Hiển thị các bài đăng có nhãn Thời quân ngũ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thời quân ngũ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2025

Đồng đội & Đồng nghiệp

Tôi có những người bạn ngày xưa vừa là “đồng đội” (vì khoác chung áo lính) nhưng quan trọng hơn cả là “đồng nghiệp” (vì cùng dạy Anh Văn tại trường Sinh ngữ Quân đội).

Thời buổi này những bạn bè vừa là đồng đội lại còn là đồng nghiệp được gặp lại nhau phải nói là… thật hiếm vì chúng tôi đã bị “tan đàn, xẻ nghé”, lưu lạc 4 phương trời lại thêm tuổi già lọm khọm, chẳng thiết đi đâu!

Ấy thế mà vừa rồi chúng tôi 3 người bạn còn ở lại Sài Gòn đã có một buổi sáng hội ngộ bên ly cà phê thật đầm ấm. Kể từ ngày “tan hàng, cố gắng” 30/4/1975, chúng tôi mới được gặp nhau vào những ngày đầu tiên của tháng 12 năm 2024 dù vẫn mang tiếng là những người còn được hít thở bầu không khí của Việt Nam!

Công đầu phải kể đến là anh Nguyễn Hoàng Quý, người đứng ra tổ chức buổi “gặp gỡ bỏ túi”. Trước đó anh đã liên lạc được với anh Bùi Trọng Kính, để 3 chúng tôi có dịp gặp lại nhau sau nhiều năm “tuyệt tích giang hồ”!

 

Với Nguyễn Hoàng Quý (phải) và Bùi Trọng Kính (trái)

 

Xét về “thâm niên công vụ” thì anh Kính thuộc khoá đàn anh về trường sớm hơn tôi trong khi anh Quý lại là người về sau. Bây giờ thì “đàn anh, đàn em” không còn là rào cản để phân biệt “trước sau” vì chúng tôi chỉ là những “những kẻ đầu bạc” gặp nhau để ôn lại những “ngày xưa thân ái”.

Khi còn ở trường, anh Kính đảm nhận chức vụ “sĩ quan hành chánh”, làm những công việc quản lý khoá sinh theo học tại trường vì cấp bậc của anh tương đối cao nên được miễn nhiệm vụ “tác chiến… trên lớp học”.

Cũng từ anh Kính tôi mới biết Trung tá Chỉ huy trưởng Trịnh Đình Phi đã ra đi như thế nào trong “ngày cuối cùng của cuộc chiến” khi gia đình ông đã di tản từ trước đó vài ngày. Chỉ tiếc một điều anh Kính vẫn ở lại vì “vướng bận thê nhi”. Âu cũng là… cái số! 

 

Bùi Trọng Kính

 

Tôi và anh Quý có nhiều kỷ niệm vì cùng giữ nhiệm vụ “xông pha nơi chiến trường” tại các lớp tiếng Anh dành cho cả ba binh chủng Hải-Lục-Không quân. Quý là một sĩ quan giảng viên trẻ tuổi, hiền lành, tận tuỵ với chức vụ trong lớp học.

Ngoài công việc của một giảng viên, anh hầu như ít tiếp xúc, chuyện trò với các bạn đồng nghiệp. Có thể nói, anh sống nội tâm trong khi tôi có phần ồn ào hơn vì khoá 4/68 chúng tôi có đến 6 sĩ quan được tuyển thẳng từ Thủ Đức về dạy học tại trường.

 

Nguyễn Hoàng Quý

 

Vào những tháng đầu năm 1975, Quý và tôi được biệt phái về Tổng cục Quân huấn thuộc Bộ Tổng tham mưu để tham gia Ban Tu thư & Dịch thuật với công việc chính là dịch các tài liệu và sách có liên quan đến quân đội.

Cũng vì thế, mối quan hệ của chúng tôi trở nên gắn bó hơn thời gian đầu khi mới về trường. Ban Dịch thuật có khoảng hơn 10 giảng viên đều từ trường Sinh ngữ Quân đội biệt phái sang nhưng vẫn mang huy hiệu của trường.

 

Huy hiệu trường Sinh ngữ Quân đội

 

Công việc đầu tiên là chúng tôi được Tổng cục Quân huấn giao nhiệm vụ dịch cuốn “The Prince” của nhà chính trị lừng danh người Ý, Niccolò Machiavelli (1469-1527). Cuốn sách nghiên cứu về các thể chế chính trị ngày xưa và đã được xuất bản rất nhiều lần từ trước và sau năm 1975.

