Thứ Ba, 17 tháng 1, 2017

Họa sĩ… vẽ ra tiền?

Câu hỏi khiến người thưởng ngoạn tranh đôi lúc phải thắc mắc: họa sĩ giàu hay nghèo? Câu trả lời có lẽ còn tùy theo hoàn cảnh của từng người, nhưng nói chung, đều phải dựa theo các yếu tố về không gian và thời gian!

Thuở thiếu thời, Pablo Picasso (1881-1973) bỏ học tại học viện mỹ thuật Academia de San Fernando ở Madrid, Tây Ban Nha, để qua Paris, nơi được mệnh danh là Trung tâm Nghệ thuật của châu Âu. Đó là vào năm 1900, Pablo chưa đầy 30 tuổi. Một giai đoạn khó khăn đối với họa sĩ trẻ trong hoàn cảnh nghèo túng, lạnh lẽo, và quan trọng hơn cả là sự tuyệt vọng.

Anh “thợ vẽ” có lúc đã phải đốt những tác phẩm của mình để sưởi ấm trong những đêm lạnh giá tại Montmartre và Montparnasse, Paris. Bù lại, anh có dịp làm quen và kết bạn với những nhân vật nổi tiếng của Paris như người sáng lập trường phái hội họa siêu thực André Breton, nhà văn Gertrude Stein và nhà thơ Guillaume Apollinaire … Dù tiếng Pháp của Picasso khi đó hãy còn bập bẹ.

Chuyện kể năm 1911 Picasso và Apollinaire bị cảnh sát bắt giữ vì tình nghi hai người tính “ăn trộm” bức tranh Mona Lisa của Leonardo da Vinci trưng bày trong viện bảo tàng Louvre. May mắn chỉ là “tình nghi” nên hai người được thả ngay chứ không ngồi tù ngày nào.

Thời trẻ của Picasso cơ cực, bần hàn là thế nhưng rồi ngày nay những tác phẩm của “ông vua tranh lập thể” đã chiếm 3 vị trí trong danh sách “20 tác phẩm hội họa đắt giá nhất thế giới”. Đó là những vị trí thứ 7 (179,4 triệu đô la), thứ 9 (155 triệu) và thứ 18 (106,5).
       
  

“Les Femmes d'Alger”, xếp hạng thứ 7 trong “Top 20” với giá 179,4 triệu đô la


“Le Rêve”, xếp hạng thứ 9 trong “Top 20” với giá 155 triệu đô la


“Nude, Green Leaves and Bust”, xếp hạng thứ 18 trong “Top 20” với giá 106,5 triệu đô la

Khác với Pablo Picasso của châu Âu, Willem de Kooning (1904- 1997) là một họa sĩ thuộc trường phái trừu tượng người Mỹ gốc Hòa Lan, sinh ra ở Rotterdam. Kooning vẽ theo phong cách được gọi là “biểu hiện trừu tượng” (abstract expressionism) trong nhóm họa sĩ được biết đến như “Trường phái New York”.

Giống với Picasso, Kooning bỏ học văn hóa năm 1916 để làm thợ học việc trong một cơ sở thiết kế. Năm 1924, ông tham dự lớp đêm tại “Học viện Nghệ thuật Rotterdam” mà ngày nay đã đổi tên thành “Học viện Willem de Kooning”.

Chỉ hai năm sau, Kooning đến Hoa Kỳ như một “vị khách không mời” bằng cách “đi chui” trên tàu Shelley của Anh. Ngày 15/8/1926  tàu cập bến Newport News, Virginia, và tại đây, ông “khởi nghiệp” bằng nghề thợ sơn. Một năm sau ông đến Manhattan, sinh sống bằng đủ nghề, từ thợ mộc đến thợ sơn.     

Bắt đầu sự khởi nghiệp trên đất Mỹ của Kooning tồi tệ đến như vậy nhưng hậu vận của ông lại khiến nhiều người phải mơ ước: tác phẩm “Interchange” của ông đứng hàng đầu trong 20 tác phẩm hội họa “đắt nhất thế giới”, được bán trong một cuộc đấu giá tại Christie’s, New York, lên tới 300 triệu đô la.

Lịch sử cuộc bán đấu giá bức tranh đắt nhất thế giới “Interchange” (Giao thoa) được ghi lại với tên người bán là David Geffen, nhà tài phiệt hoạt động trong lĩnh vực giải trí và đồng thời là nhà hoạt động từ thiện. Tháng 9/2015 Geffen đã cho đấu giá bức tranh sơn dầu của Kooning và nhà đầu tư mạo hiểm, tỷ phú Ken Griffin, đã mua lại với giá 300 triệu đô la.


Bức “Interchange” của Kooning trị giá 300 triệu đô la, chiếm ngôi hạng nhất trong “Top 20”

Nói chung, những cuộc bán đấu giá tranh của Kooning đều là những kỷ lục đặc biệt. Trong một loạt 5 bức tranh mang chủ đề “Phụ nữ” của ông có một bức mang tên “Woman III” cũng đã lọt vào danh sách “Top 20”.

Tháng 11/2006, cũng David Geffen đã bán bức “Woman III” với giá 137,5 triệu đô la cho Steven Cohen, cũng là một nhà đầu tư mạo hiểm và nhà sưu tập tranh. Với giá này, “Woman III” chiếm vị trí thứ 12 trong “Top 20” những họa phẩm đắt giá nhất thế giới.


Bức “Woman III” của Willem de Kooning trị giá 137,5 triệu đô la, hạng 12 trong “Top 20”

Hội họa thế giới có trường phái “hậu ấn tượng” (post-impressionist), trong nhóm này, mổi tiếng nhất là “bộ ba” Paul Cézanne (1839 -1906), Vincent van Gogh (1853 -1890) và Paul Gauguin (1848-1903). Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi nói đến Gauguin trước vì một trong những tác phẩm của ông đã lọt vào hàng đầu cùng với Kooning trong danh sách “Top 20”.

Cũng như Cézanne, Gauguin là người Pháp, ra đời tại Paris, nhưng mẹ ông lại là người Peru, gốc Tây Ban Nha. Thế cho nên cuộc đời sáng tác của Gauguin cũng gắn bó với vùng Thái Bình Dương và những người có nước da ngăm ngăm như ở Tahiti.  

Gauguin đã từng là bạn thân với Van Gogh, có một thời gian 9 tuần hai người cùng sáng tác bên nhau cũng như đồng tổ chức những cuộc triển lãm tranh. Ngày 23/12/1888 Gauguin gặp Van Gogh, trên tay có một lưỡi dao cạo, và tối hôm đó Van Gogh cắt tai trái của mình. Tình bạn của hai người chấm dứt trong bí ẩn từ đó, họ không gặp lại nhau nhưng thỉnh thoảng vẫn thư từ qua lại.   

Có một thực tế rất phũ phàng trong cuộc đời sáng tác của Gauguin. Khi còn sinh thời, tác phẩm của ông không được đánh giá cao, phải đợi đến khi ông qua đời giới thưởng ngoạn cũng như các nhà sưu tầm tranh mới để mắt đến và kết quả như đã nói ở trên. Bức tranh “Nafea Faa Ipoipo” của ông hiện giữ kỷ lục với giá 300 triệu đô la, đồng hạng nhất với bức “Interchange” của Kooning trong “Top 20”.

"Nafea faa ipoipo" là tiếng Tahiti, hàm ý “Khi nào em sẽ kết hôn với anh?”. Gauguin vẽ bức tranh này năm 1892 nhân chuyến đến thăm Tahiti lần đầu tiên vào năm 1891. Trước khi đến đó, ông đã hy vọng tìm thấy một một thiên đường nơi ông có thể tạo ra thứ nghệ thuật tinh khiết và nguyên thủy.

Tuy nhiên, khi đến nơi, ông đã nhận thấy rằng Tahiti bị chiếm làm thuộc địa từ thế kỷ 18, và ít nhất hai phần ba cư dân bản địa trên hòn đảo đã bị chết do các bệnh tật từ châu Âu mang lại. Văn hóa "nguyên thủy" đã bị xóa sổ. Gauguin đã vẽ rất nhiều hình ảnh phụ nữ bản xứ trong các tư thế khỏa thân, mặc quần áo Tahiti truyền thống, và mặc trang phục truyền giáo kiểu phương Tây.


