ghê gớm quá!

Chiếc xe leo dốc cổng số năm rồi rẽ trái về hướng Phước An. Khi qua cây số mười hai, bên hàng cây cao su thẳng tắp, quân đội đang dàn ra những khẩu đại bác 105 ly, phía sau là vài chiếc xe cam nhông chở đạn.

Đến Phước An thì trời đã về chiều, cả hai bên đường dọc theo quốc lộ là từng đoàn xe dân sự, xe đò có, xe ba lua có, cả xe lam lẫn máy cày rờ moọc, tất cả đều quay đầu về hướng Nha Trang. Khung cảnh nơi đây thật náo nhiệt, người nằm người ngồi đầy cả hai bên đường, họ gọi nhau ơi ới như không hề biết đến chiến tranh là gì. Tôi đi dọc theo đoàn xe, hỏi thăm may ra có tìm được cha mẹ anh em. Trời dần tối, những bếp lửa lập lòe nấu ăn hai bên đường, như những đốm ma trơi gọi hồn dân lành trong cuộc chiến bất nhân và vô nghĩa.

****************

Tiếng Thiếu tá Thọ kéo tôi về thực tại:

- Lệnh cấp trên phải di tản ngay đêm nay. Các anh em chuẩn bị 6 giờ rưỡi lên đường, tôi sẽ đích thân dẫn các anh em theo đường rừng đi tới Khánh Dương. Tới đó sẽ có GMC đưa anh em vào Nha Trang.

Tôi phụ anh Bùi Xuân Đình soạn chiếc ba lô của anh, bỏ lại gạo và những gì không thật cần thiết, chỉ giữ hai gói khoai dẻo và vài bịch gạo sấy ăn đường. Nhìn qua phòng làm việc của quận trưởng, vóc dáng nhỏ con của Đại tá Võ Ân vẫn ngồi bình thản trên salon, toán lính của anh đã đến trước cửa, nhấp ngụm trà nóng, anh đứng bật dậy chào mọi người, chúc bình an rồi thoăn thoắt rời khỏi trại, như coi nơi đây chỉ là trạm dừng chân phút chốc. Tôi thẫn thờ đứng dậy nhìn theo bóng anh thoắt ẩn thoắt hiện giữa đám quân nhân, rồi vụt biến mất nhanh chóng qua một khúc cua. Tiếc mãi chưa được hỏi anh điều gì về diễn biến của trận đánh hào hùng thoáng nghe kể lại.

****************

Cuộc sống sau năm 1975 ở quê nhà nhiều tủi nhục, nhiều ước ao bỏ xứ. Mọi chuyện xưa Ban Mê tưởng chừng đã thành đống tro tàn bay theo gió.

Thật tình cờ, một buổi sáng cuối năm 1990, tôi gặp lại khuôn mặt “quen lắm” của anh Võ Ân ở chợ Trương Minh Giảng Saigon, tôi bạo dạn lại gần chào anh.

- Chào “ông thầy”. ông thầy khỏe không ?

- Cảm ơn, tau cũng khỏe, mi ở 53 ?

- Dạ không, em trước ở Đài phát thanh Ban Mê Thuột, có gặp anh ở chi khu Phước An ngày cuối.

- Vậy à, giờ làm gì ?

- Em nghe nói anh đi “học tập” cũng lâu lắm.

- Ờ ! Mười mấy cuốn, ngoài Bắc.

- Anh bán hàng ở đây ?

- Tau phụ bả mấy phụ tùng xe đạp này nè, ráng qua ngày, chờ đi.

- Anh uống với em ly cà phê !

Trong lúc cởi lòng tâm sự với anh nơi góc quán cóc, máu “nghề nghiệp” trong tôi bỗng nổi lên, tôi liền thỏ thẻ hỏi anh:

- Kỳ đó mà đủ đồ chơi chắc anh chơi tới bến ?