 

Tác phẩm “The Prince: của Niccolò Machiavelli

 

Công việc dịch thuật tương đối nhàn hạ nếu so với việc hàng ngày phải đứng lớp “vật lộn” với khoá sinh ở trường Sinh ngữ Quân đội, đặc biệt là những lớp bắt đầu làm quen với tiếng Anh.

Chúng tôi thường gọi đùa là “đẩy xe bò” khi phải nhận những lớp có trình độ mới bắt đầu, học bộ sách American English Course (ALC) 1.100 hoặc 1.200 dành cho học viên vỡ lòng. ALC do Defense Language Institute (Viện Ngữ học Quốc phòng - DLI) soạn và gửi từ Hoa Kỳ sang Việt Nam.

Tài liệu giảng dạy chính là bộ ALC được đánh sồ từ 1.100 đến 1.400 (vỡ lòng) và 2.100 đến 2.400 (trung cấp). Mỗi lớp chỉ trên dưới 10 học viên và việc dạy vỡ lòng đòi hỏi giảng viên phải đọc làm mẫu để học viên lập lại cho nên luôn luôn phải dùng câu “repeat after me”.

 

Tài liệu giảng dạy “American English Course”

 

Trở lại với những tháng cuối cùng trước khi Sài Gòn sụp đổ. Trong Bộ Tổng tham mưu áp dụng hình thức cấm trại 100% nhưng vì chúng tôi không thuộc quân số cơ hữu của Tổng cục Quân huấn nên vẫn ra vào các nút chặn thoải mái, quân cảnh tại cổng trại không gây khó dễ.

Chúng tôi vẫn ngày hai buổi đi và về khá tự do. Nhà tôi khi đó ở khu Lăng Cha Cả nên cũng gần Bộ Tổng tham mưu, rất tiện đi lại. Nhưng đến ngày 29/4/1975 phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích nên tôi quyết định chở gia đình vào Bệnh viện Sài Gòn cho an toàn.

Bà xã tôi khi đó đang làm việc tại bệnh viện nên chi bằng chạy vào đó để tránh những cuộc pháo kích tiếp theo vào phi trường. Thế là trên chiếc Honda 67 có chở theo 4 con còn nhỏ (đứa nhỏ nhất chưa đầy 1 tuổi) đi từ Lăng Cha Cả đến bệnh viện trên đường Lê Lợi thuộc Quận 1.

Thật không ngờ, đó lại là một kỷ niệm khó quên: sau khi đưa gia đình vào tá túc bệnh viện tôi lại đi thẳng vào Bộ Tổng tham mưu để… ứng chiến với các đồng ngũ. Đó là đêm cuối cùng khoác áo lính để sáng hôm sau khoác bộ đồ dân sự chạy về bệnh viện với gia đình!

Sáng hôm đó, trời mưa lất phất nhưng cũng đủ làm ướt khuôn mặt… dường như có cả những giọt nước mắt dành riêng cho một cuộc “đổi đời” kể từ ngày 30/4/1975!

 

***

--> Read more..

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2024

Trường Sinh ngữ Quân đội

Thời quân ngũ của tôi chỉ gắn bó với một đơn vị duy nhất là Trường Sinh ngữ Quân đội (Armed Forces Language School – AFLS), kể từ đầu năm 1969 cho đến ngày Sài Gòn thất thủ 30/4/1975.

 

Trường Sinh ngữ Quân đội, trụ sở chính trong Bộ Tổng Tham Mưu

 

Sau khi tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức, khoá 4/68, tôi được tuyển thắng về Trường Sinh ngữ Quân đội cùng với 5 bạn đồng khoá. Kỷ niệm đáng nhớ nhất là 2 lần đi tu nghiệp tại Hoa Kỳ.

Đó là các khoá Căn bản Giảng viên Anh ngữ (English Language Instructor, Basic Course), năm 1971, kéo dài 6 tháng, tại Căn cứ Lackland, San Antonio, Texas. Tiếp theo là khoá Tu nghiệp Giảng viên Anh ngữ (English Language Instructor, Refresher Course), năm 1973, cũng tại trường cũ.

