Thứ Hai, 11 tháng 6, 2018

Tôi… “nhảy dù”


* Đây là một truyện ngắn, viết theo lời kể của một sinh viên sĩ quan Không quân theo học Anh văn tại Trường Sinh ngữ Quân đội. Thời gian của câu chuyện: những tháng cuối cùng của VNCH, rất gần với ngày 30/4/1975… “định mệnh”.

***

Tôi hãnh diện khi mặc bộ quân phục của quân đội VNCH. Điều hãnh diện hơn nữa đó là bộ quân phục của binh chủng Không quân, trên ngực áo có may hai tấm bảng: bảng tên và mã số khóa học vì tôi là sinh viên sĩ quan chưa ra trường. Nhưng có lẽ niềm hãnh diện tột cùng là tôi đang trong giai đoạn học Anh văn tại Trường Sinh ngữ Quân đội để chuẩn bị lên đường đi Hoa Kỳ thụ huấn khóa đào tạo phi hành.

Tôi nghĩ, mình còn rất trẻ nên chọn binh nghiệp cho đời mình là một quyết định đúng đắn của một thanh niên trong hoàn cảnh đất nước đang lâm vào cảnh binh đao. Và đó cũng là con đường duy nhất, nếu không muốn sống một cuộc đời… “trốn lính”. 

Nếu không mặc quân phục trong thời chiến người ta sẽ tự tách mình ra bên lề xã hội. Tôi không muốn mình lúc nào cũng phải trốn chui, trốn nhủi khi thấy bóng cảnh sát xét hỏi giấy tờ.

Lời bài hát “Bức tâm thư” của Lam Phương & Hồ Đình Phương rất thịnh hành vào thời đó, lúc nào cũng như nhắc nhở: “Vài hàng gửi anh trìu mến. Vừa rồi làng có truyền tin. Nói rằng: Nước non đang mong. Đi quân dịch là thương nòi giống….”


Hình minh họa: 
Sinh viên Sĩ quan Không quân chuẩn bị lên đường du học Hoa Kỳ


Cuộc sống của khóa sinh Không quân đang học sinh ngữ tràn đầy những kỷ niệm, vui cũng như buồn. Chúng tôi ở trong trại lính thuộc khu vực Tân Sơn Nhất được gọi là “Trại Khóa Sinh” hay còn có một cái tên rất thân thương: “Tent City”.

Gọi như thế vì trại lính chỉ là những chiếc lều dã chiến của quân đội dùng làm nơi ăn ở và cứ thế, mỗi sáng chúng tôi xếp hàng, đi bộ sang trường Sinh ngữ để học Anh văn. Trường chỉ cách Tent City một hàng rào kẽm gai.

Người ta thường nói, tuổi trẻ luôn luôn sôi động… nhưng cũng có những lúc bỗng thấy lòng mình chùng xuống trong những ngày ở “Tent City”. Đó là những phút nhớ nhà, nhớ cuộc sống tự do của những ngày dân sự. Thế cho nên, thỉnh thoảng cũng có những khóa sinh “chịu chơi” nghĩ đến chuyện… “dù về nhà”.

Tôi cũng thuộc loại “chịu chơi” nên đã có những lần… “nhảy dù”. Chuyến “vượt rào đầu tiên” thành công mặc dù đến khi lọt vào thành phố bị quân cảnh (QC)… “hỏi giấy”. Cũng may, gặp mấy anh QC dễ dãi… nhìn tờ giấy duy nhất tôi có trong người và “thông cảm” cho đi.

Bạn biết không? Đó chỉ là “Phiếu mượn sách” của trường, trên đó có ghi họ tên, số quân của khóa sinh. Trên phiếu mượn sách in tên các cuốn sách ALC (American Language Course) mà tôi đang học.

Bộ sách ALC gồm 4 cuốn dành cho những người học “vỡ lòng”: từ 1100 đến 1400. Học hết sơ cấp, khóa sinh tiếp tục lên trung cấp cũng với 4 cuốn: 2100-2400. Sách không bán ờ ngoài, nhà trường chỉ cho mượn nên mới có đóng dấu ngày nhận và trả sách.

