Thứ Hai, 22 tháng 7, 2019

Khôn chết… Dại chết… Biết sống

Hành khách đang xếp một hàng dài trước quầy làm thủ tục lên máy bay. Một chị ăn mặc lịch sự cũng đang xếp hàng nhưng ở tận đuôi, không biết chừng nào mới đến lượt mình. Chị nghĩ ra một kế rất “khôn” nên thực hiện ngay.

Chị tiến lên nhóm người ở gần quầy, chọn một hành khách lớn tuổi và có vẻ quê mùa để bắt chuyện. Hai người nói chuyện có vẻ tâm đắc khiến những người khác trong hàng cứ tưởng là mẹ con. Và thế là chị có một chỗ gần quầy làm thủ tục, tiết kiệm được nhiều thời gian chờ đợi.

Chị tâm đắc với “sáng kiến” của mình… Chị nghĩ, sống ở thời buổi này phải khôn mới được… chứ cứ an phận sẽ chịu nhiều thiệt thòi. Lát sau có một ông đứng tuổi xếp sau chị mấy người tiến đến chỗ hai người. Ông nhẹ nhàng nói:

“Nếu cô đã nói hết chuyện với bà đây thì cô nên về lại chỗ mình xếp hàng. Chen vào hàng như cô khiến những người biết chuyện “khôn lỏi” của cô như tôi đây rất lấy làm khó chịu. Ở đời cần sự công bằng chứ không sẽ loạn!”

Hóa ra cái khôn của cô gái chỉ là… “khôn lỏi”. Cô chỉ khôn theo suy nghĩ của một người chỉ nghĩ đến bản thân mình nhưng lại “phớt lờ” những người xung quanh.

Khoa học đã chứng minh “chỉ số thông minh” (IQ: Intelligence Quotient) quyết định mức khôn ngoan của con người, tuy nhiên, IQ không phân biệt sự thông minh đó là khôn ngoan hay khôn lỏi.

IQ chỉ có thể xác định nức độ thông minh theo bậc thang từ cao nhất là trên 160 điểm dành cho các “thiên tài” và thấp nhất, từ 1-70, dành cho những người đần độn. Mức độ IQ trung bình của chúng ta là khoảng từ 85 đến 115.


Tục ngữ có câu “khôn sống, mống chết” nhưng chưa chắc… khôn là sống mà dại là chết. Thế cho nên, đã từ lâu lắm rồi, Trang Tử mới phải thốt lên: “Khôn chết, dại chết… biết sống”.

Khôn như cái khôn của cô gái xếp hàng rồi cũng dẫn đến thất bại khi có người chỉ ra đó chỉ là sự “khôn lỏi”. Còn cái vế thứ hai về “dại” chắc không cần phải nhiều lời bàn cãi. Xin kể lại truyện của Trang Tử cùng các học trò trên đường ngao du thiên hạ.

Thấy một cây thật to, tiều phu đứng ngay bên cạnh mà không đốn nên các đệ tử hỏi nguyên do vì sao. Trang Tử đáp: “Vì nó không dùng đặng nó chỗ nào hết. Cây nầy vì bất tài mà đặng sống lâu”.

Trang Tử ghé vào nhà người quen, chủ nhà mừng rỡ hối trẻ làm thịt gà. Người nhà hỏi: “Có một con biết gáy, một con không biết gáy, giết con nào?” Chủ nhà nói: “Giết con không biết gáy”.

Học trò thắc mắc và thưa với sư phụ: “Hôm trước cái cây trong núi vì bất tài mà sống, còn con gà vì bất tài mà chết. Giá như Thầy phải xử trí làm sao?”

Trang Tử cười nói: “Tài và bất tài, cũng đều như nhau… nên không thể tránh khỏi lụy thân... Chỉ có kẻ nào biết... là sống mà thôi...”    

  Trang Tử gần như đối lập với đạo Khổng mang bản thể trần tục, ưa thực tế, trọng thực nghiệm và đặc biệt tôn trọng chủ nghĩa nhân văn 

Biết lúc cần tỏ ra khôn ngoan nhưng cũng biết lúc đóng vai dại dột nghĩa là biết đắn đo giữa “thời” và “thế”. Khi hiểu được thời thế tức là đã sống vậy!

Ấy vậy mà biết được chữ “Thời” đâu phải dễ vì “thái quá” là dở, mà “bất cập” cũng không phải là hay. Phần đông người ta chỉ “biết tiến, mà không biết thối; chỉ biết giữ cho còn, mà không biết làm cho mất; chỉ biết lấy cho được mà không biết buông bỏ...”.

***

Già nửa đời người mới ngộ ra Khôn chết, Dại chết… chỉ Biết mới sống. Nhưng thôi, thà biết trễ còn hơn chẳng biết!

***

--> Read more..

Thứ Năm, 18 tháng 7, 2019

Origami… Một thời gấp giấy

Ngày xưa, ở vào tuổi học trò, gần như ai cũng có một thời dùng giấy để gấp thành hình máy bay, chiếc thuyền… Đặc điểm của những “tác phẩm nghệ thuật” này không phải chỉ đơn thuần để ngắm nhìn mà còn có cơ hội được chiêm ngưỡng những “kỳ công” của mình vào thực tế.

Với chiếc máy bay sau khi được gấp, cô cậu học trò ngày đó còn có thể phóng lên trời và thấy máy bay do mình “chế tạo” cũng bay lượn, dù chỉ trong thời gian ngắn ngủi trước khi… đáp xuống đất! Đầu óc non trẻ làm gì thắc mắc đến chuyện mà người lớn thường mỉa mai “tầu bay giấy” để chỉ những chuyện… không tưởng!