 

Huy hiệu Trường Sinh ngữ Quân đội

 

Mục tiêu chính của AFLS là huấn luyện Anh ngữ căn bản cho các khoá sinh thuộc mọi binh chủng, trong đó chủ yếu là Không quân, bao gồm những sinh viên sĩ quan phi hành và hạ sĩ quan hoạt động trong các lãnh vực yểm trợ như radar, không ảnh, cơ khí…

Binh chủng Không quân cũng có trung tâm huấn luyện Anh ngữ riêng của mình nhưng trước nhu cầu “Việt Nam Hoá ChiếnTranh” ngày càng cấp bách nên phải mở rộng các cơ sở đào tạo. Trách nhiệm đó được giao cho Trường Sinh ngữ Quân đội qua việc mở thêm nhiều chi nhánh đào tạo.

Ngoài trụ sở chính tại trại Trần Hưng Đạo, Bộ Tổng tham mưu, dạy Anh văn cho sĩ quan bộ binh và hạ sĩ quan thông dịch viên, trường còn có chi nhánh Đồng Khánh trong Chợ Lớn dành cho hạ sĩ quan & binh sĩ Không quân, chi nhánh Nguyễn Văn Tráng (quận 1) cho sinh viên sĩ quan Không quân, cùng với chi nhánh Royal của Hải quân.

Biến cố đau thương nhất trong lịch sử của trường là tại Chi nhánh số 29 Đồng Khánh (Chợ Lớn): vụ VC đặt chất nổ vào chiều ngày 7/8/1969 khiến 28 giảng viên, 12 học-viên và hơn 60 thường dân đi ngang khu vực bị thương vong…

 

Vụ nổ ngày 7/8/1969 tại chi nhánh số 29 Đồng Khánh

 

Trường đã phải chuyển chi nhánh Đồng Khánh về Tent City trong khu vực phi trường Tân Sơn Nhất để các khoá sinh tiếp tục việc học. Thật đáng tiếc khi chi nhánh trong Chợ Lớn chỉ mới được khai giảng hơn một năm thì đã bị đặt chất nổ phá hoại!

Quan trọng hơn cả là khu Koelper Complex, tại số 8, đường Nguyễn Văn Tráng, trước đó đã từng là trụ sở một cơ-quan của MACV, được chọn là địa điểm chủ yếu để đào tạo Anh ngữ căn bản cho các học viên Không quân phục vụ trong ngành phi hành.

Chi nhánh này còn có tên Nguyễn Văn Tráng được chính thức khai giảng ngày 23/12/1968 với 80 phòng học và phòng Lab (thính thị). Các học viên học tại Chi nhánh Đồng Khánh đã được chuyển về đây sau vụ nổ.

 

Chi nhánh Đồng Khánh sau khi bị đán bom

 

Cũng trong tháng 12/1968 trường cũng nhận thêm trách nhiệm đào tạo Anh ngữ cho các học viên thuộc binh chủng Hải quân tại Chi nhánh Royal. Đây là một cao ốc 8 tầng, trước đây có tên Khách sạn Hoàng Gia (Royal Hotel), nằm gần cuối đại lộ Phan Thanh Giản (nay là đường Điện Biên Phủ), Dakao.

Chi nhánh Royal chính thức bắt đầu hoạt động từ tháng 2/1969. Vấn đề đáng lo ngại cũng vẫn là an ninh của địa điểm đào tạo này. Giống như Chi nhánh Đồng Khánh, Royal nằm trong khu vực dân cư nên rất dễ là mục tiêu của việc đánh bom khủng bố.

Building cao 8 tầng này nằm gần với cầu Phan Thanh Giản dẫn đến Xa lộ Biên Hoà với mật độ lưu thông tấp nập của xe cộ. Công việc canh gác chủ yếu do các khoá sinh Hải Quân tự đảm nhiệm, vào giờ tan học mới có sự tăng cường của Quân cảnh Hải quân Việt Nam.

Cơ quan Quân sự Mỹ cũng gửi thêm vài lính canh nhưng chỉ hoạt động trong phạm vi nội bộ toà nhà, trong khi các giảng viên người Mỹ thuộc Không quân hằng ngày đi dậy vẫn phải kè kè khẩu AR15 để phòng khi có biến!

