Thứ Tư, 4 tháng 12, 2019

Chu Tử: “Sống”… để… “Yêu”


Năm 1963, sau tác phẩm “Yêu” của Chu Tử, Nhà xuất bản Đường Sáng phát hành tiếp cuốn tiểu thuyết “Sống”. Điều đáng nói, “Sống” lại là tác phẩm đầu tiên của Chu Tử, chứ không phải là “Yêu”!

Để giải thích trường hợp “oái oăm” này, vào tháng 11/1963,  trong phần Lời Nhà Xuất Bản, có đoạn:

“Sở dĩ “Yêu” được phát hành trước “Sống” không phải vì giá trị của “Yêu” hơn “Sống”, nhưng chính vì tác giả cũng như người xuất bản nhận thấy cái nhan đề “Yêu” dễ hấp dẫn hơn “Sống”. Lý do kể trên là lý do duy nhất khiến “Yêu” được phát hành trước “Sống”.

Cũng cần phải nhắc lại, những tác phẩm của Chu Tử luôn chỉ vỏn vẹn một chữ: từ “Sống” đến “Yêu”, từ “Huyền” đến “Loạn”, rồi lại từ “Tiền” đến “Nắng”… Thế cho nên, người viết cũng chọn hai chữ “Sống” và “Yêu” làm chủ đề cho bài viết này.

Linh mục Cao Văn Luận, Viện trưởng Viện Đại Học Huế, nhận xét về tác phẩm “Sống” như sau:

“Sống” quả là một tác phẩm “sống” rất linh động, sâu sắc, mà gần mười năm nay, mới thấy xuất hiện trên mảnh đất văn-nghệ hời hợt, giả tạo của chúng ta.

“Tôi thường tự hỏi, thời đại chúng ta đầy những quằn quại, bi thương hoặc hùng tráng, mà tại sao chưa có một “chứng nhân” nào ghi chép, diễn tả một cách trung thực những băn khoăn của lớp người đang sống. Chu Tử chính là “chứng nhân” mà ta đang tìm kiếm.

“Không biết Chu Tử là một “chứng nhân” trung thực đến mực nào, nhưng ít nhất Chu Tử là một “chứng nhân” có tâm hồn! Một tâm hồn ngang trái như thời đại ngang trái! Một tâm hồn quằn quại, đầy mâu thuẫn, tàn bạo mà tha thiết, ngổ ngáo mà thâm trầm, cay độc mà vẫn xót thương đời, trào lộng mà cười ra nước mắt…

“Và nhất là đau khổ! Vì, cũng như văn hào Keats có thể sờ mó thấy sự đau khổ của nhân loại, Chu Tử là nhà văn của Đau Khổ. Tất cả những nhân vật trong “Sống”: từ Huyền, Tuyết, Phi-Yến v.v… đến nhà trí thức chống Cộng, thích đàn bà và tiền, giáo sư lừng khừng Văn, thanh niên theo Việt-Cộng Thịnh v.v… tất cả đều là những kẻ đau khổ, đáng thương, nạn nhân của hoàn cảnh, hay của chính họ…

“Dưới ngòi bút của Chu Tử, cả tội lỗi cũng đáng thương… Tuy nhiên, Chu Tử cho ta niềm an ủi là, với Chu Tử, sự đau khổ không phải sự tuyệt vọng, và cái bi quan của Chu Tử bắt nguồn từ lòng tha thiết yêu đời, chứ không phải cái bi quan tuyệt vọng của kẻ không tìm thấy sự cứu rỗi, ở bất cứ đâu…

(hết trích)

Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn đã so sánh Chu Tử với J. P. Sartre và Dostoievsky, nhưng theo nhận định của Linh mục Cao Văn Luận, “những nhân vật của Chu Tử không phải là những kẻ tuyệt đối phủ nhận luân lý theo thái độ “buồn nôn” của J. P. Sartre, hoặc hư vô “nihiliste” như các nhân vật của Dostoievsky”’.

Những nhân vật của Chu Tử không thừa nhận nền luân lý hiện tại, nhưng vẫn tin là có thể có một nền luân lý - “une morale est possible” - như lời Camus. Những nhân vật của Chu Tử chưa tìm thấy sự cứu rỗi, nhưng vẫn tin là có sự “cứu rỗi”… Cũng như “Sống” không đề ra một triết lý nhân sinh, nhưng buộc người đọc phải tự tìm cho mình một nhân sinh quan.

Tác phẩm “Sống”

Ngay ở Chương đầu viết về mối tình của Huyền và Thịnh, bạn học cùng lớp nhưng Huyền vẫn coi mình là “chị” của Thịnh. Huyền con nhà nghèo nên đi học muộn, luôn coi mình là “đàn chị” của các bạn học. Cũng vì nghèo nên Huyền phải đi dạy kèm cho con ông Kha, một nhà kinh doanh triệu phú góa vợ, và ông Lưu, giám đốc trường Huyền học, đã có “nhã ý” miễn học phí nhưng kỳ thật đang tìm cách tán tỉnh nàng.