Anh QC có lẽ cũng chẳng hiểu gì nhưng có lẽ vì tôi “thật thà” trình giấy chứng minh mình đang học sinh ngữ nên khoát tay… cho đi! Thật hú hồn, tôi thoát nạn trong đường tơ kẽ tóc.

Ăn quen nên nhịn chẳng quen. Tôi “nhảy dù” lần thứ hai, lần này về tận Biên Hòa. Và lần này mới là “đại họa” vì trong người chẳng có một tấm giấy lận lưng. Lại gặp QC hỏi giấy, lục trong túi tôi tìm mãi mới thấy “Phiếu ăn” mà trên phiếu chỉ có tên, không có số quân đi kèm.

QC nói chỉ biết tên mà không có số quân nên phải về Quân vụ Thị trấn. Tạm giữ cho đến khi đơn vị có công văn xác nhận. Cứ tưởng chuyện “nhảy dù” đơn giản, giờ mới biết… đi đêm có ngày gặp ma.

Hình chỉ có tính cách minh họa

Quân vụ Thị trấn Biên Hòa có một khu, tạm gọi là “quân lao”. Đó nơi QC giam giữ các quân nhân không có giấy tờ chứng minh và chờ đơn vị xác nhận. Trong khu này cũng chia làm hai: khu binh sĩ và khu sĩ quan. Tôi là sinh viên sĩ quan nên được “tạm giam” ở khu sĩ quan.

Ở khu sĩ quan tương đối còn được “tự do” trong vòng rào kẽm gai. Bạn có thể ra câu lạc bộ ăn uống nhưng không được “vượt rào” để trở thành một quân nhân bình thường. Nằm tại đây tôi đã nghĩ ra cách “tự cứu mình” bằng cách viết thư nhờ nhân viên câu lạc bộ chuyển ra ngoài. Dĩ nhiên là phải tốn tiền nhờ vả.

Tôi viết 2 lá thư: một cho gia đình và một cho ông thầy dạy tại trường. Trong thư gửi về gia đình, tôi dặn kỹ là phải đem thư riêng đến tận tay Thiếu úy NCB, người đang phụ trách dạy lớp tôi tại trường Sinh ngữ. Đó cũng chỉ là việc làm “cầu âu”, không có gì bảo đảm ông thầy sẽ giúp mình vượt qua “đại nạn”.

Thật bất ngờ, thư đến tay ông thầy và chỉ vài hôm sau có giấy xác nhận tôi là khóa sinh của trường. Như một phép lạ: tôi được QC trả tự do và vội vàng về trường, trình diện ông thầy. Ông chỉ nói tôi “ba gai”… mà không hề giải thích những việc ông làm một cách chi tiết.

Đại khái chỉ biết cách của ông làm là chỉ "chạy chọt" trong vòng những bạn bè ở trường, hoàn toàn không dính dáng tới “hệ thống quân giai” của trường. Ông còn nói vui, “Chỉ tốn vài chầu nhậu”. Câu nói của ông làm tôi phải suy nghĩ.

Tháng đó sau khi lĩnh lương hơn 8.000 đồng, tôi bỏ riêng ra 200 đồng trong phong bì. Tôi gặp ông trong câu lạc bộ và nói: 

“Thiếu úy ơi, ơn này em không biết làm thế nào trả nổi… Bỗng dưng thầy lại tốn tiền vì em nên em chỉ xin bù đắp lại phần đó…”

Mặt ông thầy nghiêm hẳn ra, ông gọi tôi bằng “mày”, xưng “tao”, thay vì “anh” như mọi khi. Ông “quạt” tôi một tràng như một loạt tiểu liên:

“Thế này là mày hối lộ cho tao đấy hả? Tao làm chỉ vì tao thấy hoàn cảnh của mày tội nghiệp. Vụ này nếu trường biết thì mày chắc chắn sẽ bị trả về đơn vị, rồi Không quân sẽ đưa mày về Bộ binh… hậu quả rất khó lường. Tao đếm từ 1 đến 3… mày phải cất cái phong bì đi. Tiền nằm trong đó không đủ để mua cái tình người đâu!”

Cho đến giờ, đã gần 50 năm mà tôi vẫn nhớ như in những lời của Thiếu úy TCB. Tôi đã tìm cách liên lạc với các giảng viên trường Sinh ngữ Quân đội để biết tin tức của ông giờ này ra sao. Cho đến giờ này cũng chẳng ai biết ông ở nơi nào. Hy vọng mong manh ông đọc được những dòng chữ này để thấy được lòng biết ơn của tôi. 