Một kiểu máy bay giấy

Chiếc thuyền xếp bằng giấy sau khi được “hạ thủy” vẫn nổi trên mặt nước và nếu dùng miệng thổi thay gió vẫn lênh đênh trên mặt nước, lững lờ trôi chứ không chìm! Thế là thả hồn mơ mộng đến chuyện sông nước. Tuyệt nhiên không bao giờ có thể tưởng tượng đến việc sau này mình cũng lênh đênh trên biển để làm… thuyền nhân!

Thuyền giấy

Hồi đó, học trò ngây thơ chỉ biết gấp giấy thành một thứ đồ chơi “của con nhà nghèo” vì chỉ là một tờ giấy bỏ đi, không phải tốn một xu. Khi lớn lên mới hiểu đó là cả một nghệ thuật gấp giấy mà người Nhật gọi là Origami.

Origami là cách gấp đơn giản để biến miếng giấy hình chữ nhật hay hình vuông chỉ có 2 chiều (dài và rộng) thành một tác phẩm có đủ cả 3 chiều như trong thực tế. Quả là một bước nhảy vọt từ 2 sang 3 chiều (dài, rộng và cao). Bây giờ người ta lại còn nói đến một chiều thứ 4 có phần trừu tượng, đó là chiều Thời gian, với bất cứ một vật thể nào!

***

Người Trung Hoa thường tự hào là “ông tổ” của nghệ thuật xếp giấy, có từ thế kỷ thứ 1 hay 2 gì đó, họ gọi đó là Chiết chỉ (折纸). Cách xếp giấy của họ rất khác với Origami của Nhật.

Nghệ thuật xếp giấy của Trung Hoa bị mai một và đi vào quên lãng trong khi Origami của người Nhật ngày càng phát triển kể từ thời Edo (1603-1867). Trước đó, vào triều đại Muromachi (1392–1573) cũng đã có Origami.

Origami có thể đơn giản như chiếc thuyền hay máy bay giấy chúng ta thường gặp, nhưng cũng có thể hết sức phức tạp như hình rồng, phượng, tháp Eiffel. Người Nhật xem Origami như một phần văn hoá và truyền thống đất nước hơn là một hình thức nghệ thuật.

Một trong số những mẫu Origami được biết tới nhiều nhất là hình con hạc. Con hạc là điềm tốt lành theo quan niệm của người Nhật. Truyền thuyết kể rằng ai gấp được 1000 con hạc giấy có thể biến điều ước thành sự thật. Các võ sĩ đạo Samurai thường tặng nhau những món quà được gấp từ giấy theo phong cách Origami và được thực hiện theo lễ nghi truyền thống của Samurai.

Con hạc giấy

Đôi hạc giấy

Hạc giấy còn được dùng trong các đám cưới của người Nhật

Những con hạc giấy đủ màu sắc

Ngàn cánh hạc

Học sinh Nhật Bản bên cạnh những hình giấy tự xếp

***

Origami là một nghệ thuật nhẹ nhàng nhưng lại tỉ mỉ. Nó đã chứng minh trong rất nhiều trường hợp có tác dụng làm êm dịu thần kinh, chữa bệnh mất ngủ và chống stress. Nhiều bác sĩ và chuyên gia vật lý trị liệu đã dùng Origami như một liệu pháp bổ ích về vật lý và tinh thần.

Việc tạo được mẫu Origami mới liên quan đến rất nhiều quy tắc hình học. Không phải ngẫu nhiên mà các “cao thủ” Origami sáng tác được những mẫu phức tạp. Họ có phương châm "Bạn nhìn thấy gì, tôi tưởng tượng được; Bạn tưởng tượng gì, tôi gấp được."

Một số nơi trên thế giới đã đưa Origami vào thành một môn học, khởi điểm là ở mẫu giáo. Việc gấp giấy đem lại cho trẻ nhiều nhận thức hình học, và cả hình học trừu tượng: nhận biết hình tam giác, hình vuông, hình lục giác, tia phân giác một góc, đoạn thẳng, các đường nét, hình không gian, các khối 3 chiều...

Các con thú xếp theo phong cách Origami

Con bò rừng, xếp bằng giấy ướt

Con rồng giấy

Những con bướm

Origami phức tạp

Cánh hoa và bình hoa bằng giấy

Hình trái tim

Origami và sự phối mầu

Origami trang trí cây Giáng sinh
Origami hình ngôi sao

***

Robert J. Lang là một nhà vật lý người Mỹ đồng thời cũng là một trong những nghệ sĩ Origami. Ông được biết đến với nhiều sáng tác phức tạp và ấn tượng, đặc biệt là những mẫu về động vật và côn trùng.

Robert Lang và tác phẩm chim hạc

Robert Lang gấp quốc kỳ Mỹ, với 50 ngôi sao, 15 sọc trắng và 13 sọc đỏ từ một tờ giấy vuông không cắt

Robert J.Lang biết đến nghệ thuật gấp giấy từ năm 6 tuổi nhờ một giáo viên của ông sau khi đã thử mọi phương pháp khác giúp ông hứng thú trong học tập. Từ thời niên thiếu, Lang đã bắt đầu tự sáng tác những mẫu gấp riêng của mình. Origami cũng là môn nghệ thuật giúp ông giải tỏa những áp lực khi còn đang học đại học.