Chỉ trong vòng mười lăm ngày, một gã giáo sư, một nhà kinh doanh, một thiếu niên si tình đã lần lượt tìm cách lợi dụng hoặc tỏ tình yêu với nàng. Huyền có cảm giác như một con nai cô đơn, bị đàn chó săn hung hăng bổ vây tứ phía. Cuộc đời đã dậy cho Huyền một thứ triết lý bi quan: “Đàn ông thật đểu cáng!”.

Nhân vật thứ hai xuất hiện trong Chương kế tiếp là giáo sư Văn, anh họ của Huyền. Chàng vẫn coi Huyền như một người em ruột, và thương yêu Huyền không kém Thu, con gái của chàng, vì Huyền nghèo, lại thông minh, kín đáo. Chu Tử đã phác họa chân dung của Văn qua những dòng dưới đây:

“Văn vừa làm giáo sư vừa quen đủ hạng người, từ ông đại trí thức tới ông phu xe xích lô; từ vị linh mục nghiêm nghị, đạo đức đến người bạn nghiện nặng, sống vất vưởng nay xin tiền người này, mai xin tiền người nọ.

“Văn không chơi bời trác táng, không uống rượu, hút thuốc phiện, nhưng chàng chỉ thích những ông bạn hư hỏng, trụy lạc, ăn tục nói phét, có nhẽ vì gần họ, Văn có cái ảo tưởng là mình vẫn chưa đến nỗi xấu như ai, còn lương thiện hơn kẻ khác.

(hết trích)

Một người bạn nghiện hút nhận xét về Văn với những lời lẽ “thẳng như ruột ngựa” nhưng cũng đau tựa… bò đá:

“Ông vẫn chạy rông như chó dái, có làm được gì hơn bọn nghiền này, ngoài cái thành tích nợ hơn Chúa Chổm? Ông cần nghiện mới lập được sự nghiệp, tôi nói vậy là chí lý lắm. Đây nhé, sở dĩ từ trước đến giờ, ông vẫn chưa thành cái “thá” gì, là vì ông chưa dứt khoát tư tưởng, xấu không ra xấu, tốt không ra tốt, muốn xấu mà vẫn không dám xấu, nhưng nếu ông hút thuốc phiện thì ông sẽ tự coi là đồ bỏ, đồ bất lương, đồ hư hỏng. Và khi ông yên tâm sống với cái bất lương, thì ông sẽ hết băn khoăn, tư tưởng của ông lúc đó mới thống nhất, có đường lối rõ rệt, và ông mới lập được sự nghiệp!

Triết lý của Văn về tình yêu cũng… “kỳ cục” khi nhớ lại những kỷ niệm thời còn thanh niên mới lớn, cũng tựa như Huyền và Thịnh:

“Người ta chỉ yêu cái gì người ta không có. Khi người ta còn trẻ, người ta coi những người cùng lứa tuổi như con nít và chỉ để ý đến người già dặn, nhiều kinh nghiệm hơn, cũng như khi người ta đã có tuổi thì người ta lại để ý đến những người trẻ...”

***

Cũng chính giáo sư Văn đã có nghi ngờ về cậu Thịnh, người bạn học nghèo cùng lớp si mê Huyền đã dám “cả gan” tặng nàng cây bút máy “Parker 61” đắt tiền. Văn giải thích suy luận của mình:

“… Tôi biết tính nết thằng Thịnh. Tôi nghe luận điệu nó nói chuyện, theo dõi hành tung nó, tôi rất ngại là chưa biết chừng nó đã bị Cộng sản lôi cuốn rồi... Nhà nghèo, chưa có kinh nghiệm cuộc đời, lại hăng tiết vịt, bất mãn, thì tránh sao chẳng thành cái mồi ngon cho Cộng sản...”

Nhân vật Kha, một triệu phú trong kinh doanh, rõ ràng đóng tròn vai “phản diện” trong “Sống”. Giáo sư Văn đã có lần vạch trần bộ mặt “chỉ biết đền tiền” khi anh nhắc lại vụ Huyền nghỉ dạy nhưng chưa nhận được tiền lương dạy học cho con của Kha. Ấy thế mà Kha lại sẵn sàng dùng tiền để “mua chuộc” mẹ Huyền. Trong một bức thư gửi cho Văn, Huyền tiết lộ:

“Thưa anh ,

“Hai hôm nay, em phải trở lại nhà ông Kha dạy học.

“Không hiểu ông Kha đã được ai mách địa chỉ nhà em, mà ông ấy tìm đến nhà lúc em đi vắng, làm quen với mẹ em, cho mẹ em mượn 10.000$ tiền lương trước của em. Em không lên dạy học ở nhà ông Kha, cũng không yên được với mẹ em. Vì không vâng lời mẹ em, thì chỉ có việc bán sới khỏi nhà.