- Thôi chuyện cũ rồi, nhắc chi, đời còn dài …

 ****************

Tôi đến Mỹ năm 1992, định cư ở Denver, thuộc tiểu bang Colorado là vùng cao nguyên nằm giữa nước Mỹ, tuy ở trên cao nguyên, nhưng Denver không có nhiều đồi núi, mà cũng tương đối bằng phẳng, chẳng khác gì cao nguyên Darlac. Vậy là Việt Nam ở Ban Mê, qua đây lại cũng ở Ban Mê nốt. Người Việt định cư ở đây không nhiều, chỉ chừng 10.000, túm tụm vào dọc một khúc đường Federal, nơi có chợ Mê Kông, chợ Thái Bình Dương, văn phòng bác sĩ Trần Văn Điền, nha sĩ Trần Mộng Quỳ, có tiệm vàng Kim Sơn chợ BMT đã di tản qua đây, con gái ông bà Kim Sơn là Bùi Thị Kim Anh cựu học sinh THTHBMT 72-79 cùng chồng Sử Ngọc Minh cũng mở tiệm vàng Kim Anh trong khu Viễn Đông.

Vài tháng sau, anh chị Đình – Thơ từ BMT qua định cư ở đây, đón anh chị từ phi trường về chung cư, chúng tôi họp nhau làm một chương trình Truyền hình tiếng Việt, mỗi tuần phát hình một lần nửa tiếng, làn sóng được đài truyền hình Mỹ tặng không. Người Việt ở đây đang khao khát nghe tiếng Việt, nên truyền tai nhau đón coi dữ lắm, nhờ vậy chúng tôi được nhiều người biết mặt chào hỏi.

Hôm ấy, một anh Việt Nam hàng xóm qua thăm hỏi tôi trước nhà, mời anh vào uống nước mới biết anh là Thiếu tá Võ Phước Lai, Tiểu đoàn trưởng 1/53, mới qua định cư xứ Mỹ. Hỏi thăm về Đại tá Võ Ân, anh cho biết anh Võ Ân cũng đang ở Denver đây, nhưng vừa bị tai biến mạch máu não. Tôi quyết định dịp này phải gặp anh kỳ được, để hỏi về trận đánh để đời của các chiến sĩ Trung đoàn 53, Sư đoàn 23 Bộ binh tại phi trường Phụng Dực.

Nhờ anh Lai làm cuộc hẹn, chúng tôi đến thăm anh Võ Ân trong căn hộ đơn sơ ven thành phố Denver đầy nhà chọc trời. Giữa những đồ đạc cọc cạch của người mới đến định cư, anh cố ngồi dậy, chúng tôi đỡ anh ra salon, anh có vẻ yếu lắm, giọng nói không còn dễ nghe, nhưng mắt anh sáng lên mỗi khi nhắc đến chiến địa năm xưa, những địa danh, những tên tuổi cũ.

****************

Phụng Dực là tên của phi trường chính Ban Mê Thuột, nằm cách thị xã khoảng 7 km, trên đường đi Trung Hòa, Kim Châu, Lạc Thiện. Phi trường được thành lập năm 1951 để có thể tiếp nhận các phi cơ cỡ lớn, với tên gọi phi trường Ban Mê Thuột.

Trước đó, người Pháp đã lập một phi trường với phi đạo ngắn dành cho phi cơ nhỏ, sát bên trung tâm thị xã, nối với cây số ba, phục vụ cho các ông chủ đồn điền và quan chức, được đặt tên là phi trường Lạc Giao, sau này dành cho trực thăng và phi cơ thám thính "máy bay bà già L19", nên thường gọi là phi trường L19.

Thời ấy, cao nguyên rừng rậm có nhiều thú hoang, cọp, voi, tê giác, trâu rừng (min), nai, hoẵng, cá sấu, chim phượng hoàng... còn đầy dẫy, người dân sống quanh phi trường Ban Mê Thuột đều biết hàng đàn chim phượng hoàng mỏ cứng mấy chục con ngày nào cũng quanh quẩn kiếm ăn gần phi trường, chúng dạn dĩ đến nỗi người đến đuổi cũng không sợ, chỉ chao lên mấy bước lại đáp xuống gần đó trên phi đạo.