Bức “Nafea Faa Ipoipo”, trị giá 300 triệu đô la, đồng hạng nhất với “Interchange” của Kooning trong “Top 20”

Họa sĩ cuối cùng chúng tôi muốn nói đến là Paul Cézanne. Các tác phẩm của Cézanne thể hiện sự sắc sảo trong bố cục, tinh tế qua màu sắc với những nét vẽ sống động mang tính đặc trưng. Ông còn được coi là “cây cầu nối” giữa “trường phái ấn tượng” (impressionism) của thế kỷ 19 với “trường phái lập thể” (cubism) vào đầu thế kỷ 20.

Thường thì các họa sĩ trong giai đoạn khởi đầu đều là những người kém may mắn trong cuộc sống vì xuất thân từ những gia đình nghèo khó. Ngược lại với họ, Cézanne sinh trưởng trong một gia đình có người cha làm chủ một ngân hàng. Tuy nhiên, ông sớm “thoát ly” gia đình giàu có để theo đuổi niềm đam mê hội họa của mình.

Dưới sự hướng dẫn của Camille Pissarro, một họa sĩ sống tại vùng quê gần gũi với thiên nhiên. Sáng tác của Cézanne chuyển từ những gam mầu tối sang những sắc mầu sinh động của những cánh đồng và trang trại ngoài trời (en plein air).

Vào thập niên 1980, nhóm họa sĩ theo trường phái ấn tượng không mấy thành công về tiền bạc qua việc bán tranh. Thêm vào đó, những phê bình khá gay gắt về những tác phẩm của Cézanne khiến ông rời thủ đô Paris để sống tại vùng quê.

Có thể nói, trong suốt cuộc đời nghệ thuật, chưa khi nào Cézanne hài lòng với những kỳ vọng của mình. Nhiều sáng tác đã bị bỏ giở nửa chừng và cũng không ít tác phẩm hoàn chỉnh đã bị chính tay ông thiêu hủy. Thế nhưng, hậu thế lại trân trọng những tác phẩm của ông đến độ bức “The Card Players” được xếp hạng thứ 3 trong “Top 20”.

Cézanne vẽ tổng cộng 5 bức tranh sơn dầu với chủ đề “Những Người Chơi Bài”, số người chơi khác nhau, từ 2 đến 3 (không kể người chầu rìa!) và hầu như ai cũng ngậm ống vố trên môi. Họ là những người ở vùng quê Provençal được họa sĩ vẽ vào năm 1892–93 trong thời kỳ cuối đời.

Một trong những bức “Những Người Chơi Bài” của Cézanne được đấu giá và kết quả dừng lại tại giá 259 triệu đô la, giữ vị trí thứ 3 trong “Top 20”. Những phiên bản khác của “The Card Players” hiện được trưng bày tại các Viện bảo tàng nghệ thuật ở Massachusetts, Pennsylvania, New York và Luân Đôn.

“The Card Players” của Paul Cézanne được xếp hạng 3 trong “Top 20” với giá 259 triệu đô la

Qua câu chuyện “Họa sĩ… vẽ ra tiền?” người đọc có thể tự trả lời thắc mắc của mình.

Với chúng tôi, câu trả lời là “Đúng vậy” mà cũng là “Không phải vậy”. 

“Đúng” thì thực tế đã chứng minh còn “Không đúng” vì những tranh họ “vẽ ra tiền” nhưng bản thân các họa sĩ không hề hưởng một xu nào.

Các nhà đấu giá, các nhà sưu tập hội họa đã hưởng trọn số tiền mà các họa sĩ trước đó đã sáng tác trong nghèo khó!


***
--> Read more..

Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2017

Từ “Ly rượu mừng” đến “Nửa hồn thương đau”

Cuộc đời của nhạc sĩ Phạm Đình Chương - và cũng là ca sĩ Hoài Bắc trong ban hợp ca Thăng Long - có thể được tóm gọn trong hai ca khúc để đời: “Ly rượu mừng”“Nửa hồn thương đau”. Trong số hơn 50 bài hát ông sáng tác, chúng tôi chọn hai bài điển hình này vì nhiều lý do.

Phạm Đình Chương viết nhạc cho đời theo hai tâm trạng của mình: từ hoan lạc đến buồn tủi, hay nói rộng ra là từ lạc quan đến bi quan.  Trong suốt cuộc đời “chìm nổi” của mình, người nhạc sĩ luôn sống trong 2 thái cực và đó cũng là lý do người hát cũng như người nghe nhận ra ngay cuộc đời của ông: vui ít, buồn nhiều. Thế cho nên, “Ly rượu mừng”  và “Nửa hồn thương đau” được chọn cho hai tâm trạng đó.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương (1929-1991)

Phạm Đình Chương xuất thân từ một gia đình văn nghệ nổi tiếng tại Hà Nội. Cha ông, Phạm Đình Phụng, lấy người vợ đầu và có hai người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Phạm Đình Viêm là ca sĩ Hoài Trung trong ban hợp ca Thăng Long.

Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có 3 người con: trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh.

Ba anh em: Phạm Đình Chương (Hoài Bắc), Phạm Thị Băng Thanh (Thái Thanh) và Phạm Đình Viêm (Hoài Trung)

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh năm 1929 tại Sơn Tây, trong một gia đình mang huyết thống nghệ sĩ và có cuộc đời gắn bó cùng âm nhạc. Phạm Đình Chương đã đến với âm nhạc từ những nỗ lực tự học hỏi tìm hiểu bằng chính tâm hồn nhạy cảm của mình.

Hầu như những sáng tác của ông trong giai đoạn đầu đều chất chứa những đặc tính: phiêu lãng nhưng chân thật, lãng mạn nhưng hiện thực và nhất là nét đằm thắm, trữ tình đầy tình yêu quê hương, con người và đất nước. Ông đã từng tham gia ban văn nghệ quân đội Liên Khu 4 trong những ngày đầu tiên kháng chiến chống Pháp theo tiếng gọi của non sông.

Sau một thời gian, gia đình Phạm Đình Chương quay trở về Hà Nội. Tại đây, năm 1949, gia đình họ Phạm thành lập Ban hợp ca Thăng Long với ba giọng ca chính là Hoài Bắc, Hoài Trung và Thái Thanh.

Khi di cư vào Nam, ban Thăng Long được tăng cường thêm các anh em, dâu rể một nhà và được xem là ban hợp ca nổi tiếng nhất tại Sài Gòn, gắn liền với phòng trà “Đêm Màu Hồng”, trình bày những nhạc phẩm bất hủ của các nhạc sĩ đã nổi danh từ thời tiền chiến, nổi bật là nhạc sĩ Phạm Đình Chương và Phạm Duy.

Ban hợp ca Thăng Long (Phạm Duy, Hoài Bắc, Hoài Trung, Thái Thanh, Khánh Ngọc, Thái Hằng)

Một trong những sáng tác của Phạm Đình Chương đã đi sâu vào lòng người miền Nam mỗi độ xuân về là ca khúc “Ly rượu mừng”. Tuy nhiên, kể từ 1975 bài hát này không nằm trong danh mục các nhạc phẩm cũ được trình diễn trước công chúng. Hình như, theo quan điểm chính trị của Cục Nghệ thuật Biểu diễn, lời của bản nhạc có câu “chúc người binh sĩ lên đàng” rồi lại vinh danh họ là “người vì nước quên thân mình”… được hiểu là quân nhân VNCH.

Phải chờ sau 41 năm sau bản nhạc tưởng chừng như “vô tội vạ” mới được “cởi trói”.   Báo Thanh Niên giải thích lý do: mãi đến năm 2016 “Ly rượu mừng” mới được cởi trói là vì người lính được ca tụng trong đó là “người lính chống Pháp” trong cuộc kháng chiến. Thế cho nên, đêm 31/12/2016 bài hát được chính thức xuất hiện trước công chúng trong Chương trình “Giai điệu Tự hào” trên Truyền hình Quốc gia.

