Hiển thị các bài đăng có nhãn Thời thanh niên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thời thanh niên. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 17 tháng 12, 2018

Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh: Nghiệp Bay, Nghiệp Văn và Nghiệp Giáo


“Những người Việt ở thế hệ của tôi đã trải qua nhiều biến chuyển của đất nước nên ai cũng có nhiều thay đổi trong đời sống. Với tôi, lúc nào tôi cũng nghĩ mình xuất thân là một quân nhân trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vì tôi đã có mười bốn năm trong quân ngũ….

“Với những người ngoại quốc mà tôi thường tiếp xúc ở khắp năm châu, họ biết đến tôi là một giáo sư môn khoa học hàng không và không gian tại đại học Michigan. Đó cũng là chức vụ vĩnh viễn khi tôi được đại học này phong tặng khi mãn nhiệm giáo dục vào năm 1999.”

Đại tá Nguyễn Xuân Vinh

***

“Trong nền văn học thế giới, kể cả Việt Nam, có những tác phẩm mà người đọc, sau khi bỏ sách xuống đã bâng khuâng tự hỏi phải chăng đây là việc thật xảy ra với những người thật. Đọc Les Miserables của Victor Hugo người ta như sống với những nhân vật trong truyện. Trong những tác phẩm thật chọn lọc của Tự Lực Văn Đoàn, khi đọc Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng ta cũng có thể nghĩ chú tiểu Lan là mẫu người có thực.

“Theo tôi nghĩ thì nhà văn khi tạo dựng một tác phẩm, nếu tả đúng tâm lý của những nhân vật trong truyện và trong một khung cảnh hiện thực thì đó là bí quyết để thành công khi viết sách để cho người đọc như đang theo dõi một câu chuyện đời có thực. Trường hợp tôi viết “Đời phi công” cũng như vậy, tôi cố tạo ra những hình ảnh đẹp là mẫu mực của thanh niên ở thế hệ tôi. Nhiều thanh niên học sinh đọc sách đã thầm ước mình là người trong truyện.”

Nhà văn Toàn Phong

***

Hai trích dẫn ở trên đều là phát ngôn từ một người: Đại tá Nguyễn Xuân Vinh và nhà văn Toàn Phong (1).

Sự nghiệp trong quân đội của ông chỉ kéo dài 14 năm, năm 1951 ông nhập ngũ khóa 1 Sĩ quan Trừ bị Nam Định và ra trường với cấp bậc chuẩn úy. Cuối năm 1951, ông chuyển sang Không quân và đi du học tại Học viện Không quân ở Salon-de-Provence, Pháp. Đầu năm 1954, ông tốt nghiệp với bằng phi công 2 động cơ cùng với “thẻ trắng” (carte blanche) để bay trong sương mù theo đúng tiêu chuẩn của Không Quân Pháp.

Suốt 14 năm trong quân ngũ, ông đã từng giữ chức vụ Tham mưu trưởng Không quân (1957) với cấp bậc Trung tá và sau đó là Tư lệnh Không quân với cấp bậc Đại tá năm 1958. Khi hai sĩ quan phi công là Phạm Phú Quốc và Nguyễn văn Cử điều khiển 2 chiếc khu trục cơ thả bom Dinh Độc lập năm 1962, ông bị liên đới trách nhiệm. Hậu quả là Tổng thống Ngô Đình Diệm cách chức Tư lệnh Không quân của ông.


Đối với một quân nhân bình thường, 14 năm trong quân ngũ và giải ngũ với cấp bậc đại tá quả là một câu chuyện đáng để hãnh diện. Tuy nhiên, đối với ông Nguyễn Xuân Vinh, đó chỉ là giai đoạn đầu của một cuộc đời hoạt động không ngừng nghỉ.

Ông đã chuyển từ binh nghiệp sang sự nghiệp khoa học khi bước vào tuổi 32 tại Hoa Kỳ với những thành tích mang tầm vóc quốc tế. Năm 1965, ông là người đầu tiên được cấp bằng Tiến sĩ về Khoa học Không gian tại Đại học Colorado. Ba năm sau, ông được làm Giảng sư (Associate Professor) tại Đại học Michigan. Năm 1972, ông được phong Giáo sư (Professor) tại Viện Đại học Michigan. Cũng trong năm này ông lấy tiếp bằng Tiến sĩ Quốc gia toán học tại Đại học Sorbonne, Paris, Pháp.

Duyệt toán dàn chào danh dự tại March AFB, California (1960)

Năm 1982, ông là Giáo sư (Chair Professor) của ngành Toán ứng dụng tại Đại học Quốc gia Thanh Hoa (National Tsing Hua University), Đài Loan. Hai năm sau, Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh là người Hoa Kỳ thứ ba (và cũng là người Châu Á đầu tiên) được bầu vào Viện Hàn lâm Quốc gia Hàng không và Không gian Pháp (Académie Nationale de l'Air et de l'Espace). Đến năm 1986, ông trở thành Viện sĩ chính thức của Viện Hàn lâm Không gian Quốc tế (International Academy of Astronautics).