Chim bồ câu của Lang

Kỹ thuật của Lang khi gấp hình con bò cạp

Thiên nga


Những tác phẩm của Robert Lang

***

Một “cao thủ” Origami khác là Won Park. Anh là người Mỹ gốc Đại Hàn và bước vào thế giới Origamin cũng từ năm lên 6.  Có thể nói, Park là người “sáng lập” trường phái Origami được gấp từ những tờ tiền giấy, đó là những tờ 1 hoặc 2 đô la!

Theo anh, tiền giấy có chất lượng rất tốt trong việc gấp, giấy vừa dai lại vừa bền. Anh chỉ chọn đồng tiền có giá trị thấp vì lý do… không muốn phí phạm khi dùng để giải trí.

Cao thủ Origami Won Park và những đồng đô la giấy

Won Park và tác phẩm xếp từ các đồng đô la

Con bướm của Won Park

Chim... giấy

Chuồn chuồn... có cánh thì bay!


"Tàu bay giấy"

Xe hơi giấy... nhưng không phải là hàng mã cho người âm!

Khẩu súng... bằng tiền

Trái tim... giá $1
Những tác phẩm của Won Park

***

--> Read more..

Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2019

Đọc lại Bùi Bảo Trúc


Các bạn trẻ ngày nay chắc ít người biết đến Bùi Bảo Trúc (1944-2016) vì một lẽ dễ hiểu: ông là viên chức chế độ cũ và mãi đến năm 1977 ông mới chính thức bước vào làng văn, làng báo khi tỵ nạn tại Hoa Kỳ.

Bùi Bảo Trúc theo gia đình di cư vào Nam và tốt nghiệp Tú tài Toàn phần (Ban C) năm 1963 tại Sài Gòn. Sau đó, ông du học Tân Tây Lan và trở về nước năm 1965 để dạy tiếng Anh tại Hội Việt Mỹ và Trường London School của giáo sư Nguyễn Ngọc Linh.

Bùi Bảo Trúc trở thành công chức khi ông làm việc tại Phủ tổng ủy Dân vận và Chiêu hồi của Hoàng Đức Nhã. Đến năm 1973 ông là phát ngôn viên chính phủ VNCH. Năm 1974 ông làm việc tại Tòa Đại sứ Việt Nam tại Anh quốc và 30/4/1975 ập đến, ông qua Canada vào tháng 6 cùng năm.

Năm 1977, ông sang Hoa Kỳ và làm việc cho đài VOA tại Washington D.C. cho đến khi về hưu năm 2001. Đó là khoảng thời gian ông tạo nên một sự nghiệp văn chương với một loạt bài viết lấy tựa đề “Thư gửi bạn ta” rất được người đọc tán thưởng.

Ngoài ra, ông còn cộng tác với đài Little Saigon Radio và Hồn Việt TV trong hai chương trình “Ngày này năm xưa”“Chào hoàng hôn” được phát hình hàng ngày. Chỉ sau vài tháng trở bệnh, Bùi Bảo Trúc trở về với cát bụi ngày 16/12/2016 tại Fountain Valley, California.

Bùi Bảo Trúc (1944-2016)

Người đọc Bùi Bảo Trúc thích ông có lẽ vì ông có một giọng văn trào phúng rất “đời thường” về những chuyện xảy ra cả ở trong nước lẫn hải ngoại. Thế nhưng, với cách viết “tưng tửng” đó lại mang một ý thức hệ “chính trị” rất… nghiêm túc. Chẳng hạn như bài viết “Chuyện… cái nòn” (*), người đọc vừa buồn cười lại vừa thấy Bùi Bảo Trúc bài bác và “dị ứng” với cái “nón cối” xuất hiện sau năm 1975 như thế nào.

Trong “Thư gửi bạn ta” đề ngày 9/9/2016, tác giả “nhại” lại bài văn “Tôi đi học” của Thanh Tịnh bằng “Hôm nay tao đi học”. Câu chuyện xoay quanh một cậu học sinh thuộc loại “trẻ trâu” dưới mái trường của thời đại ngày nay, xưng “tao” một cách ngọt sớt:

“Hôm nay là hết những ngày lang thang bẻ me trèo sấu của bọn chúng tao, thế là lại phải quần áo để trở lại trường. Tao ghét nhất là cái khăn đỏ lúc nào cũng phải đeo trên cổ đã suốt mấy năm nay mà không đeo thì không được. Không đeo là bị kiểm điểm ngay. Mà tao biết ngay cả cái đứa đem tao ra kiểm điểm chính nó cũng chẳng ưa gì cái trò tròng cái khăn ấy vào cổ. Tao biết điều đó vì chính thằng con của nó nói với bọn tao chứ đâu. Nó là con mụ chủ nhiệm một lớp trong cái trường này. Thôi thì quàng vào cổ cho đủ lệ bộ….”

Cậu học trò thời nay trở lại trường cũng vui chứ không buồn như mọi người tưởng. Năm học mới cậu có “đồ chơi” mới trong túi. Không phải là mấy món đồ chơi Trung quốc rẻ tiền, cũng không phải là mấy cái “gêm” vớ vẩn, chơi vài bữa là hỏng. Đó là chiếc điện thoại di động mà ngày nay người ta gọi là… con dế!

