Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2018

Bóng ma Nhà hát Opera


* Lời nói đầu:

Gần đây, chính quyền thành phố đã biểu quyết về việc xây dựng Nhà hát Giao hưởng tại Thủ Thiêm với kinh phí 1.500 tỷ (chính xác là 1.508 tỷ đồng). Theo quan điểm của người dân, Đúng hay Sai là điều đã rõ về cả mặt Tình lẫn Lý.

Tuy nhiên, Hội đồng Nhân dân Thành phố cũng có lý của họ trong “Quyết Tâm” này. Đó là vấn đề mà ít người dân hiểu được, đó là việc “chạy chi ngân sách” như FB của luật sư Trần Vũ Hải đã phân tích:

“… Dù vậy, cũng thông cảm cho TPHCM khi bị trung ương lấy 82% doanh thu ngân sách để chi cho Trung ương và các địa phương khác, chỉ 18% doanh thu ngân sách được chi lại cho địa phương.

“Các ông bà hội đồng có lẽ phải tự trách chính mình, trước cơn thịnh nộ trách mắng của mạng xã hội! Họ cư xử như những robot bỏ phiếu trước những nhóm lợi ích, chứ không phải quyền và lợi ích thực sự và cấp thiết của dân chúng. Nhưng các robot này vẫn nguỵ biện bỏ phiếu vì “nhu cầu của dân”!

Trong bài  viết này, chúng tôi sẽ không bàn đến chuyện xây Nhà hát Opera ở ta… Thay vào đó, mời các bạn cùng đến Paris để thăm Nhà hát Opéra Garnier qua tác phẩm “Le Fantôme de l'Opéra” (Bóng ma trong nhà hát), tiểu thuyết của Gaston Leroux.

Tác phẩm “Le Fantôme de l'Opéra” của Gaston Leroux

Nhà hát lớn Paris có ma? Câu hỏi được đặt ra vì những “tai nạn rùng rợn” liên tiếp xảy ra từ khi các ngài Moncharmin và Richard làm Giám đốc nhà hát. Cái chết của trưởng bộ phận dàn dựng sân khấu trong tư thế treo cổ dưới tầng hầm, những bức thư nặc danh đe dọa hai tân giám đốc, ca sĩ Carlotta bỗng “hát như cóc kêu” trên sân khấu, đèn chùm trong khán phòng rơi đè chết người...

Cùng lúc đó, Christine, nữ ca sĩ vô danh với giọng hát “như mèo hen” bỗng như thoát xác, cất tiếng hát làm rung động công chúng. Tất cả chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên hay có bàn tay một thế lực thần bí nào?

Đó là những vấn nạn của Gaston Leroux khi ông viết tác phẩm “Le Fantôme de l'Opéra” vào năm 1909, vốn là tiểu thuyết dài kỳ in trên tờ “Le Gaulois” từ tháng 9/1909 đến tháng 1/1910.

“Bóng ma trong Nhà hát” được nhà xuất bản Pierre Lafitte in thành sách lần đầu tiên năm 1910 và từ đó đến nay vẫn luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho hàng chục tác phẩm điện ảnh, nhạc kịch, phim truyền hình và ca khúc ở Pháp, Mỹ và nhiều quốc gia khác.

Leroux, tác giả nổi tiếng trong thể loại trinh thám và giả tưởng của Pháp, viết:

“Con ma Nhà hát đã tồn tại. Nó hoàn toàn không phải như từ lâu người ta vẫn tin, một cảm hứng nghệ sĩ, thói mê tín của các đời giám đốc, trò sáng tạo vô vị từ những bộ óc quá khích của đám con gái trong vũ đoàn ba lê, của mẹ chúng, của các chị xếp chỗ, của những người làm trong phòng gửi đồ và của cả bà gác cổng”.

Gaston Leroux (1868-1927)

Tác phẩm viết về một con người khốn khổ, Erik, với khuôn mặt biến dạng đã trốn chạy khỏi xã hội phù hoa, đầy giả dối, ích kỷ của nước Pháp vào thế kỷ 19. Nơi anh chọn để trú ẩn an toàn là trong mê lộ những tầng hầm và kho chứa bên dưới nhà hát Opera tại Paris.

Từ đó trở đi, nhà hát Opera bắt đầu xuất hiện những tin đồn về một bóng đen thoắt ẩn thoắt hiện bên trong nhà hát.  Những đồ vật trong nhà hát cũng thường bị mất một cách bí hiểm, không rõ nguyên nhân.

Một thời gian sau, khi vô tình nhìn qua một lỗ nhỏ về phía sân khấu, Erik thấy Christine Daaé, một diễn viên phụ trẻ đẹp và trái tim anh lập tức bị hạ gục bởi nàng. Erik có kỹ thuật hát Opera hoàn hảo do học lỏm được từ những giọng ca hay nhất châu Âu thường đến biểu diễn tại đây.

Cuối cùng, Erik đã xuất hiện trước mặt cô ca sĩ trẻ đẹp người Thụy Điển và dạy cô hát. Nhờ đó, cô diễn viên phụ Christine nhanh chóng được nhận vai chính và trở nên nổi tiếng khắp nước Pháp.