 

Chi nhánh Royal, đường Phan Thanh Giản

 

Để có thể xác định được trình độ ngoại ngữ của khoá sinh sau thời gian học tập, cuối khoá có những bài test được gọi là ECL (English Comprehensive Level) gồm 120 câu hỏi trắc nghiệm gồm phần “written”"oral" mà câu trả lời chỉ cần chọn a, b, c hoặc d.

Những bài thi này do Viện Ngữ học Quốc phòng Hoa Kỷ (Defense Language Institute) soạn thảo và được chấm bằng máy. Những người đạt được số điểm ấn định cho ngành nghề đã chọn sẽ được đưa vào danh sách những khoá sinh chờ được đi du học để tiếp tục chương trình huấn luyện chuyên môn tại Hoa Kỳ.

Thường thì những học viên chọn ngành phi hành có thể qua khỏi ECL Test một cách tương đối dễ dàng với tỷ lệ từ 65 đến 70% nhưng những khoá sinh khác như cơ khí, radar… sẽ gặp nhiều trở ngại, số người đậu chỉ chiếm khoảng 35 đến 40%. Dĩ nhiên người rớt có thể học tiếp hoặc bị Sĩ quan Liên lạc gửi trả về đơn vị gốc.

Một kỷ lục đáng ghi nhận là kể từ khi được thành lập cho đến tháng 4/1975 trường đã đào tạo Anh văn cho một số lượng hơn 10.000 quân nhân thuộc cả ba binh chủng Hải-Lục-Không quân. Cũng vì thế Cơ quan Quân sự Hoa Kỳ đã đề nghị Văn phòng Tuỳ viên Quân sự tại Việt Nam trao tặng huy chương cho những thành tựu đã đạt được.

 

Một số sĩ quan cơ hữu người Việt tại Trường SNQĐ

 

* Trên trang “Đọc Giải Trí & Kiến Thức & Lịch Sử” xuất hiện video “Trường Sinh Ngữ Quân Đội VNCH” trong đó có đoạn trích từ bài viết “Hồi ức về Trường Sinh ngữ Quân đội”. Các bạn có thể xem video này theo đường link:

https://www.youtube.com/watch?v=8Le4i8jIgEw

 

Toàn cảnh của Trường SNQĐ tại Tân Sơn Nhất… tòa nhà bên phải là các lớp học

 

* Tham khảo thêm:

 

- Bài viết “Hồi ức về Trường Sinh ngữ Quân đội”:

https://chinhhoiuc.blogspot.com/.../hoi-uc-ve-truong-sinh...

 

- Bài viết “Buồn vui dưới mái trường Sinh ngữ Quân đội”:

https://chinhhoiuc.blogspot.com/.../buon-vui-duoi-mai...

 

- Bài viết “Du học… Lắc Lư”:

https://chinhhoiuc.blogspot.com/2012/09/du-hoc-lac-lu.html 


***


Huấn luyện giảng viên người Việt ngay tại trường trong chương trình “Pre-Service Training” trước khi đi học tại Hoa Kỳ



Hình chụp tại Okinawa... những giảng viên trên đường đến Hoa Kỳ học khoá English Instructor, Basic Course, 1971


Chuẩn uý Giảng viên vừa tốt nghiệp khoá 4.68 Thủ Đức



Văn nghệ "cây nhà lá vườn"



Tài liệu giảng dạy American Language Course


Tài liệu giảng dạy English Pronunciation


Tài liệu giảng dạy English Grammar


Bản tin sinh hoạt của Trường SNQĐ nhân kỷ niệm Thập tứ chu niên ngày thành lập 


Thăm viếng và tặng quà cựu giàng viên còn ở lại Việt Nam


"Been There... Done That" với huy hiệu của Viện Ngữ học Hoa Kỳ & Trường SNQĐ


Thiệp Chúc Mừng Năm Mới của Trường SNQĐ


Hình ảnh photoshop của một cựu giảng viên với huy hiệu và dòng chữ Trường SNQĐ


***


--> Read more..

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2020

Cuộc hội ngộ đồng nghiệp… quốc tế


(23/6/2020)

Hai chữ “quốc tế” tôi dùng trong tựa đề bài viết này có phần hơi quá. Còn “đồng nghiệp” thì lại hơi bị… “khiên cưỡng”. Nhưng thôi, cứ tạm dùng cái tít này để kể lại một cuộc hội ngộ kỳ thú giữa 3 người… đồng nghiệp.

