Thứ Bảy, 12 tháng 8, 2017

Thăm bạn

Mấy hôm nay Sài Gòn đang bị ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới. Trời âm u với những cơn mưa rào, chợt đến rồi chợt tạnh một cách bất ngờ. Nhưng có lẽ bất ngờ hơn cả là đêm hôm qua có một cuộc điện thoại từ Mỹ, báo tin phu quân của cô bạn học đang nằm bệnh viện. Bạn phương xa cho biết tình trạng rất nguy kịch của anh chồng chị bạn.

Anh Quang ngày xưa là thiếu tá, vừa lên lon Trung tá nhưng chưa kịp “rửa lon” thì biến cố 1975 ập đến. Chị vốn là một học sinh trường Trung học Ban Mê Thuột nhưng lại giã từ tuổi học trò rất sớm để lập gia đình với anh. Chị rất “điệu đà” và có vẻ người lớn hơn tất cả bọn học sinh chúng tôi khi đó còn “ngờ nghệch”. Thế là chị giã từ tuổi thơ để làm vợ, rồi làm mẹ.

Điều chúng tôi nhớ mãi cho đến ngày hôm nay là giọng hát học trò của chị. Nổi bật nhất là bài “Tôi yêu” của Trịnh Hưng:

“Tôi yêu quê tôi yêu lũy tre dài đẹp xinh,
Yêu con sông xanh dâng cát hoe vàng bên đình,
Yêu trăng buông lơi trên má cô nàng dệt tơ,
Và yêu cánh đồng vời xa ngàn tay đang dựng mùa hoa.

“Tôi yêu đơn sơ qua mái tranh nghèo mẹ quê,
Yêu duyên nên thơ trong tiếng khoan hò ước thề,
Yêu con đê xưa đưa lối qua chợ làng quê,
Và yêu mấy nhịp cầu tre là đây anh chờ em về.

“Kìa cùng đùa chơi trẻ thơ ca hát say đời,
Dù nghèo mà vui hỏi ai không hé môi cười,
Mưa nắng ơn trời luống cày thắm đẹp lúa ngời,
Xóm làng đón mùa chiêm mới,
Ấm no ấp ủ lòng tôi.

“Tôi yêu quê tôi yêu mãi bây giờ càng yêu,
Yêu chim bay qua mang đến tin mừng thái hòa,
Yêu anh yêu em yêu nước yêu trời gần xa,
Và yêu mối tình nở hoa… ngàn năm không hề phai nhòa...

Hình như là bài hát “Tôi yêu” đã vận vào chị… Chị yêu rất sớm khi đám nam sinh chúng tôi hầu như chẳng biết yêu là gì.

Chị là Như Mai… Chị như một nụ hoa mai với mái tóc đen, dài rất điệu… Tôi cùng một người bạn (anh Hưởng) hẹn nhau đến bệnh viện thăm anh Quang đang trong cơn bệnh ngặt nghèo. Địa chỉ và số điện thoại của chị được người bạn từ Mỹ nhắn về và tối hôm trước tôi có liên lạc với chị.

Chị nói không muốn làm phiền bạn bè cho nên dấu kín chuyện anh đau… nhưng tôi tình thật nói với chị là chúng tôi là nhóm làm sách và số tiền bán sách là quỹ tương trợ bạn học cũ tại trường Trung học Ban Mê Thuột và những cựu giảng viên trường Sinh ngữ Quân đội hiện còn sống tại Việt Nam.

Gần 9 giờ sáng hai đứa chúng tôi trực chỉ Bệnh viện Ung bướu Gia Định. Điện thoại báo trước và chị nói để cho con xuống đón tại cổng cấp cứu đường Ngô Quyền. Lần đầu tiên đến đây tôi không thể hình dung được bệnh nhân và người thăm nuôi lại đông đến như vậy. Bệnh nhân và thân nhân, đa số là người ngoại tỉnh đổ về đây. Họ ngồi kín hành lang và trên cả cầu thang, thật tình mà nói còn đông hơn một cái chợ để chờ khám bệnh hay vào nuôi bệnh.