Bóng ma và người ca sĩ

“Bóng ma” Erik vẫn thường ôm trong lòng một giấc mơ tình ái: Christine sẽ đáp lại tình cảm của mình. Nhưng nàng lại phải lòng một chàng quý tộc trẻ tuổi đẹp trai, Tử tước Raoul de Chagny, người bạn thời thơ ấu của Christine và cũng là tình nhân của cô.

Đau khổ và tức giận, Erik bắt cóc Christine về nơi ẩn náu của mình, cạnh một chiếc hồ ngầm ở tầng hầm thứ bảy. Khi thấy chàng quý tộc trẻ bất chấp tất cả để chạy tới cứu người yêu và chứng kiến cảnh Christine có chết cũng không chọn mình, Erik lồng lộn vì ghen tức.

Erik đã có thể giết cặp tình nhân trẻ nhưng khi thấy đám đông kéo xuống hầm để tìm, Erik buộc phải từ bỏ người mình yêu, chạy vào nơi tối tăm nhất của tầng hầm để ẩn nấp.

Và kể từ đó, người đàn ông bất hạnh mang tên Erik với con tim tan nát đã biến khỏi cõi đời. Người ta không bao giờ nhắc đến “bóng ma” ấy nữa.

Erik – Christine (họa phẩm của Claude Verlinde)

“Le Fantôme de l'Opéra” của Gaston Leroux khiến người đọc liên tưởng đến tác phẩm “Nhà thờ Đức Bà Paris” (Notre-Dame de Paris, 1831) của Victor Hugo. Nhân vật chính của cả hai tác phẩm đều lả những người có số phận hẩm hiu nhưng lại ẩn chứa một mối tình nồng nàn.

Người kéo chuông nhà thờ Đức bà, Quasimodo, kẻ dị hình, dị dạng, vừa mù, vừa thọt của Victor Hugo và “bóng ma” Erik của Gaston Leroux đã cùng nhau bước vào thế giới văn chương Pháp. Đó là những thiên tình sử cay đắng của những kẻ tình si, xấu số.

Cô gái du mục Bohémien xinh đẹp Esméralda làm nghề múa rong ngoài phố trên quảng trường trước nhà thờ Đức bà cũng có nhiều nét giống với Christine của Leroux. Cả hai tuy không yêu người “dị dạng” nhưng vẫn có một thứ tình mà ta gọi đó là “tình người”. Đó là tính nhân bản giữa con người với con người.

Tuy không xuất sắc như Victor Hugo nhưng Gaston Leroux cũng đã tạo nên một tác phẩm với cốt chuyện hấp dẫn không kém, bằng chứng là nó đã, đang và sẽ sống mãi trong lòng chúng ta. Không chỉ là trong tiểu thuyết, mà còn qua rất nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau như thơ văn, hội họa và ngay cả triết lý.

Erik là “ma” theo đúng nghĩa. Anh sinh ra với một khuôn mặt dị dạng, méo mó, thậm chí ngay cả bố mẹ cũng không chút yêu thương. Suốt đời anh khao khát một “nụ hôn yêu dấu”. Và 3 tuần trước khi chết, Erik đã được toại nguyện với nụ hôn của Christine. Đó không phải là nụ hôn của tình yêu mà là… nụ hôn của tình người.

Nụ hôn đầu tiên và cũng là nụ hôn cuối cùng

Trong khi Victor Hugo chọn Notre-Dame de Paris làm bối cảnh, Gaston Leroux lại lấy  Opéra de Paris làm nền cho tiểu thuyết. Nhà hát này còn có tên là Opéra Garnier hay Grand Opera House. Người ta thường được gọi đó là Paris Opéra, một nhà hát opera 2.200 chỗ tại thủ đô Paris.

Sở dĩ có tên Opera Garnier vì là một công trình nổi bật được kiến trúc sư Charles Garnier thiết kế theo phong cách Tân Baroque. Nhà hát còn được xem là một trong những kiệt tác kiến trúc thời đó.

Lúc khánh thành năm 1875, nhà hát Opera đã được chính thức mang tên “Académie Nationale de Musique - Théâtre de l'Opéra”. Nhà hát đã giữ tên này cho đến năm 1978 và được đổi tên thành “Théâtre National de l'Opéra de Paris”.

Palais Garnier (năm 1889)

Sau khi công ty Opera chọn Opéra Bastille làm nhà hát chính của họ khi hoàn thành năm 1989, một lần nữa, nhà hát này đã được đổi tên thành Palais Garnier, dù tên chính thức hơn vẫn là "Académie Nationale de Musique".

Dù được đổi tên và công ty đã dời đi chỗ khác đến Opéra Bastille, Palais Garnier vẫn được nhiều người biết đến với tên là Paris Opéra. Nhà hát được khởi công xây dựng năm 1862 và khánh thành năm 1875 với chiều cao 73,6 mét tại Quận 9, Paris.

Paris Opera ngày nay

Đó là chuyện con ma ở nhà hát Garnier, một “bóng ma” của nghệ thuật ngự trị ngay dưới tầng hầm của nhà hát nổi tiếng nhất Paris. Lại nghĩ đến Nhà hát Giao hưởng một ngày nào đó Sài Gòn cũng có… cho “bằng chị, bằng em”.