Năm 1957, Tổng thống Ngô Đình Diệm đến khai mạc hội chợ Ban Mê Thuột, khi máy bay hạ cánh xuống phi trường, ông thấy một đàn chim lớn bay lên. Tổng thống Diệm hỏi chúng là loài chim gì mà to lớn thế,

- Dạ thưa cụ, chim phượng hoàng.

- À, chim phụng, chim phụng bay lên, vậy thì đặt tên phi trường này là "phụng dực"

Phi trường mang tên Phụng Dực là từ đó. 


Phi trường Phụng Dực (Ảnh trên FB Phu Nguyen)

 

Thực ra Trung đoàn 53 mới đến Phụng Dực vào đầu tháng 3 để dưỡng quân sau trận Dak Song dữ dội vùng biên giới Việt - Miên gần Đức Lập. Tại phi trường Phụng Dực luân phiên chỉ có một Tiểu đoàn trấn đóng cùng Bộ chỉ huy Trung đoàn.

Lúc này lực lượng VNCH tại đây có khoảng 700 quân nhân gồm có :

- Bộ chỉ huy Trung đoàn 53, Sư đoàn 23 Bộ binh.

- Tiểu đoàn 1/53.

- Một chi đội Thiết giáp 5 chiếc M113 của Thiết đoàn 8 Kỵ binh.

- Pháo đội B của Tiểu đoàn 232 Pháo binh 6 khẩu 105 ly và 2 khẩu 155 ly.

- Đại đội Trinh sát Sư đoàn 23 BB.

- Hậu cứ Liên đoàn Biệt Động Quân biên phòng.

Căn cứ B50 cạnh phi trường có chu vi hơn một cây số, trước đây là trại Lực lượng Đặc biệt của Mỹ nên công sự được xây cất rất kiên cố, có tất cả 11 hầm chịu đựng được đạn pháo 130 ly, xung quanh xếp bao cát cao làm thành những ụ chiến đấu cá nhân. Ngoài xa là một vòng đai hàng rào kẽm gai nhiều lớp bao bọc.

***************

TRẬN CHIẾN ĐỂ ĐỜI :

- Ngày 10 tháng 3 năm 1975

Vào 6 giờ sáng, một Trung đoàn của Sư đoàn 320 CSVN tấn công vào phi trường Phụng Dực nhưng bị Đại đội Trinh sát Sư đoàn 23 BB mai phục sẵn ở các vị trí thuận lợi khai hỏa bất ngờ khiến cộng quân thiệt hại nặng buộc phải rút lui.

Phát giác việc chọn sai mục tiêu, SĐ 320 CSVN quay lại vào lúc 2 giờ chiều, đánh thẳng vào căn cứ B50 đang do Tiểu đoàn 1/53, Trung đoàn 53 BB trấn giữ. Tiểu đoàn 232 Pháo binh VNCH đóng trên đồi đối diện với căn cứ B50 bèn chong 105 ly bắn trực xạ vào 2 tiểu đoàn CSVN đang phơi trên đồng trống.

Đến 3 giờ 30 chiều cuộc tấn công của Sư đoàn 320 hoàn toàn thất bại, quân CSVN chạy tháo về hướng Tây Nam, đụng phải Đại đội trinh sát thuộc Trung đoàn 45 VNCH đang chờ sẵn tại bìa rừng cao su gần phi đạo đánh cho tan nát. Sau khi chiến trường im tiếng súng, Đại đội Trinh sát đếm được 40 xác, thu nhiều vũ khí, trong đó có 5 hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 còn mới nguyên. Riêng tại căn cứ B.50 các chiến sĩ Tiểu Đoàn 3/53 bắn cháy hai chiến xa T54, đếm được khoảng 150 xác giặc, thu 50 vũ khí. Trung Tá Ân cho con cái đem chiến lợi phẩm vào phòng khách phi trường.