Chúng tôi gặp nhau qua sự sắp xếp của Michael Burr. Chắc các bạn còn nhớ, Mike là người Mỹ và cũng là cựu giảng viên Anh ngữ tại trường Sinh ngữ Quân đội. Anh trở lại sống tại Việt Nam mấy năm gần đây chỉ vì yêu thích nhiếp ảnh. Ngoài thời gian săn ảnh tại xứ Việt, anh còn sang Cao Miên (Kampuchia) để thay đổi đề tài và cũng để gia hạn visa.

Mike nhắn tin có một anh bạn từ New York hiện đang ở chơi Sài Gòn cho đến tháng 9. Anh tên Joseph Bellino, cũng có một thời làm công việc “repeat after me”, có nghĩa là dạy tiếng Anh cho khóa sinh Không quân với bộ sách American English Course.

ALC là bộ sách tiếng Anh dùng để huấn luyện quân nhân người Việt chuẩn bị sang Mỹ để học các ngành chuyên môn. Khóa sinh có thể là những quân nhân được tuyển chọn từ cả 3 binh chủng Hải-Lục-Không quân, chúng tôi dùng bộ sách 8 cuốn này, từ vỡ lòng cho đến trung cấp, để dậy tiếng Anh căn bản trước khi họ lên đường qua Hoa Kỳ học về chuyên môn.

Cả hai đều là bạn của tôi trên Facebook nhưng đây là lần đầu tiên tôi gặp Joe “bằng xương, bằng thịt” ngoài đời. Chúng tôi đều là thế hệ “baby-boomer”, sinh ra sau cuộc chiến tranh thế giới thứ nhì, và đã cũng đã từng mặc áo lính dạy học trong thời chiến tranh Việt Nam nên gọi là “đồng nghiệp” chắc cũng không… nói quá!

Chúng tôi nay đã ngoài 70, Mike còn đội chiếc mũ mang dòng chữ “Vietnam Veteran” để đến với cuộc hội ngộ “bỏ túi”. Cả ba đều có những bộ râu bạc, riêng Mike giờ đã có vẻ “lụ khụ”, yếu hơn một năm về trước, tôi phải đưa tay để đỡ khi anh ngồi xuống ghế.

Ấn tượng đầu tiên khi gặp Joe là anh… mất một chiếc răng cửa nên trông rất… ông già! Sau 2 năm ở Việt Nam, anh trở về Căn cứ Không quân Lackland, San Antonio, Texas. Nơi đây có Defense Language Institute mà tôi đã từng học khóa căn bản giảng viên Anh ngữ năm 1971 và 2 năm sau trở lại với khóa tu nghiệp.

Joe tỏ ra rất khoái khi tôi kể lại tên của một số thầy cô như Eagle, Spence, Hernandez... Anh cho biết cô Eagle và thầy Spence đã qua đời và Hernandez vẫn còn sống! Joe sinh ra ở xứ cao bồi Texas nhưng sau chuyển về New York. Anh nói, “cũng may” khi đến Việt Nam vào mùa đại dịch, nơi còn tương đối yên ổn hơn New York, vừa bị dịch Corona là vừa chịu nạn “Black Lives Matter”!

Tuy dậy cùng trường nhưng hồi cuối thập niên 60 chúng tôi chưa hề quen biết nhau chỉ vì Sinh ngữ Quân đội có rất nhiều chi nhánh để đào tạo đủ các binh chủng và kể cả các lớp “trung sĩ thông dịch viên” cho những quân nhân làm việc cạnh MACV trong thời chiến tranh.

Thế là 3 “ông già” ngồi tâm sự về thời còn trẻ theo nghiệp “repeat after me”. Mike đem theo laptop để cho Joe xem lại những tấm hình của thời các khóa sinh Không quân từ Tent City xếp hàng, đi bộ qua trường Sinh ngữ để học Anh văn. Joe nhiều lúc chăm chú nhìn vào bảng tên khóa sinh, anh nói “biết đâu đó là người quen”.

Mãi đến 12 giờ tôi mới xin phép “rút lui” vì… ngồi lâu quá nên thấy mệt. Mike và Joe còn ngồi lại để tiếp tục cuộc hội ngộ các đồng nghiệp. Thế là chỉ còn hai anh Mỹ ngồi trong quán cà phê ở Sài Gòn để ôn lại những kỷ niệm về Việt Nam.