Mong sao đừng có những bóng ma “dân oan Thủ Thiêm” ám ảnh nhà hát như Paris Opera với câu chuyện “bóng ma” của Erick.

Viết đến đây tôi thấy mình nên tự gác bút. Có viết thêm nữa cũng chỉ là sự lập lại lập luận của những người khác lâu nay đã bình luận “trái chiều” về tương lai của Nhà hát Giao hưởng Sài Gòn.


***

--> Read more..

Thứ Sáu, 5 tháng 10, 2018

Giải Nobel Văn chương 2018 có gì lạ?

Katarina Frostenson là một trong số 18 giám khảo của một trong 6 giải thưởng Nobel danh giá nhất thế giới, “Giải Nobel về Văn chương”. Chuyện không có gì ầm ỹ cho đến tháng 11/2017 khi nhật báo Dagen Nyheter đưa tin có 18 phụ nữ tố cáo Jean Claude Arnault… “tấn công tình dục”.

Nhiếp ảnh gia Jean Claude Arnault lại là phu quân của giám khảo Katarina Frostenson… thế là rắc rối bắt đầu từ đây. Hàn lâm viện Thụy Điển mở cuộc điều tra nội bộ và khám phá thêm nhiều tình tiết “động trời” vì Arnault đã nhiều lần tiết lộ tên người đoạt giải trước khi được chính thức công bố. Nơi nhận “tin mật” là những tổ chức cá độ quốc tế! 

Frostenson còn bị tố cáo đã “biển thủ” tiền của Hàn lâm viện, “tuồn” tiền cho câu lạc bộ của Arnault tại thủ đô Stockholm. Câu lạc bộ này lại là một tổ chức chuyên về các hoạt động văn hóa như triển lãm hội họa, trình diễn âm nhạc, bình luận văn chương…

Nội bộ Viện hàn lâm rối bời vì, theo quy định, các nghị viên và giám khảo được bổ nhiệm là… “suốt đời”, không có quyền từ chức! Thế cho nên, Hàn lâm viện Thụy Điển đi đến quyết định cuối cùng: Năm 2018 sẽ không có “Giải Nobel Văn chương”.

Đứng trước “scandal văn hoá” này, tháng 7/2018 đã có 126 nhà hoạt động văn chương Thụy Điển đứng ra thành lập một “Hàn lâm viện lâm thời” để trao giải văn chương, thay thế cho giải chính thức mang tên Nobel. Đó là “Giải thưởng mới về văn chương” (The New Prize in Literature), sẽ được công bố vào ngày 12/10/2018.

Qua sự đề cử và chọn lọc rộng rãi của giới hoạt động văn hoá toàn thế giới “hàn lâm viện lâm thời” đã có một danh sách 47 nhà văn được đề cử. Cuối cùng, đã bỏ phiếu và 4 nhà văn được đưa vào chung kết gồm: (1) Nail Gaiman người Anh; (2) Haruki Murakami người Nhật; (3) Maryse Condé một nữ giáo sư văn chương người Pháp gốc Trung Mỹ; và (4) Kim Thúy, một nữ luật sư người Canada gốc Việt.

Nhà văn Kim Thúy và tác phẩm “Ru” (Ảnh chụp qua Video)

Còn nhớ, lần đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam, một nhà văn người Mỹ gốc Việt, Viet Thanh Nguyen, đã nhận giải thưởng Pulitzer của Hoa Kỳ về tiểu thuyết năm 2016. Nguyễn Thanh Việt là người tỵ nạn đến Mỹ năm 1975, khi đó anh mới 4 tuối và tác phẩm “The Sympathizer” đã đưa Việt vào danh sách “các nhà văn lớn” trên đất Hoa Kỳ.

Cũng tương tự như Nguyễn Thanh Việt, Nguyễn An Tịnh (tên thật của nhà văn Kim Thúy) rời Việt Nam năm 1978 lúc đó cô mới 10 tuổi. Định cư tại một tỉnh nhỏ ở Montreal (Canada) vào cuối tháng 3/1979, cô tốt nghiệp Luật khoa và hành nghề luật sư trong 5 năm rồi theo công ty trở về Việt Nam làm việc trong gần 4 năm.

Về lại Canada, cô quyết định mở một nhà hàng, trong thời gian này cô làm việc vất vả trong suốt 5 năm nên khi lái xe gặp đèn đỏ thường… ngủ gục! Trong một video phỏng vấn của đài VOV, cô kể lại:

“Để tránh bị ngủ gục trên xe, tôi thường cắn hạt dưa đến độ… bị hư răng. Cuối cùng, tôi nghĩ ra cách bắt tay vào viết lách trên sổ mỗi khi xe dừng chờ đèn xanh!”

“Tôi thường cắn hạt dưa đến độ… bị hư răng” (Ành chụp qua Video) 

Đó là bước đầu tiên giúp nhà văn Kim Thúy bước vào thế giới văn chương bằng những tác phẩm viết bằng tiếng Pháp. Thoạt đầu chỉ ghi lại những chuyện trong ngày như một dạng nhật ký rồi sau đó viết nhiều hơn về chuyện người tỵ nạn và di dân theo ký ức của chính mình qua tác phẩm “Ru”.