“Trong túi tao có con dế rất sịn. Mẹ tao gửi tiền từ Đài Loan về cho tao mua nó. Tao chắc mẹ tao muốn tao im mồm về chuyện mẹ tao gì gì với thằng đàn ông mẹ tao ấm ớ với nó ở Cao Hùng từ mấy năm nay. Ối giời ơi, làm gì thì làm chứ dính dáng gì với tao nữa. Tao lo được thân tao. Ông bà nội ngoại tao tháng tháng có ít tiền gửi về là vui rồi, con chị tao hát karaoke trong cái quán khu Cửa Nam son phấn kiểu sao Hàn quốc thì kệ nó. Hai năm nay nó không còn làm phiền tao nữa. Con dế mới của tao là con Samsung 7”.

Đọc đến đây người ta hiểu cậu học trò đang sinh sống tại thủ đô. Ngôn ngữ của cậu là một thứ “hiện đại” một cách tự nhiên như người Tràng An thời @! Theo như lời kể, cậu có ông bố cũng rất “đặc biệt”. Vì sao ư? Cậu viết về bố:

“Ông ấy ngày nào cũng mang về một đống đồ mà tao thừa biết là ông ấy lấy từ Nội Bài, nơi ông ấy làm việc bốc rỡ hành lý ở phi trường. Bố tao kiếm được khá lắm: bao nhiêu là quần áo, đồ điện tử, máy móc sịn cho con nhân tình của ông ấy bán ra ngoài chợ nên tiền bạc lúc nào cũng đầy túi có tiền đi ăn uống bia rượu, gái gú ngày nào cũng như ngày nào nên mẹ tao muốn làm gì với thằng ở Cao Hùng, Đài Loan cũng được.”

Cuối cùng thì cậu học trò cũng tìm ra một thứ triết lý rất… “thời thượng”. Đi học thì vẫn cứ đi, nhưng học để là gì lại là một chuyện khác. Những tấm gương của người đi trước là bài học “sâu sắc” đối với cậu:

“Tao thấy bây giờ chỉ cần tiền như bố tao nói. Có tiền là muốn cái éo gì cũng có. Muốn có tiến sĩ, thạc sĩ cũng có ngay. Việc éo gì phải học. Có thằng chẳng bao giờ ra khỏi nước, mà vẵn có bằng ở Mỹ, có đứa trong rừng ra vẫn xưng có bằng cử nhân luật thì tại sao tao phải mài nát cái đũng quần ở cái trường khốn nạn này… Nhưng hôm nay tao vẫn đi học.”

Bùi Bảo Trúc… những ngày cuối đời

Ngày 5/8/2016, Bùi Bảo Trúc viết một bức thư với nhan đề “Fashion Show” về một cuộc biểu diễn thời trang mà cho đến bây giờ cộng đồng mạng vẫn còn nhắc tới. Cách đây 3 năm chưa có vụ 300 chiếc áo dài của nhà thiết kế thời danh VVC dành cho quan chức, bức thư mở đầu bằng những dòng sau:

“Em thua tôi 10 tuổi, nên có gọi bằng "em" thì cũng đúng. Đọc tiểu sử của em thì em gốc gác người Bến Tre, lên Sài Gòn ghi tên học ở Đại Học Văn Khoa năm 1973 nhưng chỉ khoảng hơn một năm sau, việc học của em bị gián đoạn vì "chính quyền Cộng Hòa Miền Nam kiểm soát toàn bộ miền Nam…”

Đó là ngày 30/4/1975, khi Sài Gòn được đổi tên. Trong buổi lễ tuyên thệ nhậm chức, “người đẹp” của Bùi Bảo Trúc được mô tả một cách hài hước như sau:

“Người ta chú ý ngay đến chiếc áo thêu hoa hoét em mặc. Đó là một chiếc áo dài rất kiểu cọ, không hề giống như những chiếc áo của mấy em đười ươi khác. Áo em mặc có cổ thấp, vai raglan, mầu sắc tươi tắn hoa hòe hoa sói tưng bừng, khiến phe chợ Đồng Xuân phát điên lên vì ghen tức.

“Và cũng từ đó, em xuất hiện nhiều hơn, lần nào cũng áo dài kiểu cọ rất dã man, cứ như vừa đi vừa ưỡn ẹo "la plus belle pour aller danser..." không bằng. Những chiếc áo em mặc đều được may khá đẹp, trước ngực có thêu hay vẽ như những chiếc áo của các buổi trình diễn thời trang áo dài. Thôi thì đủ kiểu cổ cao, cổ thấp, cổ thuyền... nhưng vẫn phải là tay raglan mới được…

(hết trích)

Quả thật, Bùi Bảo Trúc hài hước đến độ chua chát. Người đọc còn ngỡ ngàng hơn nữa khi đọc tiếp bức thư:

“Nhưng những chuyện như vậy thường hay đi những bước quá độ. Em mặc áo dài kiểu cọ lia chia. Mỗi lần xuất hiện là lại phải một chiếc áo với một design mới, cho dù là để cho cá ăn cho Obama tởn hồn hay vài ba dịp khác.

“Nhưng gần đây, em thừa thắng xông lên khiến em lộ nguyên hình một con nhà quê bầy đặt học làm sang nhân dịp em xuất hiện cạnh mấy đười ươi đực trong buổi lễ thương binh liệt sĩ. Trong khi mấy đười ươi đực mặc Âu phục, ca vát thì em chơi nguyên một quả áo dài đỏ loét hoàn toàn không thích hợp trong một dịp cần một (chút) không khí trang nghiêm.

“Em lại chơi một quả fashion show trình diễn thời trang cho bõ những ngày cơ cực. Em không hề biết trang phục cũng phải cho hợp thời và đúng lúc: không phải lúc nào cũng có thể y phục giống như mọi lúc.