“Cho nên em nhờ Thuận nó cầm thư này, lên thưa với anh làm cách nào xoay cho em xin số tiền 10.000$ trả lại ông Kha, vì mẹ em đã dùng món tiền của ông ta trả nợ hết rồi. Nhất là lên nhà ông Kha, em thấy thái độ ông ta rất lạ, lịch sự không ra lịch sự, tử tế không ra tử tế. Em linh cảm hình như ông ta thù cái chuyện em tố cáo hành vi của hắn với anh, khiến ông ta đang tính chuyện trả “đũa” ghê gớm lắm.

“Em thưa vậy để anh biết mà đề phòng, và nhất là cố gắng cho em xin số tiền trả lại ông ta. Nếu lúc nào, anh có tiền thì hãy xuống nhà em, nếu chưa có tiền thì có nói với mẹ em cũng vô ích. Anh nhớ giúp em kẻo em lo lắm! Còn phải lên dạy học buổi nào, em càng cảm thấy cực tủi và đầu hàng hắn một cách nhục nhã quá.

“Em,

“Huyền

Kha lại còn “phỗng tay trên” vụ buôn bán thuốc phiện của bạn bè Văn. Trong “affair” này cũng có phần tham gia của Văn khi dùng uy tín của mình để “móc nối” những người tham gia trong “phi vụ”.

Văn lại còn phải giải quyết vụ học trò của mình là Tuyết vì nghe đâu cô học trò này ngoài việc đi học lại còn… “làm gái”. Tuyết là con một ông già đạp cyclo để nuôi con ăn học. Chu Tử mô tả những suy nghĩ của Văn khi gặp Tuyết:

“Nhìn Tuyết đẹp khêu gợi, trong khung cảnh tồi tàn nhà Tuyết, Văn thấy bao nhiêu lời chàng định dùng để thuyết phục Tuyết thật là thừa, thật là ngớ ngẩn. Văn tự nhủ: “Giá đức Khổng Tử có sống lại, mang lời đạo đức chân thành để khuyên Tuyết an thân, an phận sống với hoàn cảnh nghèo nàn, bần tiện của gia đình mình, thì chắc cũng hoàn toàn là nước đổ lá khoai”.

Văn nhìn cô học trò rồi nhìn người cha già và thấy tất cả cái thảm kịch của một người cha: ông đã mất hết, mất tất cả quá khứ lẫn tương lai, chỉ còn trông mong vào một người con gái. Người con gái ấy cũng hoàn toàn xa lạ với bố, sắp sửa hay đang làm đĩ mà ông không biết, không can ngăn nổi. Đó là một khía cạnh bi kịch của cuộc sống, Văn chỉ có thể nói:

“Tôi đến đây chỉ có một mục đích là bảo Tuyết phải trở lại trường, học hành cho ngoan, thầy sẽ liệu cách giúp đỡ. Nhất là đừng có đua chúng, đua bạn... Mình nghèo thì cam phận nghèo, phải không Tuyết? Nghèo thì có gì xấu hổ? Mà ông cụ làm nghề đạp xe xích lô lại càng không có gì đáng xấu hổ!”

Tuyết, cô nữ sinh 19 tuổi, có một câu trả lời khiến người thầy phải lạnh người sửng sốt:

“Cha mẹ thường không chịu tìm hiểu con, cứ cho con mình là không biết gì... Nhất là vào trường hợp con: không mẹ, không anh em quyến thuộc. Chỉ còn có một mình cha con, thì thầy thoáng trông, thầy cũng thừa hiểu đó là hai thế giới. Cha con có bao giờ hiểu cho những ý nghĩ của con. Con bị vất ra đời từ năm 15 tuổi. Trong bốn năm nay, con đã hiểu đời nhiều lắm, hiểu hơn là thầy tưởng. Con phải kèn cựa mà sống. Chả ai thương, chả ai cứu giúp mình cả! Đàn bà chúng con lại nhiều lòng tự ái, không chịu thua kém ai, cho nên nếu có hư hỏng, thì âu cũng là chuyện tất nhiên...”

Trước mặt Văn, Tuyết không còn là một nữ sinh, hoặc một “gái điếm” như chàng nghi ngờ lúc đầu. Tuyết chỉ là một tâm hồn quằn quại trong gió bụi cuộc đời... Từ trong “tháp ngà” Văn đã thấy “cuộc sống thật sự” như nó đã và đang diễn ra, trần truồng như một vũ nữ sexy trên sân khấu.

***

Cuốn truyện “Sống” của Chu Tử còn dài với những tình tiết oái ăm như trong tiểu thuyết, nhưng không thuộc loại “tiểu thuyết có chìa khóa” (roman à clef). Người viết tạm dừng ở đây và hẹn các bạn vào một dịp khác.

***


* Tham khảo thêm bài viết "Trong thế giới "Yêu" của Chu Tử" tại https://chinhhoiuc.blogspot.com/2018/08/trong-gioi-yeu-cua-chu-tu.html.