Dù viết bằng tiếng Pháp nhưng Kim Thúy vẫn lấy nhan đề bằng tiếng Việt. Có một sự trùng hợp ngẫu nhiên, “Ru” trong tiếng Pháp có nghĩa là dòng suối nhỏ hay cũng có thể hiểu đó là dòng chảy của máu, nước mắt và cả tiền bạc. Cả hai ý nghĩa Pháp-Việt được tác giả nói đến ngay trong đoạn mở đầu cuốn sách được viết dưới dạng tự truyện:

“Tôi tên Nguyễn An Tịnh, mẹ tôi tên Nguyễn An Tĩnh. Tên tôi chính là biến thể của tên mẹ chỉ qua một dấu dưới và trên chữ “i”. Tôi chính là sự nối dài của mẹ qua cái tên. Trong tiếng Việt, tên của mẹ tôi mang ý nghĩa của sự yên tĩnh bên ngoài trong khi tên tôi lại là sự tĩnh lặng của nội tâm. Với những cái tên như thế, tôi được xác định là phần nối dài của mẹ. Tôi là sự tiếp nối những câu chuyện về mẹ…”

Cuộc đời của Kim Thúy tựa như một dòng chảy, từ những con nước thủy triều tại quê nhà đến những vùng nước yên bình bên kia bờ đại dương. Từ chuyến vượt biển rời Việt Nam, ra khơi một cách vô định đến trại tỵ nạn bùn lầy ở Mã Lai và rồi cuối cùng kết thúc ở vùng đất mới, thị trấn Granby, Quebec. Tất cả những diễn biến đó được gói ghém trong “Ru”.

Nhà văn Kim Thúy 

Câu chuyện của một cô bé vượt biển cùng gia đình khi mới 10 tuổi đã “đánh động” đến trái tim người đọc trên thế giới bởi giọng văn rất bình thản và tự nhiên như hơi thở. Kim Thúy, người mẹ của hai đứa con, viết lại tại Canada khi đã 39 tuổi:

“Chuyện của cô bé con bị biển cả nuốt trọn sau khi đã mất chân đứng trên đất liền cũng tựa như một liều thuốc mê, hay “chất khí gây cười” [laughing gas] trên một con thuyền bốc mùi nôn mửa… Tất cả đã biến thành một vì sao Bắc đẩu chẳng khác gì một miếng bánh đẫm mùi dầu nhớt trở thành miếng bánh trét bơ. Hương vị dầu nhớt nghẹn nơi cổ, trên lưỡi, trong đầu đã khiến cô bé chìm vào giấc ngủ với lời ru con êm ái của người phụ nữ ngồi ngay bên cạnh”.

Trong một đoản văn khác, Kim Thúy nhớ lại những ngày lên đênh trên biển:

“Phía dưới hầm tầu hoàn toàn không thể phân biệt giữa ngày và đêm… Không ai nhìn rõ đâu là đường chân trời và đâu là nước biển. Cũng chẳng một ai biết tầu đang trên đường lên thiên đàng hay xuống địa ngục…”

Bản dịch tiếng Anh như vẫn mang tựa đề tiếng Việt 

Trong một cuộc phỏng vấn, Kim Thúy cho biết cảm nhận của người đọc “Ru” sẽ thay đổi theo môi trường sống của mình. Chẳng hạn những người tỵ nạn từ Rumania sẽ có một cái nhìn về chế độ của đất nước họ và tự hỏi sao lại giống Việt Nam đến vậy. Trong khi đó, người đọc từ Pháp lại chỉ chú ý đến lối hành văn, cấu trúc của ngôn ngữ trong cuốn sách.

“Ru” đã được dịch sang 27 ngôn ngữ trên thế giới sau khi bản chính được viết bằng tiếng Pháp tại Canada. Riêng tiếng Việt vẫn chưa có bản dịch vì là vấn đề “nhạy cảm” và “tiêu cực” có liên quan đến các Thuyền nhân. Theo thống kê không chính thức, đã có hơn 200.000 người bỏ nước ra đi và bỏ mình trên biển!

Đặc biệt, “Ru” là một cuốn tự truyện dưới dạng hồi ức nhưng không chia thành chương đoạn mà cũng chẳng đánh số thứ tự. Người đọc (nếu tỷ mỷ) có thể thấy cuốn sách gồm 144 “đoản văn” (vignette) nhưng cũng không được đánh số. Phải chăng đây cũng là một lối viết và trình bày sách độc đáo của tác giả?

“Ru” đã đoạt nhiều giải thưởng danh giá, trong số đó có “Grand Prix RTL-Lire at the Salon du livre de Paris” (2010), “Governor General’s Award for Fiction” (2010), “Prix du Grand Public Salon du livre” (2010), “Mondello Prize for Multiculturalism” (2011), “Grand Prix littéraire Archambault” (2011) và “Canada Reads” (2015). Hơn thế nữa, Bộ giáo dục Canada đã đưa “Ru” vào chương trình trung học viết bằng tiếng Pháp.