Yết kiến Tổng thống Tưởng Giới Thạch tại Đài Loan (1961)

Năm 1999, ông nghỉ hưu và được Hội đồng Quản trị (Board of Regents) tại Đại học Michigan phong tặng chức Giáo sư Danh dự ngành Kỹ thuật Không gian (Professor Emeritus of Aerospace Engineering) vì công lao đóng góp cho khoa học và giáo dục. Quả là một sự nghiệp lẫy lừng cả về binh nghiệp lẫn giáo dục của một con người “đa năng, đa hiệu”.

Tiếp đón Phó Tổng Thống Lyndon B. Johnson tại Việt Nam (1961)

Tôi có một bà cô họ, bút danh Hương Kiều Loan, đã có bài phỏng vấn giáo sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, đăng trên báo Hồn Quê tại Hoa Kỳ, tháng 12 năm 2001. Theo tôi, bài phỏng vấn này sẽ giúp người đọc hiểu rõ hơn về ông. Bài “Phỏng vấn Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh” của Hương Kiều Loan (HKL) mở đầu bằng câu hỏi:

“Mới đây HKL được coi một CD Rom nói về giáo sư của Hội Khuyến Học ở Saint Louis trong đó có nói là giáo sư mang nặng ba nghiệp dĩ là Nghiệp Bay, Nghiệp Văn và Nghiệp Giáo. Vậy HKL xin bắt đầu hỏi là vì sao mà giáo sư lại chọn vào Không quân để vương lấy nghiệp bay?”   

Ông cho biết mình thuộc lớp sinh viên đại học, được gọi động viên năm 1951 để theo học Khoá I, những Trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định và Thủ Đức. Lúc đó ông đã học phần đầu của văn bằng cử nhân toán học và ước nguyện của ông là trở thành một nhà toán học vì Việt Nam có rất ít người trong ngành này. Lúc sắp ra trường ở Thủ Đức và biết là sẽ phải ở trong quân đội một thời gian vô định nên ông xin thi kỳ tuyển sinh viên theo học Trường Sĩ Quan Không Quân ở Salon de Provence bên Pháp để có dịp ra nước ngoài học hỏi thêm.

Trong suốt 3 năm ở Pháp và Maroc (1952-1955) ngoài việc được đào tạo như một phi công, ông đã hoàn tất chương trình cử nhân toán ở Đại học Marseille và cũng có thêm văn bằng cao học để chuẩn bị thi tiến sĩ toán học. Ông giải thích:

“Như tất cả những người cùng lứa tuổi, chúng tôi lớn lên ở trong thời loạn và sự học luôn luôn bị gián đoạn, không thể nào xếp đặt chương trình theo như ý của mình. Khi tôi thi xong chứng chỉ cao học về Hình học Cao cấp ở Đại Học Marseille là nơi gần Trường Không Quân ở Salon de Provence thì tôi được gửi đi Avord, thuộc hạt Cher, để hoàn tất phần phi huấn. Nơi đây chỉ cách Paris có hai giờ đi xe lửa nên tôi xin chuyển hồ sơ về Đại Học Paris để ghi danh học chương trình Tiến sĩ Quốc gia Toán học. Lúc đó là vào năm 1954. Năm sau đó tôi học xong chương trình sĩ quan phi công và phải trở về Việt Nam để phục vụ trong quân đội quốc gia. Phải đợi cho đến năm 1972 tôi mới có dịp trở lại Đại Học Paris để nộp luận án tiến sĩ quốc gia về môn toán học”.  

Thăm Bộ Tư lệnh Không quân Hoa Kỳ Thái Bình Dương ở Honolulu (1962)

Khi HKL hỏi về “nghiệp văn” với tác phẩm “Đời phi công” (2) đã một thời làm say mê những người trẻ, cả trai lẫn gái… nhà văn Toàn Phong tâm sự:

“Đời phi công” là một tuyển tập những bức thư của một phi công viết cho một thiếu nữ còn đang là sinh viên ở đại học để kể cho nàng nghe cuộc đời của những người hàng ngày bay trên gió mây trời. Tôi bắt đầu viết vào năm 1959 và đăng mỗi tuần một kỳ, vào ngày thứ Hai, trên báo Tự Do là một nhật báo có nhiều độc giả trên toàn quốc. GS Văn Khoa Phạm Việt Tuyền là chủ nhiệm.