***
--> Read more..

Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2019

Văn & Thơ Hoàng Hải Thủy


Đề tựa của bài viết này chia làm hai phần Văn và Thơ của Hoàng Hải Thủy, a.k.a. Công Tử Hà Đông, Ngụy Công Tử, Con Trai Bà Cả Đọi, Hạ Thu, Hồ Thành Nhân, Văn Kỳ Thanh, Dương Hồng Ngọc, Triều Đông, Người Sài Gòn… Ít có văn thi sĩ nào lại lấy lắm tên đến như vậy.

Hoàng Hải Thủy và vợ, Alice

Thế nhưng, đó cũng là điều dễ hiểu vì trong suốt cuộc đời viết lách, Hoàng Hải Thủy “lưu lạc” sang nhiều tờ báo với những bút hiệu khác nhau. Khi theo gia đình vào Nam năm 1951, ông làm phóng viên của tờ Ánh Sáng Sài Gòn. Cuối năm 1952  ông được giải nhất Cuộc Thi Truyện Ngắn của Nhật báo Tiếng Dội với truyện ngắn “Người con gái áo xanh.”

Hoàng Hải Thủy đi lính 2 năm, đến 1954 ông làm phóng viên báo Sàigòn Mới. Trong 2 1956-1957 làm nhân viên USOM (United States Operation Mission – tiền thân của Cơ quan Viện trợ Hoa Kỳ, USAID), ông phụ trách tờ Thế Giới Tự Do. Đây là một tạp chí kèm nhiều hình ảnh với kỹ thật in ấn rất tinh xảo của Mỹ.

Cuối năm 1957 ông lại trở về báo Sàigòn Mới và sau đó viết truyện nhiều nhất trên báo Ngôn Luận. Ngoài hàng loạt truyện ngắn, truyện dài, Hoàng Hải Thủy còn nổi bật với những truyện phóng tác từ tiểu thuyết nước ngoài.

Trong một cuộc phỏng vấn năm 2011 ông cũng xác định một cách “nửa đùa, nửa thật” khi được hỏi chắc là ông phải rất giỏi ngoại ngữ nên mới chuyên về phóng tác:

“Tôi mà “giỏi ngoại ngữ” thì trên cõi đời này còn có ai “dzốt ngoại ngữ?” Tôi tiếng Tây Bồi, tiếng Anh Bồi, tiếng Mỹ cũng bồi.”

Ấy thế mà ông lại là người phóng tác nhiều tác phẩm nổi tiếng thế giới. Phóng tác đầu tiên của ông là cuốn tiểu thuyết trinh thám tiếng Pháp (Series Noir), “Après moi, le déluge”, năm 1956, với tựa đề tiếng Việt “Nổ Như Tạc Đạn”. Phóng tác này được đăng nhiều kỳ, loại tiểu thuyết mà báo chí ngày xưa gọi là “feuilleton”, ở trang trong của nhật báo Ngôn Luận.

“Nổ như tạc đạn” được đăng nhiều kỳ trên nhật báo Ngôn Luận

Bối cảnh của “Nổ Như Tạc Đạn” là Sài Gòn, vào cuối thập niên 50, chứ không phải là bên Tây như trong nguyên tác. Hoàng Hải Thủy đã đưa người đọc vào thế giới trẻ “thác loạn”, sống bất cần đời. Qua cái nhìn của Hùng, một thanh niên con nhà gia giáo, khá giả, được ăn học tử tế… Một thế giới khác lạ diễn ra trước mắt anh:

“Mỗi một phút trôi qua, Hùng lại càng ngạc nhiên. Chàng như lạc vào một thế giới khác, hoặc lạc vào một hành tinh khác. Chỉ chưa đầy năm phút đồng hồ, Hùng đã được biết rằng người ta có thể sống ung dung mà không có nhà cửa nhất định, không có nghề nghiệp và hành lý chỉ có mỗi một cái bàn chải đánh răng, người ta có thể đi ăn cắp những vật người ta không cần dùng, và người ta có thể kiêu hãnh về cái nghề đĩ đực và làm cái nghề đó một cách tận tâm. Hùng nhìn Duy và Kính như người nhìn hai con vật rất lạ”.

Tiểu thuyết phóng tác đầu tay “Nổ như tạc đạn” của Hoàng Hải Thủy

Tuy nhiên, tác phẩm nổi tiếng nhất của Hoàng Hải Thủy là cuốn tiểu thuyết phóng tác "Kiều Giang". Ông lấy tên cô con gái cưng, bé Kiều Giang, lúc đó mới được 6 tháng để đặt tên cho tác phẩm này. Kiều Giang được phóng tác từ tác phẩm gốc “Jane Eyre” của nhà văn nữ Charlotte Bronté sáng tác từ thế kỷ thứ 18.

Đây là loại truyện tự thuật của cô bé Jane Eyre mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được người cậu ruột mang về nuôi. Cậu chết, Jane phải ở với người mợ vốn tính cay nghiệt là bà Sarah Reed. Jane đã sống thời thơ ấu cực nhục, bị chủ nhà và gia nhân ngược đãi, hắt hủi, là đối tượng trêu chọc của những đứa con hư của bà Sarah Reed. Trong gia đình ấy, Jane không được phép đọc sách, chơi đùa, lúc nào cũng có thể bị đánh đập, bị tống giam vào buồng tối, bỏ mặc cho đói và khát.