Nhà văn Kim Thúy – Nguyễn An Tịnh 

Cũng trong một cuộc phỏng vấn khác của VOA, Kim Thúy rất hồn nhiên khi nói rằng việc lọt vào 1 trong 4 cuốn sách của “Giải thưởng mới về văn chương” chỉ là “hên” mà thôi chứ thật tình cô cũng chẳng phải là nhà văn chuyên nghiệp! Đó là một nhận xét có phần “khiêm tốn” vì cô và gia đình đến Canada với hai bàn tay trắng nên việc kiếm sống là chính.

Kim Thúy cũng không giỏi tiếng Việt và cũng chỉ được “bổ xung” trong thời gian làm việc với một công ty luật của Canada tại Hà Nội gần 4 năm. Ngôn ngữ chính của cô là tiếng Pháp, học trong trường ở Montreal và Quebec. Tuy nhiên, cách viết văn theo lối kể chuyện khiến người đọc bất ngờ và thú vị.

Dù có được chọn để đoạt giải hay không, Kim Thúy đã bước vào văn đàn thế giới, đồng thời trở thành nhà văn nữ gốc Việt đầu tiên được nhắc đến trong một giải văn chương, tuy không chính thức mang tên Nobel, nhưng cũng đủ để người Việt, cả ở trong nước lẫn hải ngoại, hãnh diện và tự hào.

Tác giả Kim Thúy (Ảnh chụp tại nhà riêng ở Longueuil, Quebec, ngày 2/2/2012)

***

Tham khảo:

1. Bài viết: “The Sympathizer (1): “Kẻ Nằm Vùng” hay “Cảm Tình Viên”?”

2. Video clip “Trò chuyện với Nhà văn Kim Thuý”, phỏng vấn của Trà My (Đài VOA):

3. Video clip “Kim Thuy on writing Ru and the Immigrant Experience”, của Lê Quốc Tuấn:

***

--> Read more..

Thứ Sáu, 28 tháng 9, 2018

Kiến trúc độc đáo của những chiếc Cầu Ngói


Khi nói đến cầu, người ta liên tưởng ngay đến phương tiện nhằm vượt qua chướng ngại vật, giúp cho việc đi lại được thông suốt. Tại một số nơi trên thế giới còn có những chiếc cầu tương đối nhỏ, được thiết kế với mái che nhằm giúp người đi bộ tránh được mưa nắng. 

Việt Nam có một từ ngữ để chỉ những chiếc cầu này: Cầu Ngói. Đơn giản chỉ vì phía trên cầu được lợp mái bằng ngói với những kiểu dáng kiến trúc mang nét nghệ thuật thật phong phú. Cũng vì thế, cầu ngói là những nơi hấp dẫn du khách, trong cũng như ngoài nước.

Đi dọc từ Miền Trung ra Bắc, chúng ta gặp một số cầu ngói nổi tiếng, mỗi chiếc cầu mang một công trình kiến trúc đặc thù. Chiếc cầu ngói ở phố cổ Hội An là một trong những chiếc cầu nổi tiếng nhất nước.

Đó là Chùa Cầu, được chọn là một trong những biểu tượng của thành phố Hội An và cũng là Di sản Thế giới. Chùa Cầu còn xuất hiện trên tờ giấy bạc 20.000 đồng vẫn được lưu hành nhưng lại rất nhiều người để ý đến.

Hình ảnh Chùa Cầu xuất hiện trên tờ giấy bạc 20.000 đồng

Vào thế kỷ thứ 17, người Nhật đã đến Hội An buôn bán và họ xây dựng Chùa Cầu tại Faifo, tên gọi ngày xưa của Hoài Phố, tức Hội An ngày nay. Cũng vì thế, Chùa Cầu còn được gọi là Chùa Nhật Bản. Các thương gia Nhật tin rằng chiếc cầu là một thanh kiếm đâm xuống lưng con quái vật “namazu”, khiến nó không quẫy đuôi, gây ra những trận động đất.

Năm 1653, phần chùa trên cầu được thiết kế từ giữa cầu nên mới có tên là Chùa Cầu. Đến năm 1719, chúa Nguyễn Phúc Chu thăm Hội An, đặt tên cho chiếc cầu là “Lai Viễn Kiều” (cầu đón khách phương xa). Theo niên đại được ghi lại ở xà nóc và văn bia ở đầu cầu thì chiếc cầu đã được dựng lại vào năm 1817.

Chùa Cầu, Hội An

Chùa Cầu là một kiến trúc bằng gỗ được xây dựng trên những trụ cầu bằng gạch, dài khoảng 18m, có mái che, vắt ngang một lạch nước chảy ra sông Thu Bồn. Mái chùa lợp ngói âm dương, trên cửa chính của cầu có một tấm biển lớn chạm nổi 3 chữ Hán “Lai Viễn Kiều”.

Tuy gọi là chùa nhưng bên trong không có tượng Phật. Chùa và cầu đều bằng gỗ sơn son chạm trổ rất công phu, mặt chùa quay về phía bờ sông Thu Bồn. Hai đầu cầu có tượng thú bằng gỗ đứng chầu, một đầu là tượng chó, một đầu là tượng khỉ. Có người giải thích vì cây cầu xây từ năm Thân và hoàn tất vào năm Tuất (?).