“Giới trẻ thời đó hay đón đọc vì ai có một chút mơ mộng cũng có thể tưởng tượng được rằng nếu sau này trở thành phi công thì mình cũng có thể là người viết những bức thư tâm tình đầy thi vị như thế này.

(hết trích)

Tác phẩm “Đời phi công”

“Đời phi công” nhận được Giải thưởng Văn chương Toàn quốc năm 1961. Vào đầu thập niên 60, đó là hiện tượng đặc biệt trong văn học khi một nhà văn trẻ như Toàn Phong được giải thưởng văn chương bên cạnh những nhà văn đàn anh đã thành danh từ nhiều năm trước như Vũ Khắc Khoan và Võ Phiến.

Ngôn ngữ trong “Đời phi công” là một thứ ngôn ngữ gợi hình một cách lãng mạn. Ánh mắt của cô Phượng “trông như ánh pha-lê”, hành trình của người con trai thời chiến như “một chiếc lá vàng đã trót được thả trên giòng đời”, phi công được thi vị hóa như những “tráng sĩ” hay “hiệp sĩ không trung”…

Tác giả còn gọi những bức thư cho người yêu là “giòng lá thắm”. Ngay ở Chương đầu mang tên “Đường đời muôn vạn nẻo”, người trai thời loạn trong “giòng lá thắm” đầu tiên đã viết:

“Phượng,

“Viết thư này anh đã ở xa em muôn vạn trùng dương. Anh mỉm cười khi đặt bút vì nghĩ rằng em vẫn thường chê cái tính thích giang hồ vặt của anh. Lần này thì anh đi hẳn, đi thật xa cho đến khi nào công thành anh mới trở về.

“Anh rời Sàigòn một sáng tinh sương, trời còn hơi mờ mờ tối. Vào dạo này Sài thành hay mưa, nước đêm hôm trước còn đọng từng vũng trên đường. Chiếc xe ca chở anh tới Tân Sơn Nhất chạy quanh co qua những phố vắng. Thỉnh thoảng một chiếc xích lô máy kêu ầm ĩ chạy ngược lại, hai ngọn đèn pha yếu ớt ánh vàng như những cặp mắt ngái ngủ, sau một đêm thức nhiều mệt nhọc. Tuy vậy tâm hồn anh thấy vô cùng sảng khoái, anh không thấy náo nức hớn hở như những khi sắp được đi xa của một thời thơ dại vì những ngày qua đã làm anh trở nên trầm tĩnh hơn.

“Bốn chiếc động cơ mở hết tốc lực của chiếc phi cơ cất cánh đã làm anh trong giây phút luyến tiếc quê hương, nhớ đến những người thân tình. Anh thấy nhớ Sàigòn quá, nhớ hơn cả Hà Nội. Có lẽ tại Sàigòn đã cho anh nếm hết tất cả mùi vị cay đắng của cuộc đời. Rồi anh nghĩ đến em, đến Hà Nội. Lúc này chắc em đã bắt đầu sửa soạn đi học.

(hết trích)

Cất cánh từ Sài Gòn, máy bay lần lượt ghé các thành phố Calcutta, Karachi, Beirut, La Mã và cuối cùng hạ cánh ở Ba Lê. Toàn Phong viết cho Phượng:

“Anh tới kinh thành ánh sáng một buổi chiều mùa thu lá vàng rơi đầy đường sau khi đã lênh đênh trên mây trời hơn 30 tiếng đồng hồ. Chắc em không thể tưởng tượng được rằng rồi đây cuộc đời của anh sẽ lênh đênh như thế mãi.

“Lúc anh bước chân xuống Karachi để máy bay lấy xăng, người phi công thuyền trưởng lại gần anh xin lửa châm thuốc hút có hỏi:
 -- Tôi xem phiếu lý lịch hành khách thấy đề tên ông sang Pháp học lái máy bay?

“Anh gật đầu, người ấy nói tiếp:
-- Rồi ông sẽ thấy bay là một cái nghiệp. Mắc vào rồi nó sẽ vướng lấy mãi.

“Câu nói ấy làm anh trầm ngâm suy nghĩ. Máy bay cất cánh ở Karachi vào 9 giờ đêm để tới Beyrouth vào mờ sáng. Anh ngồi trong ghế dựa lắng nghe phi cơ từ từ lên cao chìm trong đêm tối. Qua khung kính bên cạnh muôn vàn vì sao lấp lánh làm anh có cảm tưởng rằng mình đang tan dần trong vũ trụ mờ ảo.