- Ngày 11, 12 và 13 tháng 3,

Thị xã Ban Mê Thuột và Bộ tư lệnh Sư đoàn 23 đã mất vào tay giặc. Nhưng tại phi trường Phụng Dực, "mặt trận miền tây vẫn yên tĩnh". Trung tá Võ Ân báo tin chiến thắng về quân khu, nhất là việc thu được 5 hỏa tiễn SA7 lần đầu tiên xuất hiện trên chiến trường, ông ra lệnh binh lính thu lượm từng viên đạn của địch quân, sắp sẵn để xử dụng khi cần thiết. Ông cũng cho sắp xếp ngăn nắp các chiến lợi phẩm trong phòng khánh tiết phi trường.

Nhân lúc tình hình yên ắng, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 thông báo sẽ đích thân đáp xuống phi trường Phụng Dực dự cuộc triển lãm chiến lợi phẩm, cùng lúc sẽ có Trung đoàn 45 đến tiếp viện để tái chiếm Ban Mê Thuột. Tiếc rằng cuộc chuyển quân cứu viện của Trung đoàn 45 không thành, và ông Tướng đành hủy cuộc thị sát mặt trận như dự định.

Ngày 13 tháng ba, trong lúc bay chiếc phi cơ nhỏ U 17 để trực tiếp điều quân, Thiếu tướng Phạm Văn Phú qua máy truyền tin liên lạc, đã thông báo đặc cách mặt trận cho anh lên Đại tá, vị Đại tá duy nhất của khóa 12 Thủ Đức.

- Ngày 14 tháng 3

Sư Đoàn 316 BV củng cố xong vị trí chiếm được tại thị xã Ban Mê Thuột, bắt đầu dồn quân tấn công vào phi trường Phụng Dực, nhất định dứt điểm tuyến phòng thủ đã tơi tả của Trung đoàn 53, Trung tá Ân ban lệnh cố thủ và chỉ thị cho các binh sĩ tiết kiệm đạn dược, anh ra lệnh cho sử dụng súng đạn thu được của địch để bù vào lượng vũ khí ngày dần cạn kiệt.

Sáu giờ sáng, cộng quân dùng chiến thuật biển người, cứ vừa bắn vừa lúp xúp chạy thẳng vào hàng rào căn cứ, toán trước ngã xuống thì toán sau đạp lên xác tiến vào. Để tiết kiệm số đạn dược ít ỏi còn lại, Trung tá Võ Ân chụp máy gọi ngay pháo binh, cả tám khẩu 155 và 105 ly thi nhau dội vào đội hình của Sư đoàn 316. Sau khi bị thiệt hại nặng vì đạn pháo, các đơn vị CSVN vội vàng quay lại đối diện với căn cứ pháo binh rồi lặng lẽ rút lui.

- Ngày 15 tháng 3

Vào 8 giờ sáng, sau trận tấn công không thành ngày hôm trước, Sư đoàn 316 gom lực lượng còn lại tấn công căn cứ. Lần này bộ chiến tùng thiết ỷ y ra mặt đánh thẳng vào căn cứ giữa ban ngày, Đại tá Võ Ân cùng đồng đội vẫn không nao núng, nhờ vào địa thế trống trải bằng phẳng dễ quan sát, các chiến sĩ Trung đoàn 53 đã dùng B40, B41 thu được của địch hôm trước, chờ xe tăng T54 đến sát hàng rào mới nổ súng, mỗi phát đạn phải nướng đỏ một con cua, cả đàn cua nằm phơi ngay bờ rào căn cứ,

Bên kia, pháo binh chĩa nòng tung đạn cận phòng đầy đinh lên đầu quân thù, đến 10 giờ sáng, 6 khẩu đại bác tại căn cứ pháo binh hết đạn, sau tiếng nổ của viên đạn cuối cùng, chiến trường chỉ còn khói súng, quân cộng không thấy đâu nữa.