(hết trích)

Tuyên thệ nhậm chức Chủ tịch Quốc hội

Chuyện Việt Nam còn nhiều lắm, kể không hết. Xin điểm qua vài chuyện bên Hoa Kỳ, nơi Bùi Bảo Trúc sống cho đến ngày cuối cùng. Trong bài “Nỗi buồn Phây Búc” tác giả  tiết lộ tình trạng “chậm tiến” của mình trong khi thiên hạ ở Mỹ đang rầm rộ tham gia “phong trào” Facebook:

“Cho đến tận cuối tháng 8 của năm 2015, hôm tôi đến thăm một người bạn và phải nuốt một cục tự ái to tổ chảng, bẽn lẽn thú nhận là chưa có phây búc, cũng không biết phây búc là gì. Người bạn hỏi là có muốn có phây búc không rồi khi được trả lời là có, thì người bạn hỏi thêm dăm ba câu về thân thế, về cuộc đời ái tình và sự nghiệp (không huy hoàng mấy), và những ngón tay thoăn thoắt của nàng lập cho tôi một phây búc cho đỡ mắc cở với bạn bè…”

Kể từ ngày có “phây búc”, cuộc sống của ông đã thay đổi nhiều lắm. Kèm theo là những chuyện bực mình vô cớ.

“Tôi phải nạp thêm điện vào điện thoại mỗi ngày hai lần thay vì một lần như trước. Lý do là thời gian mà tôi ngó vào cái điện thoại rõ ràng là đã gia tăng. Thời gian nhìn vào cái computer giảm bớt đi nhiều. Nhưng vừa có phây búc thì tôi liền thấy mình nộ khí xung thiên ngay lập tức. Dựa trên mấy chi tiết bạn tôi cung cấp, phây búc liền ghi xuống một chi tiết tôi không bao giờ đồng ý và cung cấp. Phây búc tự tiện cho tôi là người của thành phố Hồ Chí Minh!”

Tuy bực mình nhưng Bùi Bảo Trúc lại ghiền “phây búc” từ lúc nào không biết. Cứ vài ba phút ông lại mở smart phone, chỉ để check xem có ai like bài viết của mình hoặc click vào vài ba cái trang của mấy hãng tin, dăm ba trang của friends xem có gì mới không.

Thường thì mỗi lần như thế thì cũng chẳng có gì mới. Đúng ra, cũng chỉ toàn những chuyện không đâu. Nhưng chuyện mở “phây búc” trở thành một thói quen, đúng ra là một hành động vô thức, không vì một lý do cụ thể nào cả.

“Tự nhiên những chuyện ớ đâu đâu đập vào mắt, bất kể tôi có đi kiếm hay không. Có những chuyện hoàn toàn vô bổ, có lẽ cũng chẳng có bao nhiêu người quan tâm hay muốn biết. Một cái sinh nhật, một món ăn vừa được thưởng thức, một cái áo mới, một quen biết tình cờ mới gặp lại, một đứa con, một đứa cháu mới ra đời, một chuyến đi mới thực hiện…”

Những chuyện đại loại như vậy được “bốt” (post) lên thì cũng chẳng sao, cũng chẳng gây phiền não cho bất cứ ai. Nhiều khi những chuyện đó lại làm được việc thông báo một số chuyện về những quen biết lâu không gặp hay không có tin tức.

Thế nhưng nhiều khi “phây búc” cũng lại rất vô tình. Cũng không thể trách những vô tình đó được. “Phây búc” nhận được gì thì “bốt” lên cái ấy. Thí dụ một bản tin về một người bị tai nạn mất hết khuôn mặt, mắt mũi, hay về một phụ nữ trẻ bị vẩy nến vừa qua đời… rồi ngay phía dưới là những bức ảnh của một phụ nữ uốn éo với những trang phục rất đẹp được mời đi dự một party sang trọng!

Đồng ý là “phây búc” không có lỗi trong những chuyện như thế. Mà thật ra cũng chẳng phải là những cái lỗi nào hết. Chúng ta vẫn phải sống đời sống của chúng ta bất kể những chuyện gì đang xẩy ra chung quanh. Không một ai có lỗi cả. Và Bùi Bảo Trúc kết thúc bất ngờ:

“Đọc mấy trang phây búc này bỗng chán đời không thể tả được. Thà không có trang phây búc còn hơn…”

Nỗi buồn Facebook

Bây giờ chúng ta theo chân Bùi Bảo Trúc đến với cuộc sống tại xứ “tư bản giãy chết”. Theo ông, người Mỹ sống ở hai miền Đông và Tây rất khác nhau. Ít nhất là ở một chuyện. Đó là chuyện xe cộ và quần áo.

“Người Mỹ ở miền đông thích quần áo hơn người miền tây. Mấy năm trước nhân sinh nhật của cậu bé con một gia đình tôi quen ở New York, tôi muốn mua cho cậu một món quà nhưng không biết mua gì. Tôi điện thoại hỏi thì cậu cho biết là muốn có một cái t-shirt nhưng phải là của Armani Exchange mới được. Tôi hỏi mấy người mới biết tiệm ở đâu. Cuối cùng rồi cũng kiếm ra tiệm ở South Coast Plaza. Tôi mua một chiếc mầu đen đúng như lời căn dặn cho sinh nhật thứ 12 của cậu. Cái áo tôi thấy không đẹp đẽ gì cho cam nhưng cái debit card của tôi bị trừ nghiến đi $75. Đó là người New York 12 tuổi.