Truyện phóng tác Jane Eyre của Hoàng Hải Thủy lấy bối cảnh ở Huế suốt thời thơ ấu khốn khó của Kiều Giang, năm 9 tuổi bị tống vào một trường nội trú. Mười năm sau, cô tìm được một chân dạy trẻ tại Trang trại Thùy Dương trên Đà Lạt. Đây là trang trại “ma quái” của ông kỹ sư Tường, tại đây Kiều Giang đã cứu ông thoát khỏi một vụ hỏa hoạn “bí mật” của một người có tiếng cười “vừa bí hiểm, vừa kinh dị”!

Tình yêu đầu đời của Kiều Giang đã đến một cách bất ngờ và nhanh chóng. Cô yêu ông kỹ sư Tường và họ quyết định cử hành hôn lễ. Đám cưới không phù dâu, phù rể, cũng không có nhà trai, nhà gái. Khi hôn lễ đang được cử hành tại nhà thờ thì có hai người xuất hiện và tố cáo ông kỹ sư phạm tội… “đa thê”! Cuối cùng, chú rể đã nhìn nhận một cách thẳng trước bàn thờ Thiên Chúa:

“Vâng, tôi muốn trở thành một kẻ “đa thê”… một danh từ xấu xa trong công giáo. Số mệnh và cuộc đời tàn nhẫn đã không cho tôi trở thành một kẻ đa thê. Ông luật sư và ông anh vợ đã giúp tôi không thể trở thành một kẻ đời đời dối Chúa. Đúng là tôi đã có vợ, người đàn bà ấy hiện ở trại Thùy Dương.

“Chắc cũng có người nghe đồn rằng trang trại có một bà điên và cứ tưởng bà ấy là cô em gái của tôi… Người đó là vợ tôi, vì bị điên nên tôi phải dấu kín một chỗ. Tôi đã cưới người đó 10 năm trước ở Cao Miên, nhưng xin quý vị hãy hiểu cho tôi, bà ấy bị điên. Tôi xin mời cha sở theo tôi về trang trại để chứng kiến sự thật!”

(hết trích)

Cả thế giới sụp đổ trước mắt Kiều Giang, cô tìm cách đi thật xa Trang trại Thùy Dương, nơi mang nhiều kỷ niệm của mối tình đầu. Định mệnh run rủi khiến cô được cứu vớt bởi một mục sư Tin Lành, vị mục sư này đang sửa soạn đi truyền giáo ở nước ngoài và rủ cô đi theo. Kiều Giang từ chối vì không thể nào quên được mối tình đầu đời. Cô quyết đi tìm kỹ sư Tường.

Người kỹ sư ngày nào giờ mắt đã không thấy đường sau vụ người vợ điên phóng hỏa trang trại. Kiều Giang quyết tâm ở lại để chăm sóc người yêu. Truyện Kiều Giang có một “happy ending”: họ sống bên nhau và cặp mắt của Tường sau một thời gian điều trị đã có thể thấy lại cô giáo Kiều Giang ngày nào.

"Kiều Giang" phóng tác từ Jane Eyere của Charlotte Bronté

Người đọc câu chuyện cảm động của  Kiều Giang thời VNCH dĩ nhiên là nhiều vô số kể. Sau biến cố 1975, những ai muốn tìm đọc Kiều Giang chắc chắn phải “trầy vi tróc vẩy” vì đại nạn đốt sách “diệt tàn dư Mỹ-Ngụy”. Rất tình cờ, tôi gặp một “rao vặt” sau đây sau biến cố 1975:

“Truyện Kiều Giang trong tình trạng khá tốt, bán tại số nhà xxx đường Cách Mạng Tháng 8, Phường  8, Tân Bình. Liên lạc ông Hào, chủ tiệm sách, Tel. xxx, giá bán Kiều Giang là 1.200.000VNĐ”.

Nói tới nhà văn Hoàng Hải Thủy là ai cũng nghĩ ngay tới tác phẩm Kiều Giang. Điều này đã cho ông cảm hứng sáng tác bài thơ làm trong Xà lim Khu B, trại giam Phan Đăng Lưu năm 1978. Hồi đó ông là một trong “những tên biệt kích cầm bút” còn sót lại ở miền Nam. Bài thơ “Kiều Giang” có những câu đọc muốn ứa nước mắt:

“Người bạn tù hỏi qua song cửa
Phải anh là Hoàng Hải Thủy
Anh viết truyện Kiều Giang?