Bản nhạc được sáng tác với âm điệu tươi vui như một lời chúc Tết tốt đẹp theo truyền thống dân tộc. Lời chúc đó gửi tới mọi thành phần xã hội: từ “anh nông phu”, “người công nhân”, “đôi uyên ương”, “người nghệ sĩ” cho đến các thương gia và binh sĩ. Ngay từ khi ra đời, ca khúc đã được lòng khán thính giả và là tác phẩm được nghe và hát nhiều nhất trong mỗi dịp xuân về tại Miền Nam.

Theo Wikipedia, bản cập nhật tháng 9/2016, “Ly Rượu Mừng” được Phạm Đình Chương sáng tác vào năm 1952 cùng với hai bản “Đợi chờ” và “Hò leo núi”. Cũng theo nguồn này, nhạc sĩ “dinh tê” về Hà Nội năm 1951 và thành lập ban hợp ca Thăng Long trong đó có ca sĩ Hoài Bắc. Người ta không khỏi thắc mắc tại sao nhạc sĩ Phạm Đình Chương tại sao lại lấy tên Hoài Bắc trong khi vẫn ở miền Bắc?

Tại miền Nam, tờ nhạc "Ly Rượu Mừng" được nhà xuất bản Tinh Hoa ấn hành lần thứ nhất năm 1956 và ghi rõ “Ấn quyền 1956 của Tinh Hoa”. Có lẽ đây là bằng chứng chính xác nhất vì nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã từ trần ngày 22/8/1991 tại California nhưng lại có nguồn ghi vào năm 1993. Quả là “Ly rượu mừng” và người nhạc sĩ sáng tác ra nó vẫn còn nhiều bí ẩn.

Bìa nhạc “Ly rượu mừng” với “Ấn quyền 1956 của Tinh Hoa” và “Ấn hành lần thứ nhất”

Có thể nói, cuộc đời của nhạc sĩ Phạm Đình Chương đượm nhiều uẩn khúc và nhiều bi kịch. Năm 1953 ông lập gia đình với ca sĩ và sau này là diễn viên nổi tiếng, Khánh Ngọc. Những người thuộc lứa đầu bạc chắc không thể nào quên ca sĩ Khánh Ngọc của thập niên 50 trong bản nhạc Pháp “Cerisier Roses et Pommiers Blances” với lời Việt “Vườn xuân ong bướm, ngất ngây ngất ngây lòng ta…” .

Vào năm 1955, một đoàn làm phim Mỹ-Phi đến Sài Gòn để tìm diễn viên cho bộ phim “Ánh sáng miền Nam” và Khánh Ngọc đã được chọn đóng vai chính. Cuộc đời tình ái của đôi trai tài-gái sắc Phạm Đình Chương-Khánh Ngọc tràn trề hạnh phúc… cho đến khi xảy ra chuyện “loạn luân” trong đại gia đình nhạc sĩ.

Bi kịch có liên quan đến nhiều thành viên: Nhạc sĩ Phạm Duy là chồng của Thái Hằng, Thái Hằng là chị của Phạm đình Chương và cũng là chị của Thái Thanh. Khánh Ngọc là vợ của Phạm đình Chương, Phạm Duy trong vai trò anh rể lại “tằng tịu” với Khánh Ngọc, em dâu của mình.

Phạm Đình Chương đã nghe phong phanh dư luận. Với tình yêu nồng thắm buổi ban đầu, ông không thể nào tin vào sự ngoại tình đã được đồn thổi. Điều thương tâm nhất là ông vẫn yêu thương, tin tưởng vợ và bỏ ra ngoài tai những điều không tốt lành của giới văn nghệ sĩ tại Sài Gòn.

Cho đến một buổi tối “định mệnh”, Phạm Đình Chương cùng với những người bạn thân "bắt tại trận" cuộc tình vụng trộm của đôi tình nhân tại quán chè ở Nhà Bè - Gia Định. Sáng hôm sau, một loạt bài phóng sự đều tra nóng bỏng được tung ra trên tờ nhật báo “Sài Gòn Mới" của bà Bút Trà. Vụ "ăn chè Nhà Bè" khiến cả Sài Gòn đều biết.

Cho dù Phạm Duy cầu cứu đến Bộ Thông Tin xin các báo cho ngưng các bài điều tra, phóng sự nhưng "hoạ vô đơn chí", trong cuộc đời này, cái gì càng dấu diếm bao nhiêu, càng được "bùng nổ" và thêu dệt bấy nhiêu. Suy cho cùng, các cụ ta thường nói, và nói rất đúng: “Xướng ca vô loại”!

Nỗi đau dày xe tâm can và sự tan nát của một đại gia đình nghệ sĩ đã "đánh gục' nhạc sĩ Phạm Đình Chương khi ông phát hiện chuyện vượt ra ngoài luân lý. Đã có lúc Phạm Đình Chương nghĩ đến chuyện tự tử nhưng tiếng khóc của đứa con trai đưa ông về hiện tại. Ông gạt nước mắt đau thương, nộp đơn ly dị lên toà án. Vụ việc kết thúc và Phạm Đình Chương được quyền nuôi đứa con trai lúc bấy giờ khoảng 5 tuổi.
  
Ca sĩ Khánh Ngọc

Biến cố đó là một động lực cho sáng tác “Nửa hồn thương đau” với những ca từ như nức nở:

“Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa.
Cho tôi về đường cũ nên thơ.
Cho tôi gặp người xưa ước mơ.
Hay chỉ là giấc mơ thôi.
Nghe tình đang chết trong tôi.
Nghe lòng tiếc nuối xót thương suốt đời…”

“Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau
Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau
Hay ta còn hẹn nhau kiếp nào?
Anh ở đâu ?
Em ở đâu ?”

“Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt.
Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất.
Và tiếng hát và nước mắt.

Đôi khi anh muốn tin.
Đôi khi anh muốn tin.
Ôi những người, ôi những người.
Khóc lẻ loi một mình...”

“Nửa hồn thương đau” chính thức ra đời năm 1970 để chấm dứt một thời kỳ sáng tác u uẩn và quạnh quẽ của một người chồng vẫn một lòng thương yêu người vợ đã phản bội mình. Bản nhạc như rút ruột lòng người và bản nhạc cũng đánh dấu một giai đoạn sáng tác của người nhạc sĩ tài hoa nhưng bạc phận.

Khi ra nước ngoài, Phạm Đình Chương vẫn sáng tác một số ca khúc mang tính cách hoài niệm: “Bên trời phiêu lãng”, “Cho một thành phố mất tên”, “Đêm, nhớ trăng Sài Gòn”… Và trong khi “Ta ở trời tây” Phạm Đình Chương có lời nhắn nhủ:  “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”.

“Nửa hồn thương đau”

***

* Xem video clip “Ly rượu mừng”:

* Nghe “Nửa hồn thương đau”:


***
--> Read more..

Thứ Ba, 3 tháng 1, 2017

Trần Lệ Xuân: “Đệ Nhất Phu Nhân” hay “Bà Rồng”?

“Đệ Nhất Phu Nhân” là cụm từ trong tựa đề cuốn tiểu thuyết hư cấu mang tên “Đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân” của Hoàng Trọng Miên. Đây là một truyện dài đăng báo nhiều kỳ tại Sài Gòn, được viết vào năm 1965, hai năm sau khi nền Đệ nhất Cộng hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm sụp đổ. Cuốn sách này được Nhà xuất bản Đà Nẵng tái bản năm 2010.

Nhân vật chính của tiểu thuyết dựa vào chuyện đời của bà Trần Lệ Xuân, phu nhân ông Ngô Đình Nhu, em trai và cũng là Cố vấn của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ông Diệm là người độc thân nên trong những lần tiếp quốc khách có phu nhân đi kèm, bà Nhu đứng ra đảm nhiệm chức vụ “Đệ Nhất Phu Nhân” để tiếp đón phu nhân các nước.