(hết trích)

Nhà văn Hương Kiều Loan (Hình chụp tại Đà Lạt, 1965)

Ông anh lớn của tôi cũng là một trong những thanh niên “bị mê hoặc” vì tác phẩm “Đời phi công” (3). Học hết tú tài anh gia nhập Không quân chứ không muốn là sinh viên trên giảng đường. Chỉ tiếc một điều, ngày đó thi tuyển vào ngành phi hành rất nghiêm ngặt, anh tuy cao lớn như một lực sĩ, sức khỏe có thừa nhưng lại trượt khi khám mắt nên đành phải theo ngành “không phi hành”. Quanh năm suốt tháng chỉ quanh quẩn ở phi trường bên những chiếc máy radar theo dõi bạn bè “tung mây lướt gió” qua… màn ảnh nhỏ!

Đến lứa chúng tôi, nhiều bạn học đã vào Không quân từ cuối thập niên 60. Bạn chọn nghiệp bay sớm nhất lái Skyraider, kế tiếp có người lái C-47, A-37 sau này, khi chiến tranh leo thang, đa số lái trực thăng.

“Đời phi công” và Cô Phượng

Phi công vốn nổi tiếng “hào hoa” nhưng tôi nghĩ “Đời phi công” của nhà văn Toàn Phong, không ít thì nhiều, có những tác động đến lý tưởng của thế hệ trẻ thời đó. Thế cho nên, Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh đã từng là “thần tượng” của lớp thanh niên thời chiến.

Cuộc đời của ông gắn liền với 3 cái “nghiệp”: Nghiệp Bay, Nghiệp Văn và Nghiệp Giáo. Điều quan trọng hơn cả là “nghiệp” nào cũng bay cao, bay xa và bay mãi trong lòng người hâm mộ.


***

Chú thích:

(1) Đọc “Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Lính tráng (2)” tại

(2) Đọc “Đời phi công” trên bản PDF tại https://ongvove.files.wordpress.com/2015/09/doiphicong.pdf

(3) Đọc “Hồi ức về một người thân” tại

***

--> Read more..

Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2012

Đà Lạt sương mù: Năm tháng ngao du

Thời thanh niên của tôi được tính từ khi rời Ban Mê Thuột (BMT) năm 1964. Trường trung học BMT chỉ có tới lớp Đệ Nhị và khi thi phải về Nha Trang nên sau khi đậu tú tài, tôi lại quay về trường Trần Hưng Đạo, Đà Lạt.

Một lần nữa, Đà Lạt lại gắn bó với cuộc đời tôi, nhưng lần này là thời thanh niên chứ không còn là thời niên thiếu. Điểm đặc biệt nữa là lần này về Đà Lạt tôi ở trọ tại 79 Võ Tánh, đây là con đường có rất nhiều nhà trọ cho sinh viên, học sinh vì ở rất gần Viện Đại học Đà Lạt, trường Bùi Thị Xuân và trường Bồ Đề.

Đà Lạt sương mù

Căn nhà của gia đình trên đường Phạm Hồng Thái ngày nào nay giao cho gia đình bác Chánh trông coi. Hơn nữa, ở vào tuổi thanh niên thích sống tự do nên tôi trọ học ngoài phố chứ không về ở ngôi nhà gần Trại Hầm. Cùng về Đà Lạt với tôi còn có 3 người bạn học từ BMT gồm Vĩnh Anh, Nguyễn Mạnh Dũng và Trần Hen.

Vĩnh Anh và tôi vốn có ‘máu văn nghệ’ nên rất hợp nhau. Vĩnh Anh trong thời gian còn đi học đã là tay trống trong một ban nhạc ở các phòng trà trên BMT. Có rủng rỉnh tiền Vĩnh Anh thỉnh thoảng mua đĩa hát 45 tours để hai đứa cùng nghe Francois Hardy, Sylvie Vartan... đôi khi cũng mua sách về đọc chung.

Vĩnh Anh gắn bó với gia đình tôi như một thành viên đến độ gọi bố mẹ tôi là Cậu, Mợ. Bố mẹ tôi cũng rất qúy người bạn thân của con nên thường giữ Vĩnh Anh ở lại ăn cơm khi nhà còn ở đường Lý Thường Kiệt, gần góc đường Ama Trang Long, BMT.

Sống xa nhà, hoàn toàn tự do trên Đà Lạt nên 4 đứa chúng tôi – Nguyễn Mạnh Dũng, Vĩnh Anh, Trần Hen và tôi – chỉ lấy việc vui chơi là chính còn chuyện học hành chỉ là… phụ! Bây giờ ngồi nghĩ lại thời gian rong chơi trên Đà Lạt có lẽ là giai đoạn ‘vàng son’ nhất trong lứa tuổi chớm vào đời của tôi. 

Chợ Đà Lạt (1961)

Ở Đà Lạt, tôi quen với Lê Thị Tuyết Lan, nhà ở cuối dốc Võ Tánh, phía gần hồ Xuân Hương. Tuyết Lan là em của Lộc mà sau này nổi tiếng qua cặp song ca Lê Uyên Phương tại Sài Gòn, một phiên bản của Sonny & Cher của Mỹ vào thời 60-70.