Chúng tôi tìm không ra đường Ngô Quyền nên hẹn đứng tại nhà thuốc bệnh viện đường Nơ Trang Long… Sau nhiều cuộc điện thoại chúng tôi mới hiểu ở Gia Định làm gì có đường Ngô Quyền và thông tin từ bên Mỹ lại cho lầm địa chỉ, thay vì Bệnh viện Pham Ngọc Thạch, quận 11, lại báo là Bệnh viện Ung bướu, Gia Định. Thế là hai “ông già” chở nhau lên đường từ Gia Định sang Quận 11. Trời lại đổ mưa…

Tới Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch tìm ngay được đường Ngô Quyền và con gái chị Như Mai đón sẵn. Bệnh viện PNT khác hẳn UB, khang trang, tĩnh lặng không có cảnh người nằm, ngồi la liệt. Chúng tôi gặp lại chị Như Mai sau gần một nửa thế kỷ. Anh Hưởng có gặp anh Quang và chị Như Mai gần đây nhưng tôi thì đã gần nửa đời người mới gặp lại người bạn thời học trò. Mừng mừng, tủi tủi…

Anh Quang nằm trên giường, tay đang truyền nước biển nhưng anh vẫn tỉnh táo và thỉnh thoảng góp lời vào câu chuyện của chúng tôi. Người anh xanh xao có lẽ vì bộ đồng phục màu xanh của bệnh viện. Chị Như Mai rơm rớm nước mắt trong câu chuyện…

Chúng tôi nhắc lại chuyện bài hát “tủ” của chị từ thời còn đi học cho bầu không khí bớt ảm đạm… “Tôi yêu quê tôi…” của Trịnh Hưng ngày nào.

Trước khi chia tay ra về, chúng tôi đưa chị chiếc phong bì với dòng chữ “Chúc anh mau bình phục – Nhóm bạn TH BMT”. Hai trăm Mỹ kim là tiền quỹ hỗ trợ bạn bè trong cơn hoạn nạn của nhóm làm sách. Của ít lòng nhiều…

Trời lại đổ mưa… Cơn mưa như mừng cho một chuyến thăm bạn, dù có trục trặc nhưng cuối cùng mọi sự cũng xuông xẻ. Một lần nữa “Chúc anh mau bình phục”.

***

* Lời cuối: Anh Quang, chồng chị đã ra đi chỉ sau vài ngày chúng tôi gặp tại bệnh viện. Vẫn biết cuộc đời này chỉ là “cõi tạm” nhưng làm sao không buồn cho người vợ và 4 đứa con còn ở lại?


***






***

--> Read more..

Thứ Ba, 1 tháng 8, 2017

Câu chuyện “văn chương” với ông bạn già

Bạn đọc chắc còn nhớ “Xóm Bến”… ông bạn già và cũng là sui gia mà tôi có dịp được nói đến qua các bài viết “Ôi! Cái văn chương!”“Viết tiếp về ông bạn già”.

Nhân một lần đàm đạo chuyện văn chương, tôi có dùng từ ngữ “thời điêu linh” để mô tả những năm tháng sau 1975. Ông bạn già hào hứng bình luận về cái thời kỳ, tạm gọi là “hậu-giải-phóng”, có nhiều chuyện để kể mà theo lời ông mỗi khi nghe lại chữ “điêu linh” bỗng thấy “nổi da gà”!

Người miền Nam thường biết đến thời điêu linh qua những cái tên lúc đó hãy còn xa lạ như kinh tế mới, đổi tiền, bao cấp, đốt sách, nhu yếu phẩm, cải tạo công thương nghiệp và dĩ nhiên phải nhắc đến chuyện cải tạo “ngụy quân, ngụy quyền”! Đó là những từ ngữ thường được nghe ở thành phố lớn như Sài Gòn nhưng theo ông Xóm Bến, ở nông thôn, thời điêu linh lại mang một sắc thái khác.

Ông bạn tôi dẫn chứng bằng truyện “Bản thông báo và ông quan xã” hay còn có một tựa đề ông đặt một cách ngắn gọn” “Chân dung một ông quan xã”. Ông đặt vấn đề:

“Có khi nào, bạn về miền Tây, trên cánh đồng, dưới dòng sông, những đêm trăng phủ đầy sương lạnh. Ngồi lai rai mà nghe hết câu vọng cổ chưa? Nhất là phần nói lối?”