“Kiều Giang …!
Ôi tên con, tên ngọc, tên vàng
Làm bố vỡ tim và hồn nức nở
Khi đặt tên con đâu ngờ có thuở
Nghe tên con giữa chốn lao tù
Những đêm dài ngục tối âm u
Bố thấy mắt con sáng bừng rực rỡ

“Bố yêu con trong từng hơi thở
Trong trái tim hồng, trong giòng máu đỏ
Kiều Giang ơi, tiếng kêu thương nhớ
Con có run da thịt đêm nay?
Bố cho con trọn máu xương này”

Phải đến thời điêu linh Hoàng Hải Thủy mới bắt đầu làm thơ. Ðể ghi, để nhớ, thời gian cả triệu người Sài Gòn sống nhờ những thùng đồ do thân nhân ở nước ngoài gửi về cứu trợ, những năm từ 1978.. dài dài đến những năm 1990. Ông viết: “Bài ca đồ ngoại”:

“Chẳng phải đồ lô, vẫn của nhà
Ðồ zin em gửi tận Uy-Dza
Vải hoa, soie Pháp, vui lòng mẹ
Hộp quẹt, quần jeans, mát dạ cha
Camay, Colgate mồm thơm lại
Maalox,  Lyneo mắt sáng ra
Còn non, còn nước, còn đồ ngoại
Còn đồ em thơm cứ như hoa ..

Một lọ thuốc, hai lọ thuốc, ba lọ thuốc …
Anh thấy những ngón tay em ngà ngọc, ve vuốt trên ánh thủy tinh
Em nói với anh bằng tiếng Becozim ngọt lịm, hiền hòa
Em hôn anh bằng những nụ hôn Alka – Seltzer
Anh hít mùi da thịt em thơm trong những mét soie
Anh uống từng giọt nước mắt, nếm từng giọt mồ hôi em trong lòng những cây bút bic …

Cho anh khóc bằng mắt em … những mối tình Campovit …
Cho anh mơ thấy em về trong mù mịt đêm nay …
Em ơi … Lyncocin … Terneurine … Eucalyptine … Coramine …
Anh yêu em … Levi’s … Jeans … Em có hay ?

Em ôm tình anh nặng một vòng tay
Phấn son cho má em hồng, Colgate cho răng em trắng.
Và những Camay
Cho da thịt em thơm như ngày em mới yêu lần thứ nhất.
Em biết anh hôn em vì em ngây ngất
Khi em mặc chặt chiếc slip vừa tròn
Em quằn quại đêm nay vì trên ngực anh hôn
Khi em lịm hồn trong chiếc soutien lụa mịn
Anh ơi … Em yêu anh… Bufferin …
Em nhớ anh … Bevitine … Maalox … Neo Codeine …!

Muốn tắm mát thì lên ngọn con sông đào
Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh
Ðôi tay anh vít đôi cành
Quả chín anh hái, quả xanh anh vồ
Năm sáu năm nay anh ăn ở Thành Hồ
Anh ra Bưu điện lãnh đồ em cho
Ðồ em vừa nặng, vừa to
Anh đã con mắt, anh no cái mồm

Một cây mười mấy nghìn đồng
Ðược tin em mới lấy chồng ở bên
Cái áo nylon ai  khéo mặc thì bền
Lấy ai thì lấy đừng quên gửi đồ

Nhớ ai ai có nhớ cùng
Ai cho chi được một thùng thì hay
Có gửi thì gửi thuốc tây
Ðừng gửi thuốc lá ở đây anh buồn!

Ðèn Sàigòn ngọn xanh ngọn đỏ
Ðèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn mờ
Công anh năm đợi bảy chờ
Thùng đồ em hứa bao giờ em cho ?

Có con mà gả chồng gần
Nửa đêm đốt đuốc mang phần cho cha
Có con mà gả chồng xa
Tháng tháng nó gửi đô la tì tì

Ai về em gửi bức thơ
Hỏi người yêu cũ bây giờ ở mô ?
Người em yêu ở Thành Hồ
Còn thương thì liệu gửi đồ cho nhau

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Bây giờ em đến Iu – Za
Gửi thùng cho nặng mới là đạo con

Chợ Bến Thành dời đổi
Người sao khỏi hợp tan
Vợ chồng là nghĩa đá vàng
Gửi thùng cho lớn là chàng yêu em

Rủ nhau xuống biển mò cua
Ðem về nấu quả mơ chua trên rừng
Ðôi ta chua ngọt đã từng
Nay em sang Mỹ xin đừng quên nhau

Mẹ ơi đừng đánh con hung
Ðể con sang Mỹ gửi thùng mẹ ăn .

Mẹ ơi… đừng đánh con đau
Ðể con ra biển đón tầu mẹ chui.

"Thơ Hoàng Hải Thủy" (1995)

Thực ra, những câu thơ ông viết không trau chuốt nhưng lại nói lên bề sâu của những nỗi lòng thầm kín. Hoàng Hải Thủy rất thương vợ. Ông tâm sự, một đêm, “nằm phơi rốn” (sic) trong Lầu Bát Giác Chí Hoà, ông làm bài thơ: “Anh chỉ sống để chờ Em đến”.