Người dân Hội An rất hãnh diện về kiến trúc của Chùa Cầu. Dù khởi thủy là một tác phẩm của người Nhật nhưng công trình này đã gắn bó với địa phương để trở thành một di sản kiến trúc của quốc gia và cả thế gới với những câu thơ:  

“Ai đi phố Hội Chùa Cầu
Để thương để nhớ để sầu cho ai
Để sầu cho khách vãng lai
Để thương để nhớ cho ai chịu sầu.”  

Chùa Cầu vào ban đêm

Từ Quảng Nam ra Huế, sau khi vượt đèo Hải Vân, du khách sẽ gặp một chiếc cầu ngói giữa khung cảnh thơ mộng của vùng quê đất Thần Kinh. Chiếc cầu này thường được nhắc đến trong kho tàng ca dao của địa phương:

“Ai về cầu ngói Thanh Toàn
Cho em về với một đoàn cho vui.”

Cầu ngói Thanh Toàn thời Pháp thuộc

Tôi đã từng đến Chùa Cầu và cả cầu ngói Thanh Toàn. Qua cái nhìn của một du khách, cầu ngói Thanh Toàn đẹp hơn Chùa Cầu rất nhiều mặc dù sự nổi tiếng hơn vẫn thuộc về Chùa Cầu. Khung cảnh là yếu tố quan trọng. Cầu ngói Thanh Toàn nằm giữa một thiên nhiên mộc mạc trong khi Chùa Cầu lại ở trung tâm của phố thị đông người qua lại.

Độ dài của hai chiếc cầu xấp xỉ ngang nhau nhưng khi bước lên cầu ngói Thanh Toàn khách sẽ có một cảm giác gần gũi với thiên nhiên trong khi Chùa Cầu lại mang sắc thái đường phố, dù đó là phố cổ. Người đến Thanh Toàn sẽ thấy một sự khác biệt giữa thế giới phố thị và làng quê mộc mạc.

Cầu ngói Thanh Toàn, thuộc địa phận huyện Hương Thủy, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 8km. Thân cầu được làm bằng gỗ, phía trên lợp mái ngói hình ống, tráng men. Cầu được chia làm 7 gian với gian giữa là nơi thờ bà Trần Thị Đạo, người góp tiền xây cầu cho dân làng tiện đường qua lại vào thế kỷ 18.  


Cầu ngói Thanh Toàn

Cầu ngói Thanh Toàn được xây dựng theo lối “thượng gia hạ kiều” với ý tưởng trên là mái nhà và dưới là cầu. Cầu bắc ngang dòng sông Như Ý với hai bên thân là lan can, có bục gỗ để ngồi nghỉ ngơi và trên đầu lợp mái ngói lưu ly, che mưa, che nắng.  

Sau hơn hai thế kỷ dãi dầu với năm tháng, đương đầu với gió bão lụt lội và chiến tranh tàn khốc.... cầu ngói đã được trùng tu, sửa chữa vào các năm 1847, 1906, 1956 và 1971. Qua các lần tu sửa, kích thước thu hẹp đi, chiều dài còn 16,85m và rộng 4,63m.

Bên cạnh cầu, từ năm 2015 có một Nhà trưng bày nông cụ Thanh Toàn. Nơi đây triển lãm các loại nông, ngư cụ truyền thống và còn “kể” những câu chuyện sinh hoạt thôn quê, với sự trợ giúp kinh phí và phối hợp của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Ủy ban Văn hóa Giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO).

Gian thờ và những bục gỗ trên cầu ngói Thanh Toàn

Ra đến Bắc, chúng ta sẽ được đi trên cầu ngói Phát Diệm, xây dựng năm 1902. Thị trấn Phát Diệm thuộc huyện Kim Sơn, tỉnh Thái Bình, nơi có một quần thể nhà thờ đá nổi tiếng trên một vùng đất sình lầy ven biển. Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) là người đã có công lớn trong việc khai sinh, mở rộng và ghi danh vùng đất này trên bản đồ Việt Nam.

Cầu ngói Phát Diệm có dáng cầu cong cong, bên trên lợp ngói… không chỉ để đi lại mà còn là điểm hẹn văn hóa của người dân địa phương qua nhiều thế hệ. Hơn 100 năm qua, cây cầu ngói Phát Diệm luôn là niềm tự hào của người dân thị trấn và là một công trình văn hóa rất ý nghĩa.

Cầu ngói Phát Diệm

Sông Ân chảy qua thị trấn Phát Diệm là một công trình thủy lợi được Nguyễn Công Trứ cho xây dựng để lấy nước ngọt từ đầu nguồn về rửa mặn giúp người dân sản xuất nông nghiệp. Khi có con sông này, việc đi lại hướng về phía biển gặp nhiều khó khăn nên ông đã xây dựng một cây cầu nối đôi bờ sông Ân.

Ban đầu cầu được làm bằng thân những cây gỗ to, những tấm gỗ lớn để cầu rộng rãi cho người dân đi lại. Do thời gian bị hư hại, năm 1902, cầu được thay thế bằng một cây cầu có mái lợp ngói.