Miền Tây gắn liền với 6 câu vọng cổ nhưng dù sao đi nữa trong thời điêu linh bức tranh toàn cảnh hoành tráng trong vọng cổ có những nét chấm phá với gam mầu tối, thật đau lòng mỗi khi nhớ lại.

“Trầm xuống và lặng đi như một nốt nhạc trầm của bản đại giao hưởng… Hình tượng thô thiển là sao lại có những con chuột ẩn mình trong biển lúa vàng bát ngát. Phải sửa và diệt nó đi thôi!”

***
Thế là câu chuyện “văn chương” bắt đầu bằng một thông báo của xã. Nguyên văn như sau:

“Thông báo!

“Chấp hành chủ trương dà (sic) chính sách của nhà nước. Quán triệt và chấp hành nghị quyết của tỉnh ủy và ủy ban nhân dân tỉnh. Thực hiện sự chỉ đạo thống nhất của huyện ủy dà ủy ban nhân dân huyện…
“Nay Đảng ủy dà ủy ban nhân dân thông báo dà ra lịnh cho nhân dân đồng bào trong xã biết.

“Một là: tất cả các hộ nông dân còn thiếu lúa thuế nông nghiệp dụ (sic) hè thu năm nay phải tích cực dao (sic) nạp vào kho.
“Hai là: lúa guộm (sic) phải thiệt sạch, không có bui bui (?) bông cỏ dới (sic) đủ thứ khác mới được nộp.
“Ba là: hạn chót để thu kỳ lúa guộm này là ngày… Nếu quá hạn hoặc không nộp đủ thì giao xã đội, công an đi cưỡng chế.

“Để hoàng (sic) thành xuất sắc nhiệm dụ (sic) trên giao, Đảng ủy, ủy ban nhân dân xã yêu cầu mội (sic) từng lớp nhân dân chấp hành chủ trương của xã.

“Đề nghị thi hành lệnh này liền.

“Nay thông báo.

“Chủ tịch xã

Đã ký và đóng dấu.
(hết trích)

***

Một nhân vật trong truyện phân tích về bản thông báo của xã:

“Đây là một nồi xà bần sau đám giỗ. Cái tay này phong kiến hổng ra phong kiến. Tề ngụy không ra tề ngụy. Cách mạng nửa mùa, mà lại nửa mùa ăn theo. Một cái thông báo mà đủ thứ lỗi chính tả. Văn thư không ra văn thư. Thông báo không ra thông báo.

- Một là: chữ nghĩa thì cái đầu là cách mạng, khúc giữa là điền chủ và khúc đuôi là tề ngụy. Sau khi xài hết ba cái chữ của cách mạng, vì hắn xài sang quá, ba bốn xôi nhồi một chõ nên đến khúc giữa bí quá vì hắn ăn theo cách mạng mà. Khúc giữa hắn sai, thay vì đề nghị chấp hành đường lối chính sách, thuế nông nghiệp, v.v… hắn lại tuôn ra nào là lúa ruộng mà chỉ có bọn điền chủ, phong kiến, tề ngụy mới xài.

- Hai là: một cái thông báo chỉ có nội dung kêu gọi các hộ nông dân chưa nộp đủ thuế hoặc chưa nộp thuế nông nghiệp phải tích cực thực hiện nghĩa vụ. Vậy mà hắn viện đủ cả bốn cấp chánh quyền như 4 ông cọp ra hù nhân dân. Mà đâu có riêng nông dân đâu, cả mọi tầng lớp nhân dân nữa mới ớn chớ.

“Cha mẹ ơi! Thầy cô giáo, mà ngay cả các quan xã như hắn thì làm gì có nghĩa vụ nộp thuế nông nghiệp, lại còn huy động cả xã đội, công an để đi cưỡng chế. Vậy mới oai chớ! Hổng biết thằng cha Hai D… chủ tịch khi ký và đóng dấu có đọc hay không, hay là cũng bù trất. Chỉ tội cho con dấu của xã đóng phía dưới.