Bà Trần Lệ Xuân cũng là dân biểu Quốc hội, Chủ tịch phong trào Phụ nữ Liên đới. Bà chính là người đã đưa ra “Luật Gia Đình” cấm người đàn ông lấy hai vợ (ban hành tháng 5/1958), Luật bảo vệ luân lý, thuần phong mỹ tục (tháng 6/1962) dẫn đến việc Sài Gòn đóng cửa các vũ trường phục vụ việc ăn chơi, nhảy nhót.

Chiếc áo dài cổ hở do bà đề xướng, vào thời đó được gọi là “áo dài bà Nhu”, cũng là một dấu ấn mà bà để lại đến ngày hôm nay. Là một phụ nữ tài giỏi, xông xáo, dám nói, dám làm nhưng bà cũng có những phát biểu gây sốc khiến không ít người bất bình.

Có người thậm chí còn nói, bà cũng là một trong những “tác nhân góp sức”, “đổ dầu vào lửa” khiến nền Đệ nhất Cộng hòa của ông anh rể sụp đổ vào ngày 1/11/1963 sau sự kiện Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu ngày 11/6/1963 để phản đối chính sách đàn áp Phật giáo (1).

“Đệ Nhất Phu Nhân” với chiếc áo dài hở cổ

Trở lại cuốn tiểu thuyết hư cấu của Hoàng Trọng Miên được viết dưới thời Đệ nhị Cộng hòa của các tướng lãnh đã lật đổ Tổng thống Diệm. Đó là thời điểm “tố” hai anh em người đã bị giết trong chiếc thiết vận xa M113 nên người đọc hiểu ngay loại “tiểu thuyết feuilleton” rất ăn khách trong báo chí Sài Gòn thời đó khi mà "Ủy ban Điều tra tội ác và tài sản nhà Ngô" đang ở vào thời kỳ sôi nổi nhất.

Ở một khía cạnh khác, cuốn tiểu thuyết này đã được in lại theo cách nhìn chính trị đối nghịch. Nhà xuất bản Đà Nẵng trong “Lời Nói Đầu”, năm 2010, viết:

“Tác giả đã dựa vào sự kiện có thực để tiểu thuyết hoá cuộc đời của Trần Lệ Xuân, một người đàn bà đã đóng vai trò hết sức quan trọng trong chế độ Diệm, từ thời Lệ Xuân còn là cô gái lãng mạn, sống trong gia đình có những sinh hoạt phóng túng thuộc giới gọi là đài các thượng lưu của xã hội cũ, chịu ảnh hưởng đậm đà của văn hoá Pháp, một thứ văn hoá đã được thực dân nhào nặn cho hợp yêu cầu thống trị ở các thuộc địa, đến lúc làm dâu họ Ngô rồi trải qua các biến cố lịch sử đưa đẩy mà thành Đệ nhất phu nhân…”

“Đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân” xuất bản năm 2010


Truyện của Hoàng Trọng Miên khá đầy đặn với 26 Chương, trải dài từ Chương 1, “Bước đầu chinh phục”, đến chương cuối, “Cuộc đời lưu vong”. Đặc điểm của các Chương là không theo trình tự thời gian mà có thể từ Chương 2, “Rừng Sác tử lộ”, kể lại cuộc binh biến của “thảo khấu” Bình Xuyên năm 1954 rồi lại nhảy qua Chương 4 với lai lịch họ ngoại hoàng tộc của bà Nhu.

Hoàng Trọng Miên dẫn người đọc trở về quá khứ bằng rất nhiều tư liệu lịch sử từ thời kỳ bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp tại Hà Nội cho đến những giai đoạn cuối của nền Đệ nhất Cộng hòa. Tên của các nhân vật lịch sử hầu hết được giữ nguyên nhưng cũng có ngoại lệ đặc biệt: nhân vật Trần Lệ Xuân ngoài đời trở thành Lệ trong truyện.

Tuy nhiên cũng phải nói, bút pháp của Hoàng Trọng Miên rất “tàn nhẫn và cay độc” đối với nhân vật Lệ theo thể loại tiểu thuyết đăng trên báo nhằm thu hút người đọc bình dân, thích những đoạn tả tình theo kiểu báo “lá cải”. Chúng tôi xin trích một đoạn trong chương cuối cùng:

“Tham vọng uy quyền đã đưa nàng lên địa vị tột đỉnh của một đệ nhất phu nhân, nhưng đồng thời cũng lôi cuốn nàng theo con đường phiêu lưu, trái ngược bản chất của người đàn bà. Chủ trương đem dục tình phục vụ cho chính trị mà Lệ đã thi hành, dần dà biến đổi cả con người Lệ thành một khí cụ, một phương tiện quái dị. Những chính khách, tướng lãnh, nhân vật ngoại quốc và trong nước, bao nhiêu người đã bị Lệ lôi cuốn vào vòng luyến ái của chính trị, đã góp sức củng cố cho địa vị cầm quyền của nhà chồng ở miền Nam Việt Nam, những người tình mà Lệ đã ôm ấp không phải vì yêu đương, họ đã nghĩ thế nào về nàng? Và, trong sự luyến ái phi yêu đương ấy, Lệ đã ý thức tự biến mình thành một món đồ chơi chuyền tay trong chính trường!”

Bà Trần Lệ Xuân trên bìa báo Time


Từ “Đệ Nhất Phu Nhân” bà Nhu có thêm danh hiệu “Bà Rồng”, xuất xứ từ tên gọi trong cuốn sách thuộc loại biên khảo của nữ tác giả người Mỹ, Monique Brinson Denery, với tên sách “Finding the Dragon Lady: The Mystery of Vietnam's Madame Nhu”, phát hành tháng 5/2013.

Sách được Mai Sơn dịch sang tiếng Việt với tiêu đề “Madam Nhu Trần Lệ Xuân - quyền lực Bà Rồng”, Công ty Sách Phương Nam liên kết với Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn ấn hành tại Sài Gòn tháng 2/2016.

Quả thật cái tên “Bà Rồng” rất xa lạ đối với độc giả người Việt, cả về từ vựng lẫn ý nghĩa. Không thể nào tìm được “Bà Rồng” trong tự điển tiếng Việt nhưng có lẽ vì muốn “trung thực” trong dịch thuật nên Mai Sơn đã phải dùng từ ngữ này.

Xin nói một chút về các truyện dịch. Tại miền Nam vào năm 1970, nhật báo Chính Luận đã đăng “The Godfather” với tựa đề “Cha Đỡ Đầu” do nhà văn Trọng Tấu dịch từ bản tiếng Pháp. Bản dịch của Trọng Tấu chỉ xuất hiện trên Chính Luận trong vài tháng rồi ngưng nửa chừng, có lẽ vì không hấp dẫn người đọc với lối hành văn quá chân phương.

Phải đợi đến năm 1972, cũng cuốn sách đó lại mang tên “Bố Già” do Ngọc Thứ Lang dịch từ bản gốc tiếng Anh mới bắt đầu thu hút sự chú ý của người đọc. Rõ ràng là công việc dịch thuật đóng một vai trò quan trọng trong việc chuyển ngữ một tác phẩm từ tiếng nước ngoài.

Cuốn sách của Denery được dịch sang tiếng Việt với tựa “Madam Nhu Trần Lệ Xuân - quyền lực Bà Rồng” có phần hơi khiên cưỡng. Tựa đề của cuốn sách trong bản dịch tiếng Việt với mấy chữ “quyền lực Bà Rồng” có thể làm người đọc hình dung ra hình ảnh của một “con rồng cái” mặt sắt đen xì, dữ tợn và hung ác. Thiết nghĩ, đó là một dạng của “cultural shock” giữa Đông và Tây, cụ thể là giữa từ ngữ “Dragon Lady” được hiểu là “Bà Rồng” trong tiếng Việt.

Tác giả Demery và Tác phẩm


Ngay từ những dòng đầu cuốn sách, Denery đã viết về tiếng tăm của “Bà Rồng” qua một nhận xét khá sâu sắc và tinh tế: “Năm 1963, ở đỉnh cao danh vọng của bà, tờ New York Times gọi vị Đệ Nhất Phu Nhân miền Nam Việt Nam ba mươi chín tuổi này là người đàn bà “quyền lực nhất” ở châu Á và so sánh bà với Lucrezia Borgia”.