“Người miền tây thì thích xe hơi. Tôi được nghe kể một cậu nhỏ một hôm nhất định không chịu để mẹ đón ở cổng trường vì hôm đó, mẹ cậu đến bằng chiếc Corolla mượn của người bạn cùng sở vì xe của mẹ cậu, chiếc Lexus, bị trục trặc máy. Cậu sợ các bạn biết là cậu phải lên chiếc Toyota Corolla mẹ cậu lái đến trường hôm ấy. Cậu là người California, cũng 12 tuổi.

(hết trích)

Trong bài “Mua xe Cali”, Bùi Bảo Trúc nhận xét người California cẩn thận với xe của mình, họ đối xử nhẹ nhàng với nó hơn, không phá xe như người ở các tiểu bang khác nên nếu mua xe cũ thì nên mua ở California.

Cứ lái xe đi ở trên những con đường ở California là thấy ngay. Người lái xe rất gượng nhẹ với những chiếc xe họ lái, chủ xe ở California giữ gìn xe hết sức cẩn thận. Ngoài chuyện những cái gạt nước ít khi phải dùng tới vì California ít mưa, người ta còn ít dùng và hà tiện luôn cả việc sử dụng những cái đèn hiệu khi quẹo trái hay quẹo phải nữa!

“… Rất ít người dùng đèn signal để ra hiệu cho những người lái xe khác biết họ sắp quẹo. Những người ấy, nếu biết cách, chắc họ còn sửa luôn cả những cái đèn stop để khi đạp thắng, đèn sẽ không báo xe sắp stop cho đỡ tốn điện và không cháy bóng rồi hư thì … khổ.

Ngoài những đức tính “trùm sò” đó còn phải nói đến những khuôn mặt quạu cọ từ những “parking lot” lao ra nhập vào đường lớn mà cũng không thèm ban cho nhân gian một nụ cười! Dân Cali là vậy đó.

Xe cũ Cali

***

Bình luận về Bùi Bảo Trúc, Báo Người Việt Online qua bài viết của Trần Mộng Tú cho rằng “Bùi Bảo Trúc tài hoa và lận đận”. Ông có một đời sống nhiều thay đổi, ông như ngựa chạy đường trường, không dừng vó lâu được. Cũng có thể ông là một con ngựa chứng, cần một “nài” giỏi mà ông chưa may mắn gặp, nên cuối đời không được vui.

“Bùi Bảo Trúc, một đời người với chữ nghĩa. Ở nơi nào anh tới, có truyền thanh, truyền hình, báo chí là có anh cộng tác. Những bài viết của anh được độc giả ưa chuộng tìm đọc nhiều nhất dưới tựa đề “Thư Gửi Bạn Ta” Anh viết rất sâu sắc, thông thái, chua chát với đời sống, cười cợt với con người, mắng mỏ kẻ ác, chế diễu Cộng Sản… trong suốt bao nhiêu thập niên tung hoành trên báo giấy rồi đến những trang mạng. Chưa có ai viết như anh. Chưa có ai mỗi khi viết, gửi vào bài viết những lầu thông kim cổ như anh. Văn Học Tây Phương, Đông Phương anh thu thập và nhớ rất nhiều…”

Đinh Quang An Thái của Little Saigon Radio lại tóm gọn 3 chữ Tâm, Tài và Tật dành cho Bùi Bảo Trúc. Tâm & Tài có lẽ là chuyện khỏi bàn, còn về Tật, An Thái viết:  

“Nhưng cũng phải nói, anh nhiều tài và cũng lắm “Tật” nên bị không ít người ghét, vì anh không kiêng dè, không chấp nhận những giả trá hay thói rởm của người khác, nhất là khi liên quan đến ngôn ngữ. Không biết bao nhiêu lần, anh cay nghiệt nói như vỗ vào mặt người khác – ngay cả trên radio, trên mặt báo. Anh còn bị cả cánh đàn ông và các bà ghét vì anh… đào hoa quá. Thực tình chẳng ngoa, anh cũng gieo rắc buồn phiền cho nhiều người và anh biết điều đó chứ chẳng phải không. “Chữ TÀI liền với chữ TAI một vần,” cụ Tiên Điền Nguyễn Du mấy trăm năm trước đã nói thế rồi cơ mà…”

Lễ tưởng niệm nhà văn Bùi Bảo Trúc

*** 
(*) Đọc Chuyện “Cái Nòn” tại

***

--> Read more..

Thứ Hai, 8 tháng 7, 2019

Thuật xử thế của người xưa


Văn hào Đức, Hermann de Keyserling, kể lại một câu chuyện ngộ nghĩnh:

“Một mục sư kia nói với đứa con trai 15 tuổi của ông: Từ 15 đến 20 tuổi, cha cho con có quyền tin tưởng con thông minh hơn cha; Từ 20 đến 25 tuổi, cha cũng cho con có quyền tin tưởng con thông minh bằng cha; Nhưng, từ 25 đến 30 tuổi thì cha bắt buộc con phải nhìn nhận cha thông minh hơn con một cách tuyệt đối”.

Đó là những lời Thu Giang Nguyễn Duy Cần viết trong lời “Phi lộ” của cuốn sách “Thuật xử thế của người xưa”. Tôi còn giữ được bản in lần thứ hai của nhà xuất bản Phạm Văn Tươi, năm 1956, do ông cụ thân sinh để lại.