***

Cuộc hội ngộ giữa Sài Gòn

Ba đồng nghiệp dưới một mái trường ngày ấy

Cựu giảng viên Michael Burr

Cựu giảng viên Joseph Bellino

Cuộc hội ngộ giữa hai cựu chiến binh trên đất nước Việt Nam

Joe chăm chú đọc bản tin của AFLS

Bản tin về sinh hoạt của trường Sinh ngữ Quân đội nhân kỷ niệm Thập tứ chu niên ngày thành lập trường

Những kỷ niệm về Việt Nam mà Mike còn giữ được

Đây là bản đồ Saigon-Cholon mà Mike nua tại PX với giá 26 cents!

Mike và Bằng tưởng lục của VNCH và trên đều anh đội chiếc mũ Vietnam Veteran

Bằng tưởng lục  của Bộ quốc phòng VNCH dành cho Mike với chữ ký của Thiếu tường Phan Trọng Chinh, Tổng cục trưởng Tổng cục Quân huấn

Một thoáng nhìn lại những ký ức ngày xưa

Các khóa sinh Không quân VNCH tại trường

Chỉnh lại cặp mắt kính để nhìn cho rõ!

Joe trước hình ảnh Tent City dành cho khóa sinh Không quân ngày nào

Tent City, nơi các khóa sinh Không quân tạm trú trong thời gian học sinh ngữ

Một dịp để nhìn lại các khóa sinh xếp hàng đi bộ từ Tent City qua trường sinh ngữ để học Anh văn

Hình Michael Burr chụp mấy năm trước để thấy thời gian khiến con người thay đổi về vóc dáng, hình hài

***

--> Read more..

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2019

Những cánh thư xưa mang dấu ấn KBC

KBC là chữ viết tắt của "Khu Bưu Chính". Đây là một đơn vị quân bưu, chuyên về nhận và chuyển phát thư từ, điện tín của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Mỗi KBC gồm có 3 chữ cái viết hoa, tiếp theo là 4 con số. KBC của QLVNCH được bắt đầu bằng số: 3, 4, 6 và 7.

KBC mang số nhỏ nhất: KBC 3001 (Tiểu đoàn 51 Pháo Binh). KBC mang số lớn nhất: KBC 7889 (Tiểu đoàn 475 Địa phương quân - Long Xuyên).

KBC của các đơn bị Bộ binh và Không quân không được thiết lập theo nguyên tắc nào cả. Riêng quân chủng Hải quân khi mới thành lập thì tất cả đều mang số 33 đầu và các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến cũng mang số 33 vì TQLC lúc đó thuộc về Hải quân. Cho đến năm 1972-1973 các đơn vị tân lập của Hải quân và TQLC mới mang KBC giống bên Bộ binh.

Thông thường thì một KBC là 1 đơn vị quân đội. Nhưng có khi KBC lại có thêm chữ A hay B như trường hợp Trung tâm huấn luyện Quang Trung KBC 4091. Trung Tâm này được chia làm 2 là Liên Đoàn A và Liên Đoàn B. Bởi vậy, Quang Trung có 3 KBC: KBC 4091 là Bộ chỉ huy trung tâm, KBC 4091/A là Liên đoàn A và KBC 4091/B là Liên đoàn B.

Lại có trường hợp như Nha Quân Pháp (trực thuộc Bộ quốc Phòng), KBC 4386. Còn KBC 4386/A lại là Toà án Quân sự Sài Gòn. Cả 2 KBC trên đều ở cùng 1 doanh trại tại số 3A Bến Bạch Đằng, Quận 1 (sát cạnh với Phủ đặc ủy Trung ương Tình báo).

KBC 4002 là Bộ tổng tham mưu/QLVNCH. Nhưng Bộ chỉ huy Quân Cảnh cũng nằm trong cùng doanh trại với Bộ TTM nên mang KBC 4002/QC một thời gian dài. Sau mới được cấp KBC riêng là KBC 4258.

Lại có trường hợp thường thấy ở các đơn vị tác chiến lưu động. Thí dụ, Tiểu đoàn 1 TQLC, KBC 3333. Tiểu đoàn đang đi ‘’hành quân’’ thì trên bì thư được ghi là KBC 3333/HQ.