Dòng họ Borgia vốn nổi tiếng trong chính trường nước Ý thời Phục hưng mà Niccolò Machiavelli (1469-1527) nhà ngoại giao, nhà triết học chính trị đã có những phân tích cặn kẽ để trở thành một học thuyết mang tên chính ông qua cuốn “Quân Vương” (The Prince) .

Lý do bà Nhu được so sánh với Lucrezia Borgia vì cả hai đều là những nhân vật nữ đóng vai trò chính trị, cả hai đều được sắp đặt cho các cuộc hôn nhân tượng trưng cho sự tính toán theo kiểu các quân vương xưa và ngày nay người ta gọi là “femme fatale”. Một thuật ngữ ám chỉ những nhân vật có nhan sắc tham gia hoạt động chính trị và thường khiến những tình nhân của họ gặp kết cuộc bi thảm, chẳng hạn như Bao Tự ở Phương Đông hay Mata Hari ở Phương Tây.

Nguyên tác của Demery gồm 16 Chương, khởi đầu là “Paris, 2005”, thay lời tự sự của tác giả. Kể từ Chương 2, “Những nấm mồ bị bỏ quên”, đến Chương 8, “Người đàn ông kỳ lạ ở Đông Nam Á”, dẫn dắt người đọc đến những khúc quanh trong cuộc đời bà Nhu. Chương 9 là một bước ngoặt quan trọng khi gia đình họ Ngô bước vào Dinh Độc Lập vào tháng 4/1965. Demery viết:

“Bà Nhu đã dấn thân vào một khoảng trống chính trị tạo ra bởi vị Thủ tướng lạnh nhạt suốt ngày cạo giấy [ám chỉ ông Diệm khi mới về nước do lời mời của Bảo Đại] và người em trai thậm thụt của ông [ám chỉ ông Nhu]. Cả hai anh em đều không có khả năng thiên bẩm, không có óc kịch nghệ, và có lẽ không có bụng dạ nào để chiến đấu nữa. Bà Nhu có cả ba – có chỗ thừa thãi là đằng khác”.


Người đọc cảm nhận được quyền lực của “Bà Rồng” ngay từ khi đó qua những “thủ đoạn chính trị” của bà. Đó là vụ thảo khấu Bình Xuyên gây áp lực với chính quyền mới. Bà đã âm thầm tiến hành những việc nhỏ nhặt như làm “băng rôn, khẩu hiệu” hay những việc lớn như tập họp lực lượng những người di cư Công giáo mới đến Sài Gòn từ miềm Bắc. Bà nói với họ: “Đừng làm gì trong lúc này, nhưng khi đến lúc, các anh sẽ nghe và làm chính xác những điều tôi nói”.

Đích thân bà Nhu lên kế hoạch cho một cuộc biểu tình đại quy mô để ủng hộ ông Diệm ngày 21/9/1954. Trước đám đông khoảng 4.000 người bà đã chứng tỏ mình là một kịch sĩ có tài trên sân khấu chính trị. Bà đã gào to giữa đám Bình Xuyên theo Pháp: “Các anh là loại cảnh sát gì? Các anh tính làm gì những người nghèo khổ, vô phương tự vệ này?...”

“Madam Nhu Trần Lệ Xuân - Quyền Lực Bà Rồng” (Mai Sơn dịch)


Vụ Phật giáo năm 1963 khiến chính phủ Ngô Đình Diệm chịu nhiều áp lực cả ở trong lẫn ngoài nước. Hoa Kỳ dọa sẽ cắt viện trợ nếu ông Diệm không mở rộng chính quyền và trực tiếp đối thoại với các thành phần tranh đấu. Họ muốn ông hành xử như “một người lãnh đạo dân chủ” hơn là “một nhà độc tài”.

Theo lập luận của ông Diệm, ông không thể dàn xếp bằng cách nhượng bộ với Phật giáo và cả Hoa Kỳ. Ông nói với báo chí trong và ngoài nước: “Nếu bây giờ chúng tôi nhượng bộ với các Phật tử, Hoa Kỳ sẽ đòi hỏi thêm… Họ chỉ muốn đưa quân vào Việt Nam thay vì tăng cường cho quân đội của chúng tôi”.

Sáng ngày 11/6/1963 phóng viên Malcolm Browne thuộc Associated Press (AP) đã ghi lại hình ảnh hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối chính phủ Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo tại ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt. Bức hình khiến cả thế giới phải sửng sốt và triều đại họ Ngô bước vào một bước ngoặt lịch sử (2).

Ngay ngày hôm sau, nhân danh Phong trào Liên đới Phụ Nữ, bà Nhu lên tiếng cáo buộc các Phật tử đã bị lợi dụng và kiểm soát bởi Cộng sản… lái theo hướng tạo ra tình trạng vô trật tự để biến quốc gia theo chủ nghĩa trung lập. Chính bà tuyên bố những vụ tự thiêu chỉ là “những bữa tiệc nướng (barbecue) ngoài trời”. Tác giả Demery viết, “Chỉ với một câu nói đó, bà Nhu đã định đoạt số phận mình”.

Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu (Ành: Malcolm Browne)


Có một điểm chung giữa hai tác phẩm “Đệ Nhất Phu Nhân”“Bà Rồng” là đều khai thác khía cạnh tình ái của nhân vật Trần Lệ Xuân. Bút pháp của Hoàng Trọng Miên có phần cay độc hơn và cũng gợi tình hơn khi nói đến những cuộc tình của Lệ. Đó là điều dễ hiểu vì tác phẩm viết theo loại tiểu thuyết feuilleton, khai thác những chuyện “phòng the” để câu khách.

Người đọc biết chi tiết được hư cấu nhưng vẫn thấy thích trong giai đoạn sụp đổ của nền Đệ nhất Cộng hòa. Trong Chương 12 với tiêu đề “Những người tình võ biền” Hoàng Trọng Miên viết về tướng Nguyễn Văn Hinh, Tham mưu trưởng chỉ huy Quân đội Quốc gia lúc ông Diệm mới về nước chấp chính với chức vụ Thủ tướng:

“Lệ nhận thức, chỉ có lực lượng quân sự mới có thể lật đổ được uy quyền của họ nhà chồng hiện nay, và đã tính trước, giao du thân mật với tướng Nguyễn Văn Hinh đang làm tham mưu trưởng chỉ huy quân đội quốc gia, có thể trở nên một kẻ đối thủ lợi hại do ảnh hưởng của Pháp. Các vị tá hiện có binh sĩ trong tay bảo vệ cho Sài Gòn, Lệ cũng đã gây cảm tình riêng lôi cuốn họ ủng hộ anh chồng nàng”.

Lệ đã dùng ảnh hưởng riêng của mình để lôi kéo tướng Nguyễn Văn Hinh. Có lần nàng thỏ thẻ đề nghị tướng Hinh giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng trong chính phủ của anh chồng, song không lay chuyển được người quân nhân bướng bĩnh, vẫn tỏ thái độ chống đối họ Ngô.

Bà Trần Lệ Xuân và ông Ngô Đình Nhu


Cũng viết về tướng Hinh, giọng văn của Demery có phần dè dặt hơn khi đề cập đến ông tướng Hinh chỉ qua một chữ tắt: H. “Thậm chí dường như bà đã nếm mùi vị tình yêu ít nhiều qua vài cuộc ngoại tình. Trong nhật ký bà viết về ba người đàn ông chỉ bằng tên viết tắt của họ: L, K và H… Nhưng H. có vẻ là gần gũi nhất, với những gì bà mô tả như là động lực và cách ve vãn khác thường…”

L. chính là Đại tá Edward Landsdale, phục vụ ngành Tình báo trong Quân đội Hoa Kỳ, ông được gởi sang Việt Nam năm 1954 sau khi thành công trong các chiến dịch chống nổi loạn tại nước ngoài. Có người còn suy luận, Landsdale chính là nhân vật Pyle trong tiểu thuyết “The Quiet American” (Người Mỹ trầm lặng) của nhà văn Anh, Graham Greene. Nếu đúng như vậy thì mối tình giữa Lệ và Landsdale chính là chuyện tình giữa Pyle và cô gái Việt mang tên Phượng!