Tuyết Lan vóc người cao ráo, tóc dài, má lúc nào cũng hây hây hồng, một điển hình của các cô gái Đà Lạt. Tuyết Lan chưa phải là người tình vì hai chúng tôi đối xử với nhau như những người bạn thân thiết dù có hai đứa có lần đi chơi trên Vallé d’Amour, Thung lũng tình yêu.

Trên thung lũng vắng lặng, chúng tôi hồn nhiên hái doa dại, đuổi bắt nhau và rồi nằm bên nhau ngắm bầu trời xanh lơ của Đà Lạt, chuyện trò vu vơ. Thế nhưng, chúng tôi chưa bao giờ nói chuyện yêu đương, chỉ biết mỗi khi bên nhau cảm thấy thoải mái, dễ chịu. Bảo thế là tình yêu thì quá sớm, chắc chỉ ở mức trên tình bạn.

Hồ Xuân Hương trong sương mù

Có những buổi tối bọn con trai nhà trọ chúng tôi chở nhau trên những chiếc xe gắn máy Puchs, Gobel chạy vòng vòng quanh khu Hòa Bình. Hoàn toàn không có chuyện đua xe, bão đêm như một số thanh niên bây giờ. Có hôm cao hứng chạy một vòng hồ Xuân Hương chỉ vì cá nhau quanh hồ có tất cả bao nhiêu cột đèn!

Có những đêm chúng tôi thả bộ, xuôi dốc Võ Tánh để lang thang ngoài phố. Khuya đói bụng mua bắp nướng trét hành mỡ, mỗi đứa gậm một cái, nhai từ từ mới thấy vị ngọt của bắp vườn mới bẻ. Đậu phụng hay hạt dẻ rang cũng vừa ấm lòng vừa no bụng. Nếu còn đói thì một khúc bánh mì thịt nướng dòn, khát thì có xe sữa đậu nành nóng chuyên phục vụ khách về đêm.

Đà Lạt vốn được coi là thành phố của… tri thức. Nếu nói về những con số khô khan thì Đà lạt xưa có tỷ lệ trường đại học cao nhất nước. Miền Nam trong thập niên 60, chỉ có bốn trường đại học thì Đà Lạt đã chiếm một: Viện Đại Học Đà Lạt bên cạnh các đại học Sài Gòn, Vạn Hạnh và Huế. Về mặt quân sự, Đà Lạt có Trường Võ bị Đà Lạt đào tạo lớp sĩ quan hiện dịch ra trường với cấp bằng cử nhân, Trường Chiến tranh Chính trị nơi huấn luyện các sĩ quan chuyên ngành ‘giặc nói’ và Trường Đại học Tham mưu dành cho các sĩ quan từ Trung uý cho đến Trung tá.

Trường Võ bị Quốc gia (1968)

Đà Lạt còn có 2 học viện Công giáo: Học viện Dòng Chúa Cứu Thế và Giáo Hoàng Học Viện. Đặc biệt nơi này được giảng dạy bởi các giáo sư thần học đến từ nước ngoài và khoảng trên 100 giáo sư từ phương Tây sang cư ngụ và giảng dạy. Bên cạnh đó là các trường Pháp dành cho con em giới thượng lưu từ Sài Gòn lên học. Người ta biết đến những cái tên như Grand Lycée Yersin, Petit Lycée, Adran, Couvent des Oiseaux, Domaine de Marie...

Grand Lycée Yersin (ngày nay được đổi tên là Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt) là một công trình kiến trúc được Hội Kiến trúc sư thế giới (UIA) công nhận là một trong số 1.000 công trình xây dựng độc đáo của thế giới trong thế kỷ 20. Trường được người Pháp thành lập năm 1927, do kiến trúc sư Moncet thiết kế và chỉ đạo xây dựng. Năm 1932 trường Petit Lycée Dalat được đổi tên thành Grand Lycée de Dalat và đến năm 1935 trường có tên là Lycée Yersin để tưởng niệm bác sĩ Alexandre Yersin.

Dãy lớp học được xây hình vòng cung, gạch xây trường là gạch trần đỏ được chở từ châu Âu sang, mái được lợp bằng ngói làm từ Pháp. Điểm nhấn của dãy nhà hình vòng cung là tháp chuông nổi bật trên vòm trời Đà Lạt.

Lycée Yersin với tháp chuông nổi bật trên nền trời Đà Lạt

Cũng vì thế, Đà Lạt trở thành nơi vãng lai của những người đến từ khắp miền Nam và không ít người đã coi đây là thành phố của một thời kỷ niệm. Đà Lạt đối với tôi còn là quê hương thứ hai sau khi gia đình rời Hà Nội vào Nam năm 1953. Từng con dốc, từng ngõ hẻm, từng căn nhà làm bằng gỗ thông, từng hàng quán... đã ăn sâu trong tiềm thức tôi và lúc nào cũng sẵng sàng bùng lên như một ngọn lửa.