- Ngày 17 tháng 3

Từ mờ sáng, hàng ngàn quả pháo đã cày nát mặt đất căn cứ B50, liền sau đó một lực lượng địch quân đông đảo, cùng nhiều chiến xa kéo đến bao vây tấn công, để bằng mọi giá phải nhổ cái gai cuối cùng của Ban Mê Thuột. Đại tá Võ Ân cho kiểm điểm tình hình đạn dược, một số binh sĩ hết đạn, anh ra lệnh cho thu gom súng đạn của địch để cố thủ.

Đến trưa ngày 17-3 thì tình hình trở nên tuyệt vọng, không còn liên lạc được với BTL Sư đoàn của Tướng Lê Trung Tường, cũng không liên lạc được với Quân đoàn 2. Đến khi phi vụ thả dù tiếp tế cuối cùng vì phòng không địch quá rát, đã thả từ rất cao, rơi xa vị trí đến tận hồ Trung tâm thực nghiệm, lương thực nước uống và đạn dược đều đã cạn kiệt, cùng lúc có lệnh trên buộc đơn vị di tản khỏi căn cứ. Những chiến sĩ Trung đoàn 53 đành phân tán trong bóng đêm, bỏ lại sau lưng trận đánh để đời trong lịch sử Ban Mê.

Phu Nguyen.

Để tưởng nhớ hương hồn Đại tá Võ Ân TrĐT/53. 


Huy hiệu Sư đoàn 23 Bộ binh (Ảnh trên FB Phu Nguyen)

 ***

--> Read more..

Thứ Tư, 20 tháng 11, 2019

Chuyện xưa… Chuyện nay

* Chuyện xưa…

Năm 1967, tôi bước vào đời, hiểu theo nghĩa lần đầu tiên kiếm được đồng tiền cho mình. Cái cảm giác vào đời, làm ra tiền thật khó tả và cũng thật khó quên. Món tiền lương kiếm được tôi để dành và “tậu” một chiếc xe Honda SS67 khoảng 36.000 đồng để hàng ngày đi làm!

Cho đến bây giờ, ngồi viết lại vẫn cảm thấy dòng hồi ức cách đây hơn nửa thế kỷ hình như còn y nguyên. Những đồng tiền đầu tiên kiếm được nhờ công sức của chính mình thật nhiều ý nghĩa đối với tuổi 20. Lại còn có xe đi làm và thấy mình chững chạc hơn các bạn đồng trang lứa!

Năm đó, chúng tôi 3 người bạn đồng môn tại trường Trung học Ban Mê Thuột rủ nhau đến trụ sở USAID (United States Aid) để xin làm “thông dịch viên” cho toán nhân viên quân y Hoa Kỳ đến công tác tại Dân y viện Ban Mê Thuột.

Toán quân y có tên MILPHAP (Military Provincial Health Assistance Program) gồm 4 bác sĩ, một số quân nhân trợ y và có cả nhân viên hành chánh. Họ có nhiệm vụ đến dân y viện của tỉnh để hỗ trợ về y tế và chương trình do Cơ quan Viện trợ Hoa Kỳ tài trợ.

Dân y viện Ban Mê Thuột

Ba người bạn đồng môn gồm tôi và hai anh em Nguyễn Đăng Hoàn, Nguyễn Đăng Đĩnh đều là những thanh niên lần đầu tiên bước vào đời với một nghề không ngờ… “thông ngôn”.

Ngoài 3 thông dịch viên là bạn học cùng trường còn có một người nữa tên Duy nhưng anh này chỉ làm việc một thời gian ngắn. Sau không biết vì lý do gì anh đã xin nghỉ. Cuộc đời của chúng tôi gắn bó với nhau suốt hai năm 1967-1968 tại Dân y viện BMT.

Về sau, chúng tôi tạm biệt nhà thương, mỗi người bước vào đời theo mỗi ngã riêng. Hoàn vào không quân, lái C-130; Đĩnh đi Thủ Đức, về dạy tại trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu còn tôi về Trường Sinh ngữ Quân đội.