Hoàng Trọng Miên cho rằng, trong số tướng tá bị Lệ lôi cuốn, Đại tá Landsdale cũng như các người tình võ biền của Lệ, “đều tự lấy làm hãnh diện được Đệ nhất Phu nhân để ý đến và thoả mãn xác thịt đòi hỏi vô cùng của người đàn bà hoả diệm sơn”.

Trả lời phỏng vấn của BBC, dịch giả Mai Sơn bày tỏ cảm nhận của ông về "Bà Rồng" khi chuyển ngữ tác phẩm “Finding the Dragon Lady: The Mystery of Vietnam's Madame Nhu” của Demery:

“Đấy là một nhân vật bản lĩnh, có học thức, tư chất làm chính trị, quyết đoán và sắt thép. Bà là người phát động phong trào nữ quyền thời chế độ miền Nam, bảo vệ giá trị hôn nhân - gia đình, cũng như không tàn bạo đến độ đàn áp Phật giáo như có một thời gian người ta tuyên truyền”.

“Đệ Nhất Phu Nhân” hay “Bà Rồng”?


Chúng ta đã nhìn chân dung bà Nhu theo những phác họa của hai nhà văn Hoàng Trọng Miên và Monique Brinson Denery. Phần cuối bài này sẽ đưa ra một cái nhìn thứ ba từ phía luật sư Trương Phú Thứ. Trong cuộc phỏng vấn của BBC, ông Thứ từ Seattle, Hoa Kỳ, cho biết:

“Gia đình tôi biết gia đình của bà Nhu từ khi tôi còn bé, ở Việt Nam. Hồi ông bà ở Dinh Độc Lập thì tôi mới mười mấy tuổi đầu, nhưng bà vẫn còn nhớ. Tôi rời Việt Nam năm 1975. Sau này ra ngoại quốc tôi liên lạc lại, bà ấy mời tôi qua chơi. Tôi cũng may mắn được bà Nhu quý mến và cho phép dịch cuốn sách của bà”.

Cuốn hồi ký của bà Nhu viết bằng tiếng Pháp mà luật sư Thứ được bà ủy thác cho đến nay vẫn chưa thấy xuất hiện sau khi bà qua đời năm 2011 tại Ý. Vị luật sư này rõ ràng là không thích cuốn sách của Demery, ông chỉ trích:

“Tôi có xem qua quyển sách này, không có gì gọi là tư liệu hay lịch sử. Từ đầu đến cuối chỉ là những sao chép vụng về chẳng có một giá trị nào dù rất nhỏ nhoi. Vào Google đánh chữ Bà Ngô Đình Nhu thì có đến gần 4 triệu tài liệu và bài viết nói về bà Nhu được đăng tải rải rác trên nhiều mạng lưới vi tính từ nhiều quan điểm khác nhau đã được bà Demery vơ vét làm của riêng mình rồi nặn óc sáng chế ra một cái tựa sách nghe ra cũng độc mồm độc miệng…”

Theo luật sự Thứ, tác giả Demery sẽ biện minh như thế nào khi gán ghép cho “Bà Rồng” một giai thoại như sau: “Khi ông anh rể, Tổng thống Ngô Đình Diệm, tỏ vẻ không được hài lòng vì cái áo dài hở cổ của bà Nhu. Nhưng bà em dâu đã xấc xược trả lời ông anh chồng: “Cái cổ tôi hở ra chứ không phải cổ của ông. Vậy thì ông câm mồm đi”!

Luật sư Thức bình luận, “đọc những dòng chữ bặm trợn này thì ai cũng có thể lượng giá được khả năng viết lách của tác giả và giá trị của quyển sách”. Về bản dịch, ông nhận xét: “Gần đây có một quyển sách viết về bà Nhu của bà Demery được dịch sang tiếng Việt Nam với một loại chữ nghĩa văn thể rất kệch cỡm: “Madam Nhu Trần Lệ Xuân - Quyền lực Bà Rồng”.

Trong cuốn sách, bà Demery xác nhận có hẹn gặp bà Nhu hai lần nhưng cả hai lần bà Nhu đều thất hẹn. Mặc dù bà Nhu sống đời ẩn dật tự giam hãm mình trong một căn phòng nhỏ nhưng bà Nhu cũng có những chọn lựa và suy tính trong các giao tiếp rất hiếm hoi.

Bà Demery hẹn gặp bà Nhu ở nhà thờ Saint Leon là nơi bà Nhu đi lễ hàng ngày. Thế nhưng đến ngày giờ hẹn thì bà Nhu lại không đến. Lần sau thì bà Nhu hẹn gặp tại nhà, bà Demery đến đúng hẹn nhưng bà Nhu lại không mở cửa. Bà Nhu cũng chẳng mặn mà gì với những gặp gỡ này và cố tình hủy bỏ cuộc hẹn. Luật sư Trương Phú Thứ kết luận: 


“Vậy thì ngoài những sao chép trên các mạng lưới vi tính và chưa một lần được gặp bà Nhu thì bà Demery lấy gì và biết gì để viết về cả một cuộc đời cay đắng nghiệt ngã của bà Nhu?”.
Bà Nhu và con gái, Ngô Đình Lệ Thủy


***
Vài dòng tiểu sử của Đệ nhất Phu nhân Trần Lệ Xuân:

· Sinh ngày 22/08/1924 tại Hà Nội

· Cha bà là luật sư Trần Văn Chương (1898 – 1986) từng giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao thời kỳ Đế quốc Việt Nam, rồi bộ trưởng Bộ Kinh tế của Việt Nam Cộng Hòa thời Đệ nhất trước khi được bổ nhiệm là đại sứ tại Mỹ.

· Mẹ của bà tên Thân Thị Nam Trân (1910-1986) - con gái Thượng thư Bộ Binh Thân Trọng Huề.

· Tốt nghiệp tú tài trường Albert Sarraut, Hà Nội

· Kết hôn với ông Ngô Đình Nhu năm 1943

· Sống lưu vong từ năm 1963 sau khi có đảo chính ở miền Nam Việt Nam

· Qua đời ngày 24/04/2011 tại Rome, Ý, hưởng thọ 87 tuổi.

· Các con:

1. Ngô Đình Lệ Thủy, đã tử nạn trong một tai nạn ô tô vào tháng 4/1967 ở Longjumeau, Pháp

2. Ngô Đình Trác, tốt nghiệp kỹ sư canh nông, có vợ người Ý, có 4 con

3. Ngô Đình Quỳnh, tốt nghiệp ESSEC (Trường Kinh tế và Thương mại Pháp), hiện làm cho một công ty Mỹ tại Bruxelles, Bỉ.

4. Ngô Đình Lệ Quyên, tiến sĩ Luật Đại học Roma, có chồng người Ý, con trai 7 tuổi (2007) mang họ mẹ trên giấy tờ là Ngô Đình Sơn. Mất vì tai nạn giao thông tại Roma ngày 16/4/2012.

***

Chú thích:

(1) Tham khảo thêm: “Bàn về… “Nghề Cai Trị” (3) tại http://chinhhoiuc.blogspot.com/2014/06/ban-ve-nghe-cai-tri-3.html

(2) Tham khảo thêm: “Malcolm Browne & bộ ảnh Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu”
http://chinhhoiuc.blogspot.com/2013/11/malcolm-browne-bo-anh-hoa-thuong-thich.html

***
--> Read more..

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2016

10 sự kiện đáng nhớ trong năm 2016

* 10 sự kiện chính trị, kinh tế và xã hội dưới đây được chia đều cho Việt Nam và phần còn lại của thế giới. Có thể người đọc không đồng ý với sự lựa chọn vì đây là ý kiến hoàn toàn mang tính cách cá nhân. Bài viết sẽ giúp người đọc nhìn lại một số biến cố nổi bật trong năm 2016.