Cà phê Tùng là một phần không thể thiếu của Đà Lạt. Hồi mới từ Hà Nội vào Đà Lạt tôi còn nhớ quán cà phê đã ở đó không biết từ bao giờ. Chú Tùng (chúng tôi thường gọi một cách thân mật) là người Bắc di cư, nhưng có lẽ cũng giống như gia đình tôi đã di cư sớm, trước đợt di cư vĩ đại của gần 1 triệu người vào năm 1954.

Tính cho đến ngày nay, cà phê Tùng đã hiện diện ở Đà Lạt hơn một nửa thế kỷ. Chú Tùng nay đã qua đời nhưng những người trong gia đình vẫn còn giữ truyền thống của một tiệm cà phê cổ. Những chiếc bàn cũ kỹ, những bức tranh bạc mầu, những miếng gỗ ốp tường và cả chiếc cửa ra vào lúc nào cũng mở hé là tất cả những gì Tùng xưa bắt đầu và Tùng nay gìn giữ.

Cà phê Tùng ngày nay

Gữa cái rét căm căm của Đà Lạt về đêm, ngồi trong cà phê Tùng nhìn qua lớp cửa kính mới thấy được nét đặc biệt của Đà Lạt trong sương mù. Những ngọn đèn đường mờ mờ, ảo ảo trong sương đêm tạo nên một Đà Lạt hoàn toàn khác với Đà Lạt của ban ngày.

Có người chê cà phê ở Tùng không có gì xuất sắc lắm, có người than nhạc ở Tùng buồn quá, có người lại nói không gian ở Tùng chật chội nhưng không ai phủ nhận sự hiện diện hơn nửa thế kỷ của cà phê Tùng tại thành phố sương mù. Sự hiện diện mang tính cách lịch sử gắn liền với thành phố Đà Lạt.

Phong cách, kiểu dáng của quán thuở ấy tới bây giờ, lúc nào cũng vẫn vậy. Vẫn những bàn ghế trang trọng mà đơn giản giữ mãi một vẻ không cũ không mới trong tiếng nhạc vừa đủ nghe và cũng vừa đủ để chuyện trò.

Ngày xa xưa, cà phê Tùng dành trọn ngày Thứ Năm cho khách thưởng thức nhạc Pháp. Người ta có thể nghe Francois Hardy trầm buồn qua Tous les garcons et les filles, Ton meilleur ami; Sylvie Vartan nhí nhảnh với La plus belle pour aller danser, En ecoutant la pluie, Quand le film est triste;  Dalida với giọng ca lão luyện qua Bambino, Histoire d’un anour, Besame Mucho rồi Christophe cất tiếng hát Mal, Aline, Main dans la main hay Charles Aznavour với Et Moi Dans Mon Coin...

Không gian của Tùng được ngăn cách với thế giới bên ngoài bằng lớp kính. Ngồi trong Tùng ta có thể thấy cảnh sinh hoạt, người qua lại trên khu Hòa Bình hay ngắm các cô nữ sinh áo len xanh Bùi Thị Xuân vào những giờ tan trường. Vào những đêm sương lạnh xuống nhiều, Tùng là cái lò sưởi ấm nhưng đối với tôi, sẽ thú vị hơn khi ngồi trên balcon (chỉ có một bàn duy nhất) để nhìn xuống đường trong cái giá lạnh về đêm của thành phố sương mù. 

Chiếm khoảng lớn trên bức tường chú Tùng treo họa phẩm Người đàn ghi-ta của Vị Ý. Bức tranh có mầu tối sẫn, người đàn guitar một mình một bóng vươn dài rồi gãy gục. Đầu người và đầu phím đàn chúc xuống bục gỗ màu nâu khô.

Trên vách bên trái là bức Thiếu nữ xanh của Đinh Cường, màu xanh nhung nhàn nhạt một lớp bụi thời gian. Ở gian trong là họa phẩm của Cù Nguyễn, Thiếu nữ mơ màng một hạnh phúc nào với chiếc bandeau màu hồng nhạt cột trên tóc... Hình như những bức tranh muốn nói dù khách có phiêu bạt bất cứ nơi đâu, khi trở lại Đà Lạt vẫn muôn đời là chốn cũ.

Nếu tinh ý, khi bước vào Tùng có thể nhận ra ngay màu nâu chủ đạo của quán từ lớp simili bọc nệm ghế ngồi, những mảnh gỗ ốp trên tường cho đến những bức tranh trang trí, nước sơn tường đều đưa khách về màu nâu sẫm của cà phê rang chín.  