Trải qua một thế kỷ, cầu ngói Phát Diệm ngày nay vẫn còn giữ được nguyên dáng vẻ của chiếc cầu xưa với hai bên là hai hàng cột gỗ lim và lan can rất chắc chắn. Cầu có 3 nhịp, mỗi nhịp 4 gian với chiều dài 36m, chiều rộng 3m. Phía hai bên đầu cầu có các bậc tam cấp và chỉ người đi bộ mới qua được cầu.

Cầu ngói Phát Diệm soi bóng bên dòng sông Ân

Ngoài cây cầu ngói Phát Diệm, huyện Kim Sơn còn có 2 cây cầu ngói khác và trở thành địa phương có nhiều cầu ngói nhất nước. Cầu ngói Lưu Quang (xã Quang Thiện) được khánh thành, đưa vào sử dụng tháng 8/2015. Đây là cây cầu ngói thứ 2 bắc qua sông Ân. Cầu được làm bằng bê tông cốt thép, bên trên có phần mái che lợp ngói, thiết kế gần giống với cầu ngói Phát Diệm.

Cầu ngói Lưu Quang (xã Quang Thiện)

Cầu Hòa Bình (xã Hùng Tiến) là cây cầu ngói thứ 3 bắc qua sông Ân, huyện Kim Sơn. Cầu được hoàn thành và đưa vào sử dụng năm 2016. Cầu có 3 nhịp, 9 gian, chiều dài hơn 20m, rộng 8m. Cầu có thiết kế giống như một ngôi chùa với mái cong vút.

Cầu Hòa Bình (xã Hùng Tiến)

Tôi đã đến khu quần thể Nhà thờ Chính tòa được xây dựng bằng đá và gỗ từ năm 1875 ở Phát Diệm trong một chuyến “cross-country” với đoàn sinh viên Mỹ nhưng quả thật chưa được bước chân lên cầu ngói Phát Diệm. Tuy nhiên, những gì được đọc và thấy qua hình ảnh, cầu ngói Phát Diệm rất xứng đáng được xếp vào nhóm những cây cầu ngói nổi tiếng của Việt Nam.

Riêng với hai cây cầu mới được địa phương “bê-tông-hóa” thành “cầu ngói” là những kiến trúc, phải nói là “thô kệch”, ‘tân không ra tân, cổ không ra cổ”. Những kiểu kiến trúc này ngày nay không hiếm, nhất là tại miền Bắc.

Người ta nghĩ ngay đến những dinh thự, biệt phủ của các trọc phú, quan chức lắm tiền, nhiều của. Bắt chiếc một chút Gothic, lấy một chút nét La Mã, cóp một chút ảnh hưởng của Phục Hưng… để có một tác phẩm “lai căng” hay nói theo ngôn ngữ bình dân là “tả pín lù”!

Cầu ngói Phát Diệm

Tại chùa Lương (Hải Hậu, Nam Định) có cầu cây cầu ngói trên sông Trung Giang, được xây dựng vào thời Lê, cuối thế kỷ 15. Chùa Lương, còn được gọi là “Chùa Trăm Gian” hay Phúc Lâm Tự được xây dựng vào đời vua Lê Hồng Thuận (1509-1515).

Theo lịch sử, cầu ngói Chợ Lương có niên đại cùng với chùa Lương. Cầu có 9 gian bằng gỗ lim bắc trên hai hàng cột đá được gia công tỷ mỉ, kỹ thuật chạm trổ khéo léo. Nhìn từ xa, chiếc cầu như một con rồng đang vươn mình lên trời cao. Người thợ thủ công mỹ nghệ làng Hải Minh được ca tụng:

“Ai qua Cầu Ngói Chợ Lương,
Ghé thăm Mỹ nghệ Hải Minh làng nghề”

Mỗi đầu cầu đều có 4 con nghê chầu, với dáng vẻ vừa thân thuộc vừa uy nghiêm, ý nghĩa ấy được dân gian thể hiện trong câu: “Bốn con nghê đực chầu về tổ tông”. Hình ảnh cầu ngói Chợ Lương đã được đưa lên trên tem bưu chính để cả nước chiêm ngưỡng.

Tem cầu ngói chùa Lương (Hải Hậu, Nam Định)

Hà Nội có  Chùa Thầy (thuộc Hà Tây cũ) với hai cây cầu ngói Nhật Tiên và Nguyệt Tiên. Tương truyền hai cây cầu này do Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (1528- 1613) xây dựng vào khoảng những năm đầu thế kỷ 17. Đến nay cầu đã qua nhiều lần trùng tu và kiến trúc hiện tại cũng vẫn còn mang những nét đặc trưng của kiểu cầu ngói vùng đồng bằng Bắc bộ.

Cầu Nhật Tiên nằm về bên trái chùa để đi ra đảo có đền thờ Tam phủ

Cầu Nguyệt Tiên ở bên phải chùa nối với bờ hồ có đường lên núi

***

Khác biệt với miền Trung và miền Bắc về lịch sử mở mang bờ cõi, miền Nam được coi như “vùng đất mới” nên thiếu hẳn những chiếc cầu ngói, nét đặc trưng về văn hóa “bán cổ điển” của Việt Nam. Đó cũng là sự thiệt thòi của những vùng đất “sinh sau, đẻ muộn”.