***

1. Cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ ngày 8/11/2016 khiến giới truyền thông thế giới tốn nhiều giấy mực nhất, mang lại kết quả bất ngờ nhất, đồng thời cũng khác thường nhất, khốc liệt nhất và gây chia rẽ nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Nước Mỹ đã có vị Tổng thống nhiều cá tính nhất: Donald Trump, thuộc đảng Cộng hòa, thắng bà Hillary Clinton, đảng Dân chủ (1).

Cuộc bầu cử cũng cho thấy nước Mỹ đã trải qua một giai đoạn lịch sử bị phân hóa nhiều nhất trong việc lựa chọn người đứng đầu ngành hành pháp. Ngay cả trong nội bộ  Cử Tri Đoàn đã có 7 người trong số họ đã bỏ phiếu trắng, không ủng hộ ông Trump lẫn bà Clinton. Điều này cho thấy, những năm tháng đầu tiên của ông Trump ở Tòa Bạch Ốc bắt đầu từ ngày 20/01/2017, sẽ vô cùng khó khăn: ông phải chứng tỏ là những lá phiếu bầu đó là sai lầm.

Dù sao đi nữa, kết quả thăm dò cho thấy sự hậu thuẫn ông Trump cũng được gia tăng khá nhiều qua kế hoạch kinh tế và sự hăng hái nhiệt tình của ông trong chức vụ mới, so với trước đây. Ông đã được 41% cử tri Hoa Kỳ thấy được sự tích cực hơn, so với con số 29% vào giữa tháng 10.

Donald Trump Vs Hillary Clinton


2. Danh hiệu Tổng thống “côn đồ” và “mạnh miệng” nhất thế giới trong năm không ai khác hơn là ông Rodrigo Duterte được người dân Phi Luật Tân bầu ngày 9/5/2016 và chính thức nhậm chức ngày 30/06/2016. Ông là người đã từng thóa mạ Đức Giáo Hoàng Francis, Tổng thống Obama, Ngoại trưởng Mỹ Kerry và dọa đốt cả trụ sở Liên Hiệp quốc. Báo chí gọi ông là "Donald Trump của Phi Luật Tân" vì tính khí thất thường và những phát ngôn gây sốc.

Trong suốt 7 nhiệm kỳ làm Thị trưởng thành phố Davao, kéo dài hơn 22 năm, ông Duterte đã thành công trong chính sách chống tội phạm và được báo Time đặt biệt danh “Kẻ Trừng Phạt” (The Punisher). Nạn nhân của Duterte đã lên đến con số 5.000 người và chính bản thân ông cũng thừa nhận đã từng giết người trong quá khứ để “làm gương”.

Tương lai trong địa vị Tổng thống của ông Duterte vẫn còn nằm ở phía trước. Người ta hy vọng ông sẽ “chững chạc” hơn trong phát ngôn và hành động để có thể tiếp tục điều hành đất nước, nếu không sẽ bị lật đổ bằng một cuộc đảo chính. Đây là điều rất thường xảy ra trong quá khứ tại Phi Luật Tân.

Tổng thống Phi Luật Tân Rodrigo Duterte


3. Nữ Tổng thống “nửa đường gãy gánh”: Park Geun-hye, nhậm chức Tổng thống Đại Hàn Dân Quốc ngày 25/2/2013. Bà là con gái lớn của cố Tổng thống Hàn Quốc Park Chung Hee, người đã dẫn dắt Hàn Quốc tạo ra "Điều kỳ diệu trên sông Hàn", một thời đại phát triển thần tốc, biến Quốc gia này thành một trong những “con hổ” về kinh tế. Nhưng đồng thời, ông Park cũng bị chỉ trích như một nhà độc tài, xâm phạm quyền tự do-dân chủ trong việc điều hành đất nước.

Không ai biết rõ mối quan hệ thật sự giữa nữ Tổng thống độc thân 64 tuổi này với bà Choi Soon-sil, người phụ nữ theo mô tả trên báo chí Hàn Quốc là “giật dây bà Park” cho dù bà Choi không hề nắm một chức vụ công nào. Nhưng có một điểm chung giữa 2 người phụ nữ đang giữa cơn bão chính trị: họ đều hội đủ yếu tố của những nhân vật tiểu thuyết khiến người ta phải tò mò.

Ngày 9/12/2016 Quốc hội Hàn quốc đã thông qua việc truất phế bà Park và Tòa án Tối cao sẽ bắt đầu phê chuẩn việc truất phế. Một khi tòa xác nhận việc này là chính đáng, một cuộc bầu cử chọn Tổng thống mới sẽ được lên kế hoạch trong vòng hai tháng kể từ sau phán quyết của tòa. Sau khi bị luận tội, Tổng thống Park đã đọc tuyên bố với báo chí. “Tôi nghiêm chỉnh chấp nhận tiếng nói của Quốc hội và của nhân dân, và tôi thật lòng mong muốn cuộc khủng hoảng này sẽ kết thúc êm thắm”.

Tổng thống Đại Hàn Park Geun-hye

4. Quốc gia “tồi tệ” nhất trong năm: Venezuela. Chính thức trở thành một quốc gia độc lập vào năm 1821 dưới sự lãnh đạo của người anh hùng Simon Bolivar, trong những năm gần đây, Venezuela là một trong những nước dẫn đầu Mỹ Latinh trong phong trào cánh tả dưới sự lãnh đạo của cố tổng thống Hugo Chavez.

Đất nước Venezuela nổi tiếng khắp thế giới với thiên nhiên tươi đẹp, nguồn dầu mỏ dồi dào và những nữ hoàng sắc đẹp đoạt nhiều giải cao tại những kỳ thi quốc tế. Việc Venezuela đổi tiền mới đây đã dẫn đến biểu tình phản đối và cướp bóc khắp nơi trong bối cảnh nguồn cung tiền mặt đang nhanh chóng cạn kiệt.

Từng được coi là “hình mẫu lý tưởng” về phát triển kinh tế xã hội ở Mỹ Latin, khó ai có thể ngờ Venezuela lại “rơi xuống địa ngục” nhanh như vậy. Thất bại trong việc kiểm soát giá cả, thiếu ngoại tệ và giá dầu mỏ giảm sâu đã khiến Venezuela phải rất chật vật trong việc nhập khẩu những hàng hóa thiết yếu cho nhân dân.

Venezuela bên bờ vực thẳm


5. Giải Nobel văn chương năm 2016 là một quyết định bất ngờ nhất khi Viện Hàn Lâm Thụy Điển công bố sẽ trao tặng cho Bob Dylan, một ca sĩ-nhạc sĩ người Mỹ gốc Do Thái đã từng nổi tiếng trong phong trào chống chiến tranh Việt Nam.

Việc Bob Dylan đoạt giải Nobel văn chương đã gây bất ngờ cho giới chuyên môn cũng như người yêu văn chương trên toàn thế giới nhưng theo Viện Hàn Lâm Thụy Điển, Dylan xứng đáng nhận giải “vì đã tạo nên những biểu đạt đầy chất thơ trong truyền thống âm nhạc của Hoa Kỳ”. Người ta nhớ đến bài hát “Blowing in the wind” ra đời năm 1963 và đoạt giải Grammy.

Nhiều người cho rằng Bob Dylan chỉ nổi tiếng trong hoạt động văn nghệ nhưng trao cho ông giải Nobel văn chương là một điều phi lý. Trong các ca khúc của Bob Dylan thường có những lời hay đẹp, ý đẹp nhưng nếu vì thế mà trao giải văn chương thì đã đi quá xa. Về phần mình, những người của Viện Hàn Lâm hy vọng rằng quyết định này sẽ không bị nhiều chỉ trích vì… “mọi thứ cần phải có sự thay đổi”.

Gải Nobel Văn chương 2016: Bob Dylan

***

6. Sự kiện chính trị quan trọng nhất đối với 4,5 triệu đảng viên tại Việt Nam là Đại hội Đảng lần thứ 12, diễn ra từ ngày 20 đến 28/1/2016 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Mỹ Đình. Theo các chuyên gia phân tích quốc tế, việc chuẩn bị chậm trễ, lặng lẽ cho Đại hội cho thấy dường như nội bộ Đảng còn chưa đồng thuận trong một số vấn đề như tình hình tranh chấp Biển Đông, quan hệ với Trung Quốc và lựa chọn nhân sự cấp cao.