Toàn cảnh gian ngoài cà phê Tùng

Nguyễn Đạt đã viết về Cafe Tùng: “Ông Tùng đã mất vài năm nay, trở thành người thiên cổ, như nhà văn Nguyễn Tuân còn lại ở quán cà-phê Tùng câu chuyện về ly rượu mạnh, như hoạ sĩ Vị Ý còn lại trên bức tường quán Người đàn ghi-ta mãi hoài cơn đam mê khắc khoải. Người con của ông Tùng, Trần Đình Thông, đảm đương quán cà-phê Tùng tiếp nối ông Tùng. Chúng tôi nghĩ tới những tên tuổi danh xưng như định mệnh: Tùng, Thông ở nơi chốn ngàn thông..”.

Lần gần đây nhất tôi trở lại Đà Lạt vào năm 2009 để xây mộ cho song thân. Cùng với một người bạn học cũ vẫn còn ‘tử thủ’ tại Đà Lạt, chúng tôi ghé cà phê Tùng mong tìm lại những giây phút của thời mới chớm bước vào tuổi thanh niên của ngày nào.

Cảnh vẫn như xưa nhưng người xưa còn lại chỉ có vợ chú Tùng. Bà ngồi yên lặng một mình nơi góc cửa, mắt đăm đăm nhìn ra những người qua lại ngoài đường. Tôi nhìn thấy trong đôi mắt đó một nét buồn của hơn một nửa thế kỷ còn đọng lại.

Bà Tùng với nét buồn sau hơn nửa thế kỷ

Một lúc sau, bà quay vào ngồi ở quầy tính tiền. Tôi biết, bà đã quay về với thực tế đời thường của cơm áo, gạo tiền. Cũng là lẽ thường tình, khách nhớ chủ quán chứ chủ cà phê làm sao nhớ hết khách vãng lai. Sau khi tự giới thiệu là khách phương xa trở về Đà Lạt, bà Tùng như cởi mở tấm lòng đã từ lâu chôn kín.

Nhìn những bức tranh trên tường bà kể lại sau 30/4/75 quán phải ‘cất’ đi vì ‘tự’ thấy vị trí của những bức tranh đó không thích hợp trong buổi giao thời. Nhưng rồi tranh cũng được treo lại đúng vị trí cũ. Lúc đó tôi tự nhiên nghĩ đến quán cà phê Lâm ngoài Hà Nội với những bức tranh được vẽ bởi các nhân vật nổi tiếng như Nguyễn Sáng, Văn Cao, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng…

Hỏi thăm về chú Tùng bà cho biết ông qua đời sau vụ tai nạn xe cộ ngoài đường, hỏi về ‘cái chú cao cao, đầu hói’ (là người phục vụ chính của Tùng ngày xưa) bà nói chú ấy cũng đã ‘quy tiên’ rồi. Hóa ra, giờ thì chỉ còn mình bà với cái tên cà phê Tùng đã đi vào lịch sử của Đà Lạt cùng với những nhân vật một thời nổi danh của miền Nam.

Bà Tùng còn nhắc lại thời kỳ quán phát đạt ông Tùng còn mở một quán cà phê thứ hai trên đường Phan Bội Châu, lấy tên là Domino. Cà phê Domino, giá rẻ để phục vụ cho giới lao động chân tay còn cà phê Tùng, đắt hơn, dành cho giới trí thức. Ông Tùng đã xã hội hóa các quán cà phê của ông từ những năm 60, đi trước khái niệm xã hội hóa của thời đại này đến hơn một nửa thế kỷ! 

Tại cà phê Tùng ngày nào, Trịnh Công Sơn đã gặp Khánh Ly, Từ Công Phụng và đám bạn của tôi trong ban nhạc trường Trần Hưng Đạo đã từng mài đũng quần trên ghế cà phê Tùng. Thi sĩ Bùi Giáng cũng đã ngồi nơi đây. Có lẽ ông nhìn bầu trời Đà Lạt âm u qua cửa kính cà phê Tùng để viết hai câu thơ lục bát phá cách trên miếng giấy bạc của bao thuốc lá:

Quán ngồi mỏi. Nắng chưa lên.
Chợt vui tràn. Thấy còn nguyên sơ đầu.

Xin kết thúc bài viết về cà phê của Đà Lạt sương mù với câu chuyện của một anh bạn thuộc loại ghiền cà phê có hạng. Anh bảo: “Uống rượu thì say mới quậy, nhưng uống cà phê thì quậy rồi mới say!”.

Theo lý luận thường tình, tôi phản ứng: “Làm gì có chuyện uống cà phê quậy rồi mới say?”.