Nguyễn Đăng Hoàn là một “cây văn nghệ” của trường, anh chơi đàn guitar và cả guitar Hawaii, chúng tôi thường chơi trong ban nhạc nhà trường mỗi khi có văn nghệ. Hiện nay Hoàn định cư tại Hoa Kỳ còn người em, Nguyễn Đăng Đĩnh, sau khi đi học tập về lại chọn cái chết bằng hình thức… tự tử! R.I.P. Đĩnh!

Ba thanh niên bước vào đời làm thông dịch tại Dân y viện BMT
(Hình do Nguyễn Đăng Hoàn cung cấp)

Hồi còn làm ở nhà thương, công việc của chúng tôi là chiếc cầu nối giữa bác sĩ và nhân viên y tế người Mỹ với bệnh nhân người Việt, trong đó có cả người dân tộc thiểu số, hay còn gọi là “người Thượng”.

Thật tình mà nói, chúng tôi đã học hỏi được rất nhiều trong thời gian tại bệnh viện. Dĩ nhiên là ngoài trình độ tiếng Anh ngày được nâng cao còn có cả những kiến thức về y tế được… “học lỏm” từ phía các bác sĩ Mỹ.

Trình độ tiếng Rhadé cũng được bổ xung qua những lần tiếp xúc với bệnh nhân người Thượng. Tôi học được lõm bõm một số tiếng Thượng có liên quan đến việc khám bệnh như “đrọa” (đau), “đrọa cọ” (đau đầu), “đrọa ten” (đau bụng), “sang êadrao” (nhà thương)…

Trong vụ Tết Mậu Thân 1968, tôi còn “dám cả gan” truyền máu cho những người bị thương khi bệnh nhân nhập viện ngày một đông, nhân viên chuyên môn làm không xuể. Nói là “truyền máu” cho oai chứ thật tình tôi chỉ lấy kim chích vào “ven” người bệnh trong lúc cần truyền máu cấp cứu!

Toán “dân sự vụ” có tên là “MILPHAP Team 734” ngoài giờ làm việc tại nhà thương họ đều về ăn ngủ tại khu Bungalow của MACV Vietnam, đó là ba căn nhà gỗ rất đẹp vừa gần bệnh viện lại gần sân vận động BMT. MACV là phái bộ quân sự Mỹ bên cạnh Sư đoàn 23 Bộ binh, thuộc quân lực VNCH.

Bungalow tại BMT

Các bác sĩ người Mỹ đều mang cấp bậc Đại úy, đáng chú ý nhất là Dr Lawrence Climo, phụ trách khu vực Ngoại chẩn, sinh trưởng tại New Haven, Connecticut. Ông vóc người cao lớn, đầu hói, tính tình cởi mở và luôn tỏ ra thân thiện với đám thông dịch viên chúng tôi.

Bác sĩ Lawrence Climo
(hình chụp tại khu Ngoại chẩn, Bệnh viện BMT)

Nói chung, lứa bác sĩ đến BMT chỉ hơn chúng tôi khoảng 6 hay 7 tuổi vì họ vừa tốt nghiệp trường quân y. Năm 1965, Climo bị động viên vào quân đội và hai năm sau ông tình nguyện sang Việt Nam, phục vụ trong đoàn MILPHAP trong 2 năm 1967-1968.

BS Climo trong một chuyến công tác “dân sự vụ”

Người thứ hai mà tôi muốn nói đến là BS Donald Horsburgh chuyên về nội khoa, tốt nghiệp University of Buenos Aires, Argentina, năm 1965. Tình ông rất hiền hòa, nói trôi chảy cả tiếng Anh lẫn tiếng Tây Ban Nha. Horsburgh đối xử với chúng tôi như anh em nhưng đối với bệnh nhân lại rất nghiêm nghị và có phần… “rếch-lô”.