Thay vào đó, Miền Nam có những kiến trúc mang đậm nét Phương Tây, đặc biệt là ành hưởng của văn hóa Pháp trong việc xây dựng những tòa dinh thự. Sài Gòn là một thí dụ điển hình về phong cách kiến trúc theo trường phái Gothic, Roman, Baroque do người Pháp thết kế và xây dựng.

***

--> Read more..

Thứ Hai, 24 tháng 9, 2018

Chuyện nói ngọng vùng miền

Facebooker Dung Hạnh ở Canada về Hà Nội trong một chuyến công tác với đoàn “chuyên gia”. Nhân lúc rảnh rỗi, cô dắt các bạn đi ăn kem Hà Nội cho biết mùi. Dưới đây là câu chuyện “Đi ăn kem ở thủ đô Hà Nội” của cô.

***
Trong một lần đi công tác tại thủ đô Hà Nội, tôi và đoàn chuyên gia Canada bước vào một quán kem sau một ngày làm việc căng thẳng & mệt mỏi. Dù đã biết Hà Nội đang rất thịnh hành với “bún chửi”, “cháo mắng”, nhưng tôi vẫn ngạc nhiên pha chút ngượng ngùng cùng đồng nghiệp vì nét mặt khó chịu không che dấu của cô phục vụ trong quán.

Sau nụ cười như thể vừa bị bà chủ nhắc nhở “mày không cười thì cuối ngày khỏi nãnh nương nhá nhá nhá”, cô đặt tấm thực đơn một cái “rầm” trên bàn rồi đứng dang ra xa bấm iPhone chơi, bỏ mặc mấy anh Canadians ngơ ngác tưởng mình phạm lỗi gì. Chỉ có 1 con nhỏ Mít tố nữ là “tui” quê độ nên cóc thèm coi thực đơn luôn! Vẫn bằng giọng rất nhẹ nhàng & từ tốn, tôi hỏi:

- Tui: Em ơi, em có các loại kem nào?
- Ẻm: Cái mơ lu trên bàn đây lày!
- Tui: (pà mịa nó, chị mà không chọc được cô em Bắc Kỳ này thì chị gác kiếm xuống núi luôn!) Cái mơ lu là cái gì vậy cưng?
- Ẻm: Giời ạ! Mơ lu cũng không biết nà dzì à? Cái nhà chị lày hay nhễ!
- Tui: Cái nhà chị á? Đâu có gì hay đâu cưng! À mà em có kem gì nói đi để chị thông dịch lại cho đồng nghiệp biết.
- Ẻm: Dzì cũng có!
- Tui: Dzì là dzì?
- Ẻm (bắt đầu “nồng nộn” chơi nguyên một tràng): Dzâu, dzứa, dzừa, va li, na.

Kem dâu 

Anh bạn đồng nghiệp hỏi bằng tiếng Pháp: “Tôi nghe được một chữ rồi, ở tiệm kem có bán cả va li nữa à? (Vì nghe như “valise” trong tiếng Pháp). 

Tui vừa cười cười, vừa lắc đầu và ngẫm nghĩ chắc kêu cho bạn mấy loại kem Dâu, Dừa và Dứa (Thơm), còn mình ăn thử kem Na coi sao. Người Nam gọi là trái Mãng Cầu, người Bắc gọi là trái Na. Kem Mãng Cầu của tiệm kem Cô Ba tại Montreal thơm ngon nổi tiếng, bây giờ phải thử kem Na ở Hà Nội chứ.

- Tui: Em cho các anh này kem Dâu, Dừa và Dứa, cho chị kem Na nha.
- Ẻm: Đây bán chứ không cho nhá! (Ẻm quay phắt vào phía trong, cất giọng như thùng thiếc bể): 1 dzâu, 1dzứa, 1 dzừa, 1 na. 


Kem dứa 

Đang khoái chí cười cười vì vừa phá cô em Bắc Kỳ cáu kỉnh thì... cụp cụp cụp cụp, nàng đã quay trở lại và dện từng ly kem trên bàn nghe như tiếng chày trên sóc Bom bo! Cứ nhìn màu kem mà đoán thì các anh bạn đã có đúng thứ các anh muốn, nhưng ly của tôi hình như có gì đó sai sai!

- Tui: Em ơi, chị gọi kem Na mà, không phải kem màu trắng sao? Ly này màu nâu có phải lộn gì không cưng?
- Ẻm: Nộn dzì mà nộn! Kêu Na cho Na, nại lói nộn nà thế lào?!
- Tui: Na phải màu trắng chứ em, Mãng cầu đâu có màu nâu.
- Ẻm: Giời ạ, vớ va vớ vẩn cái nhà chị lày! Tôi bảo kem Na, nà ... sô cô na, tôi có bảo nà trái Na núc lào!!!


Kem dừa 


***

P.S: Chuyện này có thật 100%, em không phân biệt vùng-miền gì đâu, quý vị nhẹ tay cho em nhờ!

***
--> Read more..

Popular posts