Sau đây là KBC của một số Tiểu đoàn trừ bị nổi tiếng của QLVNCH. Các Tiểu đoàn Nhảy Dù có:

– Tiểu đoàn 1 Nhảy Dù KBC 4563
– Tiểu đoàn 2 Nhảy Dù KBC 4247
– Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù KBC 4794
– Tiểu đoản 4 Nhảy Dù (không thành lập)
– Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù KBC 4709
– Tiểu đoàn 6 Nhảu Dù KBC 4143
– Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù KBC 4919
– Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù KBC 3119
– Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù KBC 4804
– Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù KBC 3727

Các Tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến có:

– Bộ tư lệnh TQLC KBC 3331
– Tiểu đoàn 1 TQLC KBC 3333
– Tiểu đoàn 2 TQLC KBC 3335
– Tiểu đoàn 3 TQLC KBC 3337
– Tiểu đoàn 4 TQLC KBC 3339
– Tiểu đoàn 5 TQLC KBC 3357
– Tiểu đoàn 6 TQLC KBC 3300
– Tiểu đoàn 7 TQLC KBC 3340
– Tiểu đoàn 8 TQLC KBC 6618
– Tiểu đoàn 9 TQLC KBC 6626

Về binh chủng Biệt Động Quân ngoài các đơn vị BĐQ biên phòng thì còn lại cũng là những Tiểu đoàn trừ bị. Sau này các đơn vị BĐQ biên phòng đổi thành Tiểu đoàn. BĐQ gồm có 17 Liên đoàn, mỗi liên đoàn có 3 Tiểu đoàn. Như vậy binh chủng BĐQ có trên 50 Tiểu đoàn. Sau đây là KBC của một số đơn vị BĐQ:

– Bộ chỉ huy BĐQ KBC 4205
– Tiểu đoàn 33 BĐQ KBC 3446 Sài Gòn
– Tiểu đoàn 32 BĐQ KBC 3447 Phong Dinh
– Tiểu đoàn 51 BĐQ KBC 3505 Sài Gòn
– Tiểu đoàn 52 BĐQ KBC 3506 Biên Hòa
– Tiểu đoàn 37 BĐQ KBC 3507 Đà Nẵng
– Tiểu đoàn 38 BĐQ KBC 3508 Sài Gòn
– Tiểu đoàn 39 BĐQ KBC 3509 Đà Nẵng
– Tiểu đoàn 43 BĐQ KBC 3516 Vĩnh Long
– Tiểu đoàn 44 BĐQ KBC 3517 Cần Thơ
– Tiểu đoàn 34 BĐQ KBC 4013 Sài Gòn
– Tiểu đơàn 31 BĐQ KBC 4272 Biên Hòa
– Tiểu đoàn 35 BĐQ KBC 4400 Biên Hòa
– Tiểu đoàn 36 BĐQ KBC 4454 Biên Hòa
– Tiểu đoàn 42 BĐQ KBC 4533 Cần Thơ
– Tiểu đoàn 60 BĐQ KBC 7508 Đà Nẵng
– Tiểu đoàn 61 BĐQ KBC 7509 Đà Nẵng
– Tiểu đoàn 62 BĐQ KBC 7510 Kontum
– Tiểu đoàn 63 BĐQ KBC 7511 Pleiku
– Tiểu đoàn 64 BĐQ KBC 7512 Hậu Nghĩa
– Tiểu đoàn 65 BĐQ KBC 7513 Tây Ninh
– Tiểu đơàn 85 BĐQ KBC 7553 Chi Lăng
– Tiểu đoàn 86 BĐQ KBC 7554 Kiến Tường
– Tiểu đoàn 88 BĐQ KBC 7560 Kontum
– Tiểu đoàn 89 BĐQ KBC 7561 Quảng Đức
– Tiểu đoàn 90 BĐQ KBC 7562 Kontum
– Tiểu đoàn 91 BĐQ KBC 7563 Tây Ninh
– Tiểu đoàn 92 BĐQ KBC 7564 Phước Long

Ngoài các binh chủng trên còn có các đơn vị khác, tuy cùng màu áo nhưng là các đơn vị không trực tiếp tác chiến như tiếp vận, hành chánh, yểm trợ, pháo binh, quân y… Hoặc cấp cao hơn Tiểu đoàn là Liên đoàn, Lữ đoàn hay Chiến đoàn… tất cả đều có KBC riêng.