“Thuật xử thế của người xưa”, bản in năm 1956

Ngày xưa, tại Sài Gòn, Nhà xuất bản Phạm Văn Tươi, với châm ngôn “Nỗ lực rồi cậy trông”, đã in rất nhiều sách, được phân thành các loại như “Tuổi thơ”, “Học và Hiểu” và “Học làm Người”… rất bổ ích cho người đọc.

Ngoài các tác phẩm thuộc loại “Học làm Người” của tác giả Thu Giang Nguyễn Duy Cần như như “Cái dũng của thánh nhân” (1950); “Óc sáng suốt” (1951); “Thuật tư tưởng” (1952)… ông còn có “Thuật xử thế của người xưa”.

Ngày nay, các bạn trẻ có thể đọc “Thuật xử thế của người xưa” trên mạng nên bản in trên giấy chỉ còn là loại sách cổ, được giữ làm kỷ niệm văn hóa của một thời đã qua. Thời gian khiến bìa sách cũ có thể đã tả tơi, những trang sách đã ngả màu theo năm tháng… tất cả chỉ còn là kỷ niệm của một thời.

Tuy nhiên, đối với những người chơi sách cổ vẫn luôn là một đam mê, nhưng sự đam mê đó ngày một mai một với những người lớn tuổi, gần đất xa trời. Âu đó cũng là quy luật của cuộc sống, gói trọn trong 4 giai đoạn “Sinh, Lão, Bệnh, Tử”.

Bìa sau “Thuật xử thế của người xưa”

Trở lại với Nguyễn Duy Cần trong “Thuật xử thế của người xưa”, tác giả tâm sự:

“Chưa kinh nghiệm mà nghe bàn đến cái khôn ngoan do kinh nghiệm mà có kia, làm sao tin được, làm sao không mỉm một nụ cười ngờ vực được...

“Tôi đã từng sống qua cái tâm sự của thanh niên, tôi cũng đã từng mỉm một nụ cười ngờ vực... Nhưng hôm nay, tôi không còn giữ được nụ cười ấy nữa... Cái hay của cổ nhân, cũng như cái dở của cổ nhân, đều có thể là những bài học thâm trầm cho ta tất cả...

(hết trích)

Thuật xử thế được Nguyễn Duy Cần viết dưới dạng những chủ đề như Lòng tự ái, Chữ Lễ của Á Đông, Có tài mà cậy chi tài, Ân và Oán, Đạo Cương Nhu, Biết… Sống, Tâm sự của Khuất Nguyên. Cái hay là tác giả luôn có những danh ngôn của người xưa về từng chủ đề được trình bày. Đây là bố cục giúp người đọc tìm ra được ý chính trước khi đọc những lời bàn.

Chẳng hạn như bàn về lòng tự ái, tác giả cho rằng dù là một kẻ tầm thường đến đâu chăng nữa, bao giờ cũng cho ý kiến mình là quan trọng và đúng hơn tất cả. Thế cho nên, “cái tôi” có phải là dễ ghét đâu theo như lời của Blaise Pascal (Le moi est haissable).

Trái lại, đó là cái chữ dễ yêu nhất trên đời. Nhưng, vì ta đã quá nâng niu chìu chuộng nó... mà thành ra cách xử thế đã gây không biết bao nhiêu sự vụng về, ân hận, đau khổ, tai ương. Và cũng chính vì thế mà Pascal mới thốt ra câu nói chua cay: "Cái tôi rất đáng ghét".

Theo tác giả, “cái tôi” chẳng những dễ yêu mà nó lại là trung tâm điểm của mọi chuyện, hay nói một cách khác, “cái rốn của vũ trụ” (nombrilisme). Bao nhiêu sự vật trong đời, chung quy đều quây quần theo cái cốt ấy, đó chính là… Bản ngã.

Nguyễn Duy Cần viết:

“Dùng cường lực, dùng uy thế mà bức người phải nghe theo mình, không bao giờ làm được; mà dầu có làm được đi nữa thì cũng chỉ là một việc làm có thể được tạm thời thôi.

“Ở đời không ai có thể chịu nhận mình là quấy cả. Dầu là tay đại gian, đại ác như Tào Tháo cũng không chịu nhận mình là gian ác. Tào Tháo thường xưng mình là vì dân vì nước, mà Lưu Bị cũng tin mình vì nước vì dân. Godse, người ám sát Gandhi mà thiên hạ phần đông nguyền rủa, vẫn tươi cười trước khi chịu tử hình.

“Bởi vậy, bàn cãi với người và muốn đem cái lẽ phải của mình ép buộc họ phải nghe theo thì chắc chắn không bao giờ được, lại còn gây thêm lắm điều không hay khác trong tình giao hảo hằng ngày.

(hết trích)

Tự ái khiến con người ra vẻ như sống chứ không thực sự hiện hữu. Những người tự ái thường mơ mộng về cuộc đời của mình hơn là sống thực. Lòng tự ái khiến cuộc đời chỉ là một ảo tưởng, người ta chỉ lừa dối nhau và tâng bốc lẫn nhau.

Đức Phật dạy: “Kẻ thù lớn nhất đời người là… chính mình”. Nói cách khác, đó là “chấp ngã”. Đức Phật đã phân tích sâu hơn vì “chấp ngã” mới là nguyên nhân của lòng tự ái.

“Kẻ thù lớn nhất đời người là… chính mình”

Bàn về Ân và Oán, Nguyễn Duy Cần cho rằng “Ân càng thâm thì oán càng sâu” bởi vì người ta bao giờ cũng thích người mình ban ân hơn là người mình thọ ân. Mới nghe qua cứ tưởng như một nghịch lý nhưng đó lại là điều nằm sâu kín trong tư tưởng của mỗi con người.