Cuộc đua vào chức Tổng bí thư “căng thẳng chưa từng thấy” giữa hai đối thủ chính là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và đương kim Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Hai ông này đại diện cho “hai thái cực khác nhau”, và “tính cách trái ngược nhau”. Cuối cùng, danh sách “Tứ Trụ” được thông qua: Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng; Chủ tịch nước Trần Đại Quang; Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân.

Trả lời phỏng vấn trên VTV, tân Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết: "Tôi cũng không ngờ mình lại được Đại hội tín nhiệm giới thiệu tôi, bầu tôi vào Ban chấp hành TƯ, được Ban chấp hành TƯ họp phiên thứ nhất bầu tôi làm Tổng bí thư. Gần như 100% tuyệt đối, đấy là tôi bất ngờ. Bất ngờ vì tuổi tôi đã cao, có lẽ trong các vị lãnh đạo tuổi tôi là cao nhất. Sức khỏe, trình độ cũng có hạn và tôi cũng đã xin nghỉ rồi nhưng trách nhiệm của Đảng giao thì chúng tôi với tư cách là đảng viên phải chấp hành”.

“Tứ trụ” Việt Nam


7. Sự cố có tầm ảnh hưởng lớn nhất về môi trường khiến miền Trung trở thành khu vực chịu nhiều nhân tai và thiên tai nhất nước trong năm bắt đầu từ một công ty nước ngoài đầu tư tại Vũng Áng có tên Công ty Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS), chi nhánh của Tập đoàn Nhựa Formosa, Đài Loan. FHS đầu tư vào dự án gang thép và cảng nước sâu Sơn Dương bắt đầu từ năm 2008 với tổng vốn đầu tư gần 10 tỷ USD (2).

Tháng 4/2016 xảy ra hiện tượng rất nhiều cá biển chết hàng loạt rồi trôi dạt vào bờ tại vùng biển Vũng Áng. Hiện tượng này sau đó lan ra vùng biển Quảng Bình, Quảng Trị, Huế. Có nơi mỗi ngày, ngư dân dọc bờ biển vớt được hàng tấn cá chết. Nhiều ý kiến cho rằng hiện tượng trên là do nguồn nước bị ô nhiễm bởi các nhà máy tại khu kinh tế Vũng Áng xả thải gây độc.

Ngoài “nhân tai” do Formosa gây nên, miền Trung mới đây còn là nạn nhân của nhiều đợt xả lũ của các đập thủy điện “bậc thang” khiến vùng đất này vốn đã nghèo còn chồng chất thêm tai ương dồn dập với hàng trăm người chết. Đúng là Miền Trung đất cầy lên sỏi đá!

Formosa Hà Tĩnh


8. Tính đến năm 2016, mỗi công dân Việt Nam phải gánh một khoản nợ gần 29 triệu đồng/đầu ngườ dựa trên tổng số “nợ công” được báo cáo lên đến 86 tỷ đô-la. Khoản nợ này bao gồm “nợ trong nước” và “nợ nước ngoài” thuộc 3 loại: “nợ ngắn hạn” (từ 1 năm trở xuống), “nợ trung hạn” (từ trên 1 năm đến 10 năm) và “nợ dài hạn” (trên 10 năm).

Trong số các khoản nợ, bình quân ngân sách Nhà nước trả nợ ODA (Hỗ trợ Phát triển Chính thức - Official Development Assistance), khoảng 1 tỷ USD/năm. ODA bao gồm viện trợ không hoàn lại là 25%, còn 75% là cho vay. Trong khi đang phải trả nợ ODA việc không còn được vay theo điều kiện ODA sẽ đem đến những thách thức không nhỏ cho Việt Nam.

Sự kiện “nợ công” trong năm 2016 là một nỗi ám ảnh “âm thầm” nhất nhưng cũng “bi quan” nhất đối với những người quan tâm đến tình hình kinh tế-tài chính của đất nước. Đến đời con và cháu của chúng ta sẽ vẫn còn mắc nợ và trả nợ bởi vì tục ngữ Việt Nam có câu “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”.   


Nợ công chồng chất


9. Chuyến viếng thăm Việt Nam ba ngày, bắt đầu từ 22/5/2016, của Tổng thống Hoa Kỳ Obama là một sự kiện ngoại giao được chú ý nhiều nhất trong quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ. Tổng thống Mỹ đã nhận được sự chào đón nồng nhiệt của người dân, ông Obama cũng đã thể hiện sự thân thiện, cởi mở, hòa đồng với con người, với văn hóa nước bản địa (3).

Tại Hà Nội, Obama chụp ảnh, bắt tay, cười nói với hàng nghìn người vây quanh quán bún chả bình dân ngày 23/5. Ngày hôm sau, tại Sài Gòn, ông đối thoại với doanh nhân trẻ, cũng như phát biểu trước 800 thành viên cộng đồng Sáng kiến Lãnh đạo Trẻ Đông Nam Á. Tổng thống Mỹ khéo léo dùng hình tượng những người có ảnh hưởng tới người Việt, từ Bà Trưng – Bà Triệu, Lý Thường Kiệt… đến nhà cách mạng Phan Chu Trinh, thiền sư Nhất Hạnh, các nhạc sĩ Văn Cao, Trịnh Công Sơn, nhà toán học Ngô Bảo Châu…


Tuyên bố của Hoa Kỳ về việc bãi bỏ cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam được Obama nhắc đến như một ngón đòn ngoại giao – quân sự đánh thẳng vào kẻ đang hung hãn ngoài Biển Đông. Một lần nữa, chuyện “nước lớn bắt nạt nước nhỏ” trúng một đòn “hiểm” và những người Việt Nam chân chính nhiệt liệt vỗ tay, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng!

Người Sài Gòn chào đón Obama


10. Fidel Alejandro Castro Ruz mất ngày 25/11/2016. Ông là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt của cuộc Cách mạng Cuba, Thủ tướng của Cuba từ tháng 2/1959 tới tháng 12/1976, và sau đó là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cuba cho tới khi ông từ chức tháng 2/2008. Ông là Bí thư thứ nhất của Đảng Cộng sản Cuba từ tháng 10/1965 tới tháng 4/2011, em trai ông, Raúl Castro, được kế nhiệm chức vụ này vào ngày 19/4/2011.

Fidel là người đã từng tuyên bố “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình !” trong cuộc mít tinh ngày 2/1/1966 chào mừng lần thứ 7 Cách mạng Cuba thành công. Về cuộc chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979 ông khẳng định “Nhân dân Cuba sẵn sàng đổ đến giọt máu cuối cùng để kề vai chiến đấu cạnh người anh em Việt Nam”.

Tuy nhiên, sự kiện Việt Nam dành một ngày “quốc tang” để tưởng nhớ Fidel không được sự đồng tình của một số người dân. Họ cho rằng “quốc tang” là lễ nghi chỉ dành cho những nhân vật thực sự cống hiến cho đất nước. Chính xác hơn, nên dành một ngày “đảng tang” cho Fidel vì mối quan hệ thắm thiết với đảng Cộng sản Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Mỹ vừa qua (4).

Fidel Castro (1926-2016)

***

Chú thích:

(1): Tham khảo thêm bài viết “Sorry America” http://chinhhoiuc.blogspot.com/2016/11/sorry-america.html

(2): Tham khảo thêm bài viết “Cá cần nước sạch, Dân cần minh bạch” http://chinhhoiuc.blogspot.com/2016/05/ca-can-nuoc-sach-dan-can-minh-bach.html

(3): Tham khảo thêm "Bài diễn văn ứng khẩu tuyệt vời" http://chinhhoiuc.blogspot.com/2016/05/bai-dien-van-ung-khau-tuyet-voi.html

(4): Tham khảo thêm bài viết “Sài Gòn xưa: Cuba nhìn từ âm nhạc” http://chinhhoiuc.blogspot.com/2016/12/sai-gon-xua-cuba-nhin-tu-am-nhac.html



***
--> Read more..

Popular posts