Dưới đây là một số KBC của binh chủng Hải Quân:

– Bộ tư lệnh Hải Quân KBC 3317
– Bộ tư lệnh hạm đội KBC 3328
– Trung tâm Huấn luyện HQ Nha Trang KBC 3318
– Trung tâm Huấn luyện HQ Cam Ranh KBC 3319
– Giang đoàn 25 Xung phong KBC 3303 Cần Thơ
– Giang đoàn 28 Xung phong KBC 3305 Long Xuyên
– Giang đoàn 21 Xung phong KBC 3321 Mỹ Tho
– Giang đoàn 51 Tuần thám KBC 3332 Cát Lái

Tại Quân khu 3 và Biệt khu thủ đô nếu thanh niên nhập ngũ thường được tập trung ở Trung tâm 3 Tuyển mộ và Nhập ngũ (Quang Trung) KBC 4113. Đài phát thanh quân đội được mang KBC 3168. Các quân nhân chuẩn bị du học, đa số là quân nhân của quân chủng Không quân và Hải quân thì hầu hết phải qua cánh cổng của Trường Sinh ngữ Quân đội ở Gò Vấp, KBC 3095.

Sau đây là KBC của một số trường và trung tân huấn luyện:

– Trung tâm huấn luyện Quang Trung KBC 4091
– Trường Bộ Binh Thủ Đức KBC 4100
– Trường Võ bị Đà Lạt KBC 4027
– Trường Hạ sĩ quan Đồng Đế (Nha Trang) KBC 4311
– Trường Quân cảnh (Vũng Tàu) KBC 3042
– Trung tâm Huấn luyện Vạn Kiếp (Bà Rịa) KBC 4432
– Trường Quân khuyển (Gò Vấp) KBC 4941
– Trung tâm Huấn luyện Lam Sơn (Dục Mỹ) KBC 4926
– Trường Thiếu sinh quân (Vũng Tàu) KBC 4437

Các quân nhân thuộc Quân khu 3 và Biệt khu Thủ đô được biệt phái ngoại ngạch (như các công chức, giáo sư, chuyên viên…) hoặc chờ thuyên chuyển sau khi xuất viện (bị thương, bệnh…) hoặc chở giải ngũ thì quân số thuộc về Trung tâm Quản trị Trung ương KBC 4204.


Sau đây là một số KBC của quân chủng Không quân:

– Bộ tư lệnh Không quân KBC 3011 (Tân Sơn Nhứt)
– Đại đội Tổng hành dinh Không quân KBC 3009 (Tân Sơn Nhứt)
– Sư đoàn 1 Không quân KBC 3198 (Đà Nẵng)
– Sư đoàn 2 Không quân KBC 3126 (Nha Trang)
– Sư đoàn 3 Không Quân KBC 3004 (Biên Hòa)
– Sư đoàn 4 Không quân KBC 4652 (Phong Dinh)
– Sư đoàn 5 Không quân KBC 4324 (Tân Sơn Nhứt)
– Sư đoàn 6 Không quân KBC 3533 (Phù Cát)

***

Chỉ cần 3 chữ KBC mọi người sẽ có một nhịp cầu nối giữa quân nhân và người thân. Việc gửi thư của lính cũng hưởng nhiều ưu đãi của Bưu Điện, như cước phí gửi thư chỉ bằng phân nửa giá gửi thư thường của dân sự.

Quân đội cũng phát hành một số tem đặc biệt dành cho quân nhân, những con tem này không có giá tiền trên tem nhưng có giá trị gửi một lá thư đi. Ngoài ra, quân đội còn in thêm một số bao thư in sẵn tem trên đó để tiện lợi cho các chiến sĩ đang hành quân. Bao thư và tem được phát miễn phí cho các quân nhân hay gia đình của họ.

Những ai yêu thích nhạc vàng của VNCH một thời xưa cũ hẳn không lạ gì bài hát "Viết từ KBC", sáng tác bởi Hoàng Minh và Mạc Phong Linh:

"Từ KBC giá lạnh rừng sâu,
Anh gởi lời thăm người em yêu dấu
Qua bao ngày chúng mình xa nhau,
Chắc em để phấn son nhạt màu
Và buồn trong cả giấc chiêm bao...."

***






























***

--> Read more..

Popular posts