Đoạn kết của vở kịch “Cuộc hành trình của ông Perrichon” (Le Voyage de Monsieur Perrichon) đã khiến nhiều người ngạc nhiên. Perrichon cùng vợ và con gái đi du lịch ở Thụy Sĩ. Tháp tùng trong chuyến đi còn có hai chàng trai trẻ Armand và Daniel, cả hai đều thích tiểu thơ Perrichon.

Armand được cái hân hạnh là cứu Perrichon ba lần: lần đầu ở tại Montauvert, khi Perrichon bị té ngựa. Lần thứ nhì Armand “dàn xếp” ổn thỏa khi Perrichon bị thưa về tội phỉ báng. Lần thứ ba, chàng lại cứu Perrichon khỏi cuộc so gươm với một võ quan.

Còn chàng Daniel, thay vì “thích ra ơn” lại “thích chịu ơn”. Chàng khôn khéo làm bộ té hố để Perrichon có dịp ra ơn cứu chàng... Bởi vậy, Perrichon thích chàng mà lại ghét Armand. Nên khi Armand hỏi cưới con gái, ông lại nhứt định gả cho Daniel.

Thật ra đây là một vở hài kịch cốt làm cho người ta cười... nhưng đó lại là bi kịch, cười ra nước mắt khi phân tích tâm lý con người. Tâm sự của Perrichon là tâm sự của mọi người. Nguyễn Duy Cần rút ra được một bài học về xử thế:

“Thọ ân người tức là chịu có người trên mình, còn ban ân cho người tức là được ở trên người. [Trong Hán tự] Chữ Ân là chữ đè trên chữ Tâm. Mà chữ nguyên tự là hình vẽ một người đứng giữa bốn vách tường, đồng với chữ Tù. Người Trung Hoa bày ra chữ Ân, thật là khám phá được tâm sự của con người vậy.

“Thi ân là làm nhục lòng tự ái của người; thường thường kẻ làm ân hay có khuynh hướng tự hào và ngạo nghễ... Thọ ân là bị nhục đến lòng tự ái, thường hay tìm cách để thoát khỏi cái nhục ấy bằng sự bội ân... Bội ân bằng đủ phương thế…

(hết trích)

Vở kịch “Le Voyage de Monsieur Perrichon” (1938)

Câu chuyện tôi tâm đắc nhất trong “Thuật xử thế của người xưa” là truyện về Khuất Nguyên và lão đánh cá. Tác giả kể:

“Khuất Nguyên làm quan cho vua Hoài Vương nước Sở, bị sàm báng mà bị phóng khí. Mặt mũi tiều tụy, hình dung khô héo, Khuất Nguyên vừa đi vừa hát ở bên bờ đầm. Có ông lão đánh cá trông thấy hỏi:

- Ông có phải là Tam lư đại phu đó không? Sao mà đến nỗi khốn khổ như vậy?

Khuất Nguyên nói:

- Cả đời đục, một mình ta trong; cả đời say một mình ta tỉnh, bởi vậy ta mới bị phóng khí.

Ông lão đánh cá nói:

- Thánh nhân không câu nệ việc gì, lại hay tùy thời. Có phải đời đục cả, sao ông không khuấy thêm bùn, vỗ thêm sóng cho đục theo một thể? Loài người say cả, sao ông không biết ăn cả men, húp cả bã cho say theo một thể? Việc gì mà phải phòng xa nghĩ sâu cho đến nỗi phải bị phóng khí?

Khuất Nguyên nói:

- Tôi nghe: mới gội đầu tất phải chải mũ; mới tắm tất phải thay áo; có đâu lại chịu đem cái thân trong sạch mà để cho vật dơ bẩn dính vào mình được? Thà nhảy xuống sông Tương, vùi xác vào bụng cá, chớ sao đang trắng lôm lốp, lại chịu để vấy phải bụi dơ.

Ông lão đánh cá nghe nói tủm tỉm cười, quay chèo bơi đi và miệng hát:

“Sông Tương nước chảy trong veo,
Thì ta đem giặt cái lèo mũ ta;
Sông Tương nước đục chảy ra,
Thì ta lội xuống để mà rửa chân...”

(hết trích)

Khuất Nguyên - Bậc đại phu bất đắc chí

Con người thường hay mắc phải chứng bệnh ham làm thầy đời, đó là cái bệnh… “thà làm đầu con gà hơn làm đít con trâu”. Bởi vậy, ta mong ước, ta tin tưởng “đời chỉ có một mình ta trong, chỉ có một mình ta tỉnh”, để ta có cơ hội lên mặt thầy đời, hiu hiu tự đắc: trí hơn người ngu, khôn hơn kẻ dại...

Một ngày nào đó cái bọn người ngu si mê muội kia biến mất, thì khi đó cái bọn thầy đời của chúng ta dựa vào đâu mà tồn tại! Thế mà ta lại muốn độ cho bọn ngu mê trong thiên hạ đều phải khôn ngoan sáng suốt như ta cả. Ta nào có dè ta lại làm một điều mâu thuẫn, ta đang phá hoại cái ngai vàng của ta.

Tài cao như Khuất Nguyên nhưng ứng xử kém thì chỉ có nước trầm mình xuống dòng sông Tương. Đó là cái chết tất nhiên, không còn gì để bàn cãi!


***

--> Read more..

Popular posts