(hết trích)

***
Sau khi “sưu tra lý lịch” của Chủ tịch xã, ông Xóm Bến, tác giả bài viết, cho biết về “thân thế” và “sự nghiệp” của người đã ký tên và đóng dấu bản thông báo như sau:

“Quá trình bản thân: còn nhỏ, đi học hết lớp ba trường làng. 20 tuổi đến 35 tuổi: là loong tong cho nhà việc, làm quản điền cho giáo Trĩ, làm quản điền cho huyện Nghĩa và làm trưởng ấp cho tề ngụy. Từ 30-4-1975 đến nay: làm thư ký xã, làm ủy viên kinh tế xã, phụ trách nông nghiệp.

“Nếu lấy trái dưa gang, mổ cộ, dựng ngược cuống lên, cặm vào hai chiếc đũa thì hình dung được hình hài gã. Đầu hớt cua, đỉnh đầu nhọn hoắc, hai lỗ tai ép sát vô hai gò má, phì phị búng ra mỡ dưới cái trán ngắn ngủn như dán vô cái đầu miếng kẹo da trâu. Miệng rộng toang hoác, mép này tới mép kia dính mang tai, hàm răng vàng ệch mầu nhựa thuốc rê.

“Hắc cao tới 1m50 cho nên cái thân mập ú nhìn như ngắn ngủn, được đặt trên hai cái chưn ốm nhách mà còn đi gọng kiềng nên lúc nào cũng lạch bạch như vịt xiêm mái. Trang bị bên ngoài cái thân dưa mổ cộ thì như con tắc kè, sáng màu xanh, trưa màu vàng, chiều màu đỏ, tối màu nâu. Nghĩa là vào thời điểm nào màu sắc đó.

“Trước kia, khi còn công tác với chế độ cũ, hắn lúc nào cũng xúng xính với bộ quần áo lính bảo an, rồi địa phương quân. Kể cả khi hắn qua làm trưởng ấp… Đầu hắn đội cái mũ vải rộng vành, chìa hai con mắt, nếu gỡ cặp kính màu ra thấy nó ti hí như hai con cuốn chiếu ở chân đống rơm đang nằm ngủ nhưng lại quên không cuốn.

“Sau này, khi hắn về phục vụ cách mạng, hắn lại nghiêm chỉnh với cái nón cối trên đầu, bộ đồ bộ đội màu xanh của rừng và đôi dép râu để lội trên đường làng. Và bây giờ, cả xã đều thấy hắn là cán bộ cách mạng từ đầu tới chân. Còn cái bụng hắn thì cách mạng cỡ nào chỉ có hắn và trời biết. May ra còn có thêm một người: vợ hắn! Bây giờ cũng ra vẻ vợ cán bộ lắm, thấy mà ham!

“Sở thích ăn uống: cứ nhìn hắn ăn với cái mâm dành cho hắn ở đám tiệc thì chết thôi cũng liên tưởng tới bức minh họa về bài học “Tân ăn giỗ” của quyển Quốc văn Giáo khoa thư. Thô bỉ cùng cực. Ngặt một nỗi món hắn thích toàn mỡ, thịt kho tàu phải hai phần mỡ một phần thịt nạc, Thịt hầm măng cũng vậy. Hắn cắn, nhai ngồm ngoàm, mỡ chảy tràn ra khóe miệng, nhểu xuống bàn. Hắn mặc kệ, bưng nguyên tô húp cái rột. Cúi xuống kéo lai quần lên chùi, ý chừng sợ dơ tay áo, dù ngay giữa đám tiệc.

“Vậy mà hắn là ông quan xã nắm tay hòm chìa khóa của ngân sách xã. Vậy mà hắn lên như diều, mà đố ai dám đụng tới hắn dù hắn lòi đuôi là tên cơ hội, đón gió trở cờ. Chỉ tội mấy anh cán bộ có lòng với bà con, tận tụy hy sinh hết lòng công tác để góp phần xây dựng quê hương đã đổ nát nhiều vì chinh chiến.

(hết trích)

***

Chuyện không chỉ có vậy. Thật ra đó chỉ là đoạn đầu nói về bản thông báo của ông quan xã. Đoạn kế tiếp tác giả dẫn người đọc đến hậu quả của bản thông báo. Một trong những nạn nhân của nó lại chính là tác giả, ông bạn già và cũng là sui gia với tôi. Nhân vật đó tự xưng là “lão”.