Cho đến ngày 30/4/75, tôi vẫn chưa ra trường để trở thành một sĩ quan thực thụ, tôi cũng chưa đi Mỹ học lái máy bay… nhưng tôi đã có được một bài học để đời.

Phải chăng đó là bài học "huynh đệ chi binh" mà ngày xưa người ta thường nói.

Hình chỉ có tính cách minh họa

***

--> Read more..

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2018

Lê Phổ: Họa sĩ vẽ ra tiền


Đầu năm 2017 tôi có viết một bài lấy tựa đề “Họa sĩ… vẽ ra tiền?” (*). Đó là câu chuyện của các danh họa lừng danh thế giới như Pablo Picasso (1881-1973),  Paul Cézanne (1839 -1906), Paul Gauguin (1848-1903), Vincent van Gogh (1853 -1890) và Willem de Kooning (1904- 1997).

Họ là những người lúc đương thời sáng tác trong cơ hàn, thiếu thốn. Cho đến khi qua đời, những tác phẩm của họ được giới sưu tập tranh săn lùng và “nâng giá” qua các phiên đấu giá (chứ không phải “đấu phí” theo ngôn ngữ thời nay!) .

Điển hình là Picasso đã chiếm 3 vị trí trong danh sách “20 tác phẩm hội họa đắt giá nhất thế giới”. Đó là những vị trí thứ 7 (179,4 triệu đô la), thứ 9 (155 triệu đô la) và thứ 18 (106,5 triệu đô la).

Trong bài viết này, chúng ta làm quen với một họa sĩ người Việt cũng đã… “vẽ ra tiền”. “Làm quen” bởi vì đa số người Việt chúng ta thường không biết và cũng có thể chưa nghe nói đến họa sĩ Lê Phổ và các phiên đấu giá tranh tại nước ngoài. Một lý do dễ hiểu vì phần đông chúng ta không quan tâm đến hội họa.

Hơn nữa, họa sĩ Lê Phổ tuy sinh ra tại Hà Đông, Hà Nội, năm 1907 nhưng đến năm 1937 ông sang Pháp định cư và từ đó cho đến khi qua đời năm 2001 ông chưa lần nào trở lại Việt Nam. Ông đã chọn nước Pháp vốn là “trung tâm nghệ thuật của Âu châu” nên chuyện gì cũng có thể xảy ra.

Họa sĩ Lê Phổ xuất thân từ một gia đình quan lại triều Nguyễn, cha ông là Lê Hoan, người được sử sách xem là “có công” giúp chính quyền bảo hộ Pháp đàn áp nghĩa quân Đề Thám. Tuổi thơ của họa sĩ Lê Phổ cũng không hạnh phúc, mồ côi mẹ lúc 3 tuổi và mồ côi cha lúc 8 tuổi.

Họa sĩ Lê Phổ (1907-2001)

Năm 1925, họa sĩ Lê Phổ trúng tuyển khoá 1 trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (Hà Nội). Ông là một trong 10 sinh viên Việt Nam được giáo sư Victor Tardieu xếp vào nhóm sinh viên "tinh hoa" của khóa học. Ông cũng là người hướng Lê Phổ đi theo trường phái nghệ thuật Á Đông trong suốt 5 năm học.

Giáo sư Victor Tardieu (1870-1937) là một họa sĩ người Pháp có kiến thức sâu sắc về các trường phái nghệ thuật châu Âu. Năm 1924, ông cùng họa sĩ người Việt, tên Nam Sơn, thành lập trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, tiền thân của Đại học Mỹ thuật Hà Nội ngày nay.

Giáo sư Victor Tardieu và những sinh viên “tinh hoa” của khóa 1, trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (họa sĩ Lê Phổ ở bìa trái)

Tại Pháp, năm 1947 họa sĩ Lê Phổ cưới vợ người bản xứ là bà Paulette Vaux, phóng viên báo Life & Time ở Paris. Bà Vaux nói về người chồng quá cố: "Ông không kể với con cái về tuổi thơ của mình, ông trầm lặng và sống nội tâm. Ông không nhớ gì