“Như Trái Đất chỉ quay để chờ nắng lên
Anh chỉ sống để chờ Em đến.
Giòng Thời Gian muôn kiếp lênh đênh
Ta muôn kiếp vẫn yêu, vẫn mến.
Trên vai Anh, mái tóc hương huyền
Em đã ngả từ ngày có biển.
Như mưa nguồn trở lại Đào Nguyên
Em yêu ơi, như thuyền về bến
Anh chỉ sống để chờ Em đến.
Như từ núi nước suôi về biển
Như trên hoa về những giọt sương
Như Eva trở lại Thiên Đường
Anh chỉ sống để chờ Em đến.

Thưở tinh khôi đất trời vừa hiện
Chim mới ca, suối mới đưa hương
Trong thanh không vừa có thái duơng
Em đã đến. Và Em sẽ đến.

Khi trái đất chỉ quay để chờ nắng lên
Khi loài người  còn mãi tình duyên
Thuyền Thời Gian ta mãi lênh đênh
Anh chỉ sống để chờ Em đến.

Khi trái đất ngừng quay
Ngày chẳng còn lên
Đêm thôi xuống, gió không còn thổi
Khi loài người ngừng cuộc tình duyên
Thuyền Thời Gian ta hết lênh đênh
Trong mông mênh chỉ có bình yên
Anh vẫn sống để chờ Em đến.

Bài thơ “Anh chỉ sống để chờ em đến”, Nguyễn Tuấn phổ nhạc

Ông còn viết hẳn một bài 36 câu cho người vợ thân yêu, Alice:

Anh không biết ngày xưa em trẻ
Khi em yêu em đợi, em chờ
Có bao giờ em buồn như thể
Sáng nay em trong cửa mong thơ ?

Niềm hy vọng trong em chợt hé
Người phát thư xe đạp đi qua
Chưa bao giờ thấy em buồn thế
Khi nghiêng vai, em trở vào nhà.

Em yêu ơi … Tim anh như xé
Chưa thương em đến thế bao giờ .
Anh lặng biết em không cần kể
Những xót xa, ly tán, đợi chờ
Hồn em nặng sầu non, muộn bể
Những đau thương ray rứt không bờ
Từ cơm áo rã rời sinh kế
Đến oan khiên tù tội không ngờ
Đau chồng con chia từng giọt lệ
Thương hôm mai biết đến bao giờ
Đời u tối như chiều đông xế
Môi em thâm nên mắt em mờ
Nên em buồn não nùng như thể
Sáng nay em trong cửa đợi chờ .

Sáu năm dài dập dồn dâu bể
Đời sống ta cơ cực Thành Hồ
Anh lặng biết sao em buồn thế
Sao em gầy sao tóc em khô!

Trên mái tóc thu về đã trễ
Trên đôi môi thoáng bóng hư vô
Trong ánh mắt não nùng xiết kể
Trên đôi vai xuân đã mơ hồ
Anh thấy cả một trời dâu bể
Anh chưa đau đến thế bao giờ
Anh lặng hiểu sao em buồn thế
Sao em mong người phát thư vô
Niềm mơ ước trong em thật bé
Em chờ mong chỉ một thùng đồ.