Anh bạn thủng thẳng đáp: “Thì uống cà phê phải quậy cho tan đường rồi mới uống chứ?!”

***

(Trích Hồi Ức Một Đời Người – Chương 3: Thời thanh niên)

Hồi Ức Một Đời Người gồm 9 Chương:

  1. Chương 1: Thời thơ ấu (từ Hà Nội vào Đà Lạt)
  2. Chương 2: Thời niên thiếu (Đà Lạt và Ban Mê Thuột)
  3. Chương 3: Thời thanh niên (Sài Gòn)
  4. Chương 4: Thời quân ngũ (Sài Gòn – Giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội)
  5. Chương 5: Thời cải tạo (Trảng Lớn, Trảng Táo, Gia Huynh)
  6. Chương 6: Thời điêu linh (Sài Gòn, Đà Lạt)
  7. Chương 7: Thời mở lòng (những chuyện tình cảm)
  8. Chương 8: Thời mở cửa (Bước vào nghề báo, thập niên 80)
  9. Chương 9: Thời hội nhập (Bút ký những chuyến đi tới 15 quốc gia và lãnh thổ)

Tác giả còn dự tính viết tiếp một Chương cuối cùng sẽ mang tên… Thời xuống lỗ (thập niên 2000 cho đến ngày xuống lỗ)!

***

6 Comments on Multiply

nguoigiaonline wrote on Oct 28, '10
Chẹp... đở ghiền rồi. Cafe Tùng tôi ghé mổi chiều đến khuya khi có dịp lên đó, không phải vì hương vị mà vì không gian + nhạc hợp gout...

penseedl wrote on Oct 29, '10, edited on Oct 29, '10
nguyenngocchinh said “ở trọ tại 79 Võ Tánh, đây là con đường có rất nhiều nhà trọ cho sinh viên, học sinh vì ở rất gần Viện Đại học Đà Lạt, trường Bùi Thị Xuân và trường Bồ Đề.”
Hóa ra tác giả ở trọ gần trường của Pensée quá. Ngôi nhà số 77 là nhà cô giáo dạy Triết của Pensée ở BTX. Con gái lớn của café Tùng là bạn học cùng lớp năm đệ tam với Pensée, nhưng sớm trở thành góa phụ khi chưa xong tú tài I. Thời đó có nhiều ông bên THĐ chẳng biết "cúp-cua" hay đi "cua-đào" mà cứ tới giờ tan học buổi trưa, ngồi đầy ở mấy quán café dọc theo đường Võ Tánh, Hàm Nghi, với "những đôi mắt mang hình... cây si", khiến đám nữ sinh Bồ Đề và BTX đi học về luống cuống quá chừng !. Có lần thấy cả Đơn Dương cũng "tham gia" ở đó nữa. Đọc bài viết, nhớ lại ngày ấy thật vui và đẹp ! Xin cảm ơn tác giả.

nguyenngocchinh wrote on Oct 29, '10, edited on Oct 29, '10
penseedl said “Thời đó có nhiều ông bên THĐ chẳng biết "cúp-cua" hay đi "cua-đào" mà cứ tới giờ tan học buổi trưa, ngồi đầy ở mấy quán café dọc theo đường Võ Tánh, Hàm Nghi, với "những đôi mắt mang hình... cây si", khiến đám nữ sinh Bồ Đề và BTX đi học về luống cuống quá chừng !”
Đại diện số anh em bên THĐ, tôi xin gửi lời xin lỗi muộn màng đến các cô BTX và BĐ vì đã làm các cô... "luống cuống quá chừng". Nhanh thật, mới đó mà bây giờ đã lên đến chức ông bà nội ngoại rồi!

andropause wrote on Nov 16, '10
Em có ít hình ảnh Dalat 2010, anh Chính coi chơi cho vui.
http://andropause.multiply.com/photos/album/44

andropause wrote on Nov 16, '10, edited on Nov 16, '10
Thật tình cờ khi em cũng có một bài viết về cafe Tùng mà trong đó cũng có nhắc một chút đến Cafe Lâm!
Tuy nhiên em không cảm nhận được như anh Chính! Sorry.
http://andropause.multiply.com/journal/item/179/179
Hồi Mậu Thân em cũng đang học lớp 2 ở Petit Lycee ! Chạy loạn quá xá cỡ !!!
Ba em trước đây đi lính ở Chiến Tranh Chính Trị và dạy ở Văn Học.

nguyenngocchinh wrote on Nov 17, '10
andropause said “http://andropause.multiply.com/journal/item/179/179
Mình có vào entry này nhưng tiếc quá, không đọc được để tìm hiểu cảm nhận của andropause về cà phê Tùng. Để hôm nào quay lại entry này.

***

Bình luận trên Facebook:






--> Read more..

Popular posts