“Lão xỉn quắc cần câu, xuồng chìm tại bến. Gần sáng lão chống xuồng dìa. Mới thấy mặt, bà vợ đã cằn nhằn: ‘Thuế má đòi tới đít, hổng lo, lo ăn nhậu, thiệt hết biết ông, phen này chắc chết quá!’

Thì ra lão đã tính kỹ lắm rồi nên mới lai rai vài sợi. Bạn “nối khố” của lão góp ý: “Bận này câu kéo cũng trớt quớt, lũ cá út hình như thấy cái xứ mình nghèo quá, mà các quan của mình cũng khó quá, nên trốn biệt, không còn héo lánh tới nữa. Cái xuồng cũng bỏ không. Ông kéo lên, mua mấy kí dầu chai lắp dò lại. Kiếm thêm mấy nhánh mù u thiệt già cập vô mấy cây chèo, quơ một ít lưỡi hái rồi lên Đồng Tháp gặt mướn mươi bữa nửa tháng kiếm bậy vài chục giạ lúa về đóng thuế là khỏe ru bà rù. Thấy đã hôn?”

Tính thì dễ nhưng lúc thực hiện kế hoạch mới thấy trần ai. Riêng việc vắng mặt tại địa phương cả tháng cũng không dễ. Đi mà không xin giấy phép lỡ chính quyền hỏi thì ở nhà biết trả lời sao? Xin phép mà nói là đi gặt mướn cũng chẳng dễ gì vì quan bí thư xã rất “sĩ diện”. Có nghèo thì cũng ở nhà cạp đất mà ăn chứ đi làm thuê, gặt mướn thì mang tiếng dân Đồng Khởi lắm.

Cuối cùng xã không cho đi nên đành phải trốn. Lão lý luận: đi kiếm lúa về đóng thuế chớ có đi làm giặc đâu. Tới chừng có lúa mang về nạp bất qúa xã phạt năm ba bữa lao động hay chửi cho một trận chứ không lẽ nhốt vào tù? Mà có ở tù thì có cơm ăn… khỏi lo đói!

Cuộc hành trình đi gặt mướn được tác giả kể lại từng chi tiết như sau:

“Xuồng ra khỏi vàm Giòng Luông, qua được trạm kiểm soát, ráng chèo tới rạch Cả Bần. Lấy chiếc chiếu làm bườm rồi chạy vát qua cồn Ốc. Vậy là khỏe re – tới Sóc Sãi qua Cà Nứa, tới Vàm Mao là qua sông Hậu.

“Ôi sông Hàm Luông ơi, muôn đời ta gắn bó. Ôi Đồng Tháp ơi, hãy dành cỏ cho trâu ăn… Lão tức cảnh làm thơ. Lão và người bạn hẳn là hai con trâu đang đói. Qua hai đêm, một ngày xuồng của lão và hắn tới Tam Nông, lão kiếm chỗ đậu nấu cơm còn hắn lên bờ tìm mối gặt mướn.

“Đây là thửa thứ nhứt, 5 mẫu. Gặt hết bao nhiêu tính bầy nhiêu: 2 giạ một công tầm phóng, 1 giạ rưỡi một công tầm cắt. Cứ như vậy tính, chọn tầm nào. Hắn chọn tầm phóng. Không nói không rằng, ông chủ nâng cây sào vác theo – nhắm và phóng thẳng về phía trước. Cả bọn bước theo và cứ phóng đủ 5 công. Cắm sào, vậy thôi. Ai lo chuyện nấy. Chỉ giao ước một lời. Khỏi dài dòng.

***
Chuyện đi gặt mướn để lấy lúa về đóng thuế cứ tưởng là “ngon ăn” nhưng lại không ngờ… “khó nuốt”. Nhân vật chính của chúng ta bị bệnh hết 10 ngày trong chuỗi ngày đi gặt khiến người bạn “nối khố” phải “cà rỡn”:

“Sao, khoái làm dân Đồng Tháp hả? Định kiếm cớ nằm vạ chắc. Cái mặt của ông chỉ có bà vợ già của ông nó mê, chớ còn các bà Đồng Tháp miệng nói, tay làm, chân chạy… ai mà dám rước cái thây ông. Ông mà có gì, tui dập ông xuống. Ba ngày sau đỉa nó rỉa không còn miếng thịt. Thôi, dậy mà đi kiếm lúa về đong lúa ruộng, cha nội!