Hoàng Hải Thủy phu nhân, Alice

***
 Tác phẩm của Hoàng Hải Thủy:

-       Đầu Người Trong Hang Máu (Truyện dài, 1954)
-       Xác Ma Giết Người (Truyện dài, 1954)
-       Chiếc Hôn Tử Biệt (A Kiss Before Dying - Phóng tác, 1956)
-       Vũ Nữ Sài Gòn (Phóng sự, 1958)
-       Kiều Giang (Jane Eyre - Phóng tác, 1963)
-       Nổ Như Tạc Đạn (Après Moi, Le Déluge, Phóng tác,1964)
-       Tìm Em Nơi Thiên Đường (My Cousin Rachel - Phóng tác, 1965)
-       Đầm Giao Chỉ (Thương Sinh & Gã Thâm, Phóng sự, 1967)
-       Yêu Tiền (Thương Sinh & Gã Thâm, Phóng sự, 196?)
-       Vụ Án Họ Trinh (The Bellamy Trial - Phóng tác, 1967)
-       Tình Đầu (The Apple Tree - Phóng tác, 1967)
-       Đêm Về Sáng (Truyện dài, 1968)
-       Hồng Loan Hồng Ngọc (The Pink Panther - Tiểu thuyết gián điệp, 1968)
-       Tiếng Ca Cá Sấu (Never Find Sanctuary - Phóng tác, 1968)
-       Yêu Lắm Cắn Đau (Truyện dài, 1968)
-       Đỉnh Gió Hú (Wuthering Heights - Phóng tác, 1969)
-       Bạn Và Vợ  (Truyện dài, 1969)
-       Môi Thắm Nửa Đời (Truyện dài, 1969)
-       Tình Nhân Trẻ (Le Jeune Amant - Phỏng dịch, 1969)
-       Yêu Mệt (Le Repos du Guerrier - Phóng tác, 1969)
-       Yêu Nhau Bằng Mồm (Truyện dài, 1970)
-       Người Vợ Mất Tích (Phóng tác, 1970)
-       Người Yêu, Người Giết (La Seconde Souffle - Phỏng dịch, 1970)
-       Trong Vòng Tay Du Đãng (No Orchid For Miss Blandish - Phóng tác, 1970)
-       Vợ Chồng Son (Phóng tác, 1970)
-       Vòng Tay Yêu Tinh (Phóng tác, 1970)
-       Bây Giờ Tháng Mấy (Hồi ký, 1970)
-       Bẫy Yêu (007 From Russia with love - Tiểu thuyết gián điệp, 1970)
-       Định Mệnh Đã An Bài (Truyện dài, 1970)
-       Hồn Ma Đa Tình (Truyện kinh dị Hitchcock, 1970)
-       Người Thiếu Nữ Một Đêm (Tập truyện kinh dị, 1970)
-       Đêm Vĩnh Biệt (Phóng tác, 1970)
-       Trong Vòng Tay Du Đãng (No Orchid For Miss Blandish - Phỏng dịch, 1970)
-       Lưới Tình (Truyện dài, 1971)
-       Truyện Tình (Truyện dài, 1971)
-       Chứng Nhân Của Thời Đại (Tập truyện, 1972)
-       Giữa Những Người Đã Chết (D'Entre Les Morts - Phóng tác, 1972)
-       Giửa Hai Dòng Nước (Tập truyện, 1973)
-       Như Chuyện Thần Tiên (The Scorpion Reef - Phóng tác, 1973)
-       Tình Mộng (Vacances Romaines - Phóng tác, 1973)
-       Người Vợ Ngoại Tình (Madame Bovary - Phóng tác, 1973)
-       Ngoài Cửa Thiên Đường (Maldonné - Phóng tác, 1974)
-       Không Tìm Thấy Mộ (007 Never Find Sanctuary - Tiểu thuyết gián điệp, 1974)
-       Điệp Vụ Hỏa Cầu (007 Diamond Are Forever - Tiểu thuyết gián điệp, 1974)
-       Đường Bay Định Mệnh (007 - Tiểu thuyết gián điệp, 1974)
-       Cửa Vào Địa Ngục (007 - Tiểu thuyết gián điệp, 1975)
-       Tiếng Cười Trong Đêm Tối (Laughter In The Dark - Phóng tác, 1975)
-       Trò Chơi Khủng Bố (The Game of Terror - Tiểu thuyết gián điệp, 1975)
-       Đi Tìm Người Yêu (The Citadel - Phóng tác, 197?)
-       Công Tác Đại K (007 - Tiểu thuyết gián điệp, 197?)
-       Phục Vụ Nữ Hoàng (007 - Tiểu thuyết gián điệp, 197?)
-       Thầy Nô (007 Doctor No - Tiểu thuyết gián điệp, 197?)
-       Máu Đen Vàng Đỏ (007 Live And Let Die - Tiểu thuyết gián điệp, 197?)
-       Tay Sắt Tay Vàng (007 Goldfinger - Tiểu thuyết gián điệp, 197?)
-       Gã Thâm (The Deep - Phóng tác, 197?)
-       Bóng Người Áo Trắng (The Lady In White - Phóng tác, 197?)
-       Đen Hơn Bóng Tối (Piège Pour Cendrillion - Phóng tác, 197?)
-       Trở Về Tội Ác (The Dark Arena - Phỏng dịch, 197?)
-       Như Chuyện Thần Tiên (Scoprion Reef - Phóng tác, 197?)
-       Đa Tình Đa Sát ( Phóng tác, 197?)
-       Tây Đực Tây Cái (Truyện dài, 197?)
-       Gái Trọ (Phóng tác, 197?)
-       Nửa Kiếp Giang Hồ (La Scoumoune - Phóng tác, 197?)
-       Không Tìm Thấy Mộ (Hoàng Kiều Giang - Truyện dài, 1990)
-       Trên Đỉnh Tình Yêu (Hoàng Kiều Giang - Truyện dài, 1990)
-       Cuối Đường Tuyệt Vọng (Hoàng Kiều Giang - Truyện dài, 1991)
-       Tại Ngục Vịnh Kiều (Tạp luận, 1996)
-       Tiếng Kêu Của Máu (The Red Dragon - Phóng tác, 1996)
-       Mang Xuống Tuyền Đài (The Chamber - Phóng tác, 1998)
-       Dữ Hơn Rắn Độc (Deadlier Than The Male - Phóng tác, 2000)
-       Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (Tạp luận, 2000)
-       Mùa Hạ Hai Mươi (Truyện dài, 2000)
-       Đất Hồ Ngàn Năm (Tạp bút, 2001)
-       Sống & Chết Ở Gàigòn (Ký sự, 2002)
-       Thiếu Phụ Chiếc Xe Khẩu Súng (La Dame Dans L'auto - Phóng tác, 2002)
-       Viết Ở Rừng Phong (Tạp bút, 2004)
-       Sài Gòn Vang Bóng (Tạp bút, 2011)
-       Công Ty Rửa Tiền (The Firm - Phóng tác, 200?)
-       Báo Cáo Bồ Nông (The Pelican Brief - Phóng tác, 200?)

***

--> Read more..

Popular posts