Bác sĩ Donald Horsburgh (hình chụp tại Bungalow BMT)

* Chuyện nay…

Đầu năm 2013 tôi nhận được điện thoại của BS Climo. Rất ngạc nhiên khi ông gọi từ… Sài Gòn. Climo cho biết ông và vợ hiện đang du lịch Việt Nam nhân dịp Tết cổ truyền của người Việt.

Họ bắt đầu chuyến đi từ Hà Nội, rồi Huế, Hội An và cả “chốn xưa” Ban Mê Thuột. Sài Gòn là nơi cuối cùng và Hoàn cho ông số điện thoại của tôi. Ông cho biết ngày hôm sau sẽ rời Việt Nam nên thế nào chúng tôi cũng phải… hội ngộ.

Chúng tôi gặp nhau trong bữa ăn tối kéo dài tưởng chừng như vô tận tại khách sạn. BS Climo và Diane (vợ ông) chào đón tôi như một người thân lâu ngày không gặp. Chúng tôi nói chuyện xưa đến độ nhiều lúc… quên cả ăn! Mà cũng đúng thôi, bây giờ cả ba đều đã lớn tuổi nên chuyện ăn uống đâu còn cần thiết!

 Hình ảnh do BS Climo gửi qua email

Bây giờ tôi mới biết ngoài nghề tay phải là bác sĩ, Climo còn là tác giả của nhiều tác phẩm nghiên cứu tâm sinh lý của con người nhìn từ y học. Tuy nhiên, trong số những tác phẩn khoa học lại có một cuốn dưới dạng hồi ký về những năm tháng làm việc tại Dân y viện Ban Mê Thuột.

Đó là cuốn “The Patient Was Vietcong” (tạm dịch: “Bệnh nhân là VC”). Sách được xuất bản tháng 12 năm 2013, tác giả kể lại thời gian phục vụ trong ngành y tế Việt Nam, từ năm 1966 đến 1967.

“The Patient Was Vietcong”

Với cách nhìn của một bác sĩ chuyên về tâm lý, Climo đã đưa ra những nhận xét “tương đồng” cũng như “tương phản” của người Việt từ hai phía Quốc gia và Cộng sản, trong đó có cả những người dân tộc thiểu số sinh sống tại BMT.

Ngoài những điều tai nghe, mắt thấy được trình bày dưới mắt một nhà khoa học, cuốn sách còn đưa ra những nhận xét về phong tục, tập quán của người Việt. Đặc biệt là những người sống tại cao nguyên BMT, còn có tên “Buồn Muôn Thuở”.

BS Climo những ngày về hưu với chiếc “xà gạt” của người Thượng
(hình chụp tại Hoa Kỳ)

Thêm một bất ngờ thú vị nữa: tôi vừa nhận được lời mời kết bạn trên Facebook của BS Donald Horsburgh. Người “móc nối” chắc chắn là Nguyễn Đăng Hoàn. Thế là một MILPHAP Team “mini” đã được hình thành với các thành viên là những người một thời đã sống và làm việc tại Dân y viện BMT ngày nào.

Trao đổi qua Messenger, chúng tôi nhớ tới đâu viết tới đó, ấy vậy mà cứ viết miên man, tưởng chừng như “vô tận” về những kỷ niệm của một thời đã qua tại xứ Ban Mê. Cũng qua Facebook của BS Horsburgh tôi có dịp nhìn lại một số hình ảnh xa xưa, tất cả bỗng chốc hiện về ngay trước mắt.

BS Donald Horburgh ngày mới ra trường

BS Horsburgh với cái nỏ của người Thượng
(Hình chụp tại Bungalow BMT)

Hai vợ chồng BS Horsburgh ngày về hưu

Người ta thường nói Facebook là mạng “ảo” trên Internet. Nhưng đối với trường hợp của chúng tôi, đây cũng là cầu nối “thật” của những người đã từng sống và làm việc cùng nhau tại một vùng đất xa xôi… cách đây hơn nửa thế kỷ!

Nói một cách thực tế hơn, Facebook tuy “ảo” mà lại… “thật”!

***
--> Read more..

Popular posts