“Ngày thứ 11, để quen công việc, ông chủ ruộng cho lão đi gom lúa cho máy tuốt lúa ăn. Công việc nhẹ nhàng, cúi lên cúi xuống, đi tới đi lui chớ cắt lúa dễ bị chóng mặt, té nằm một đống, ai mà lo cho công tử nữa. Vậy đó, thương và kính biết bao nhiêu ở những tấm lòng”.

***

Đấy chưa phải là đoạn kết. Đoạn kết của ông Xóm Bến còn ly kỳ và bất ngờ đến độ người đọc cứ tưởng ông thêm mắm, thêm muối cho câu chuyện có vẻ “giật gân”. Ông nói với tôi, đây là kết cuộc mà chính ông cũng không tài nào “sáng tác” nổi. Tin hay không là quyền của người đọc nhưng bản thân tôi, tôi tin chắc chắn là ông kể hết sự thật.

“Hai mươi gia lúa được vô bao cột chặt, chất xuống xuồng trước một cuộc nhậu chia tay. Cuộc chia tay như những người ruột thịt nhớ nhau vì ở mỗi người một phương trời, về thăm nhau rồi lại ra đi.

“Ngoài vàm chỗ cặm cây cờ đó là Trạm. Sau trao đổi với các cán bộ Trạm và vẫy tay chào lão và hắn, ông chủ ruộng bơi xuồng trở lại. Ra khỏi vàm, ngoài lưu luyến còn thầm cảm phục cái ân cần, chu đáo khi tạo điều kiện để lão và hắn chở lúa qua trạm dễ dàng của ông chủ ruộng.

Nhưng phước bất trùng lai mà họa thì vô đơn chí, tránh vỏ dưa dẫm phải vỏ dừa khi xuồng bị bắt tại vàm Măng Thich – Vĩnh Long sau một ngày một đêm êm xuôi, trót lọt. Chúng ta đang đi vào đoạn kết mà ờ trên tôi đã nói là ly kỳ và bất ngờ.

“Không một biên bản, không một tờ giấy lộn. Với nét mặt đằng đằng sát khí, vị quan trưởng trạm chỉ phán một câu: ‘Buôn lậu, tịch thu. Chống cự giam ghe, nhốt người!’.

“Hai ông già với gương mặt xạm đen hốc hác. Ông thì nước mắt lưng tròng, ông thì cúi mặt bậm môi, nuốt nghẹn vào lòng. Vầy mà đi buôn lậu? Buôn lậu? Buôn lậu?

Với phương tiện là chiếc xuồng trống trơn, chỉ còn cái cà ròn làm bếp với 2 cái xoong nồi, 2 đôi đũa và 2 cái chén. Hai cái mền rách và một cái mùng. Với hai cái nóp cũ mèm và chiếc chiếu rách teng beng vì gió bọc thay buờm.

“Hai mươi giạ lúa mồ hôi, lẫn trong đó là bao nhọc nhằn, bao mơ ước nhỏ nhoi, thậm chí suýt mất một mạng người nơi xứ lạ. Để trả nợ nhà nước, để bảo toàn cho một kiếp người, một gia đình lâm vào cảnh quẫn bách.

“Khóc lớn đi, lão già thất cơ lỡ vận mà đường về xa lắc. Bặm môi mạnh nữa đi anh Năm Cà Nhõng, cho máu trào lên miệng, cho thấm đậm tủi hờn. Để máu và nước mắt sẽ rớt xuống, hòa vào giòng sông Cổ Chiên ra biển.

***

Chiều hôm đó xuồng của ông bạn tôi ghé mũi vào bến nhà. Má ông đang nằm trên võng, vợ con ông chắc đang ở ngoài giồng. Chiếc tủ thờ đã biến mất. Thấy con về tay không, má ông chắc cũng hiểu. Và đây là câu cuối cùng trong truyện:

“Nước mắt người Mẹ Việt Nam lại chảy dài sau bao nhiêu lần đã chảy”

***


--> Read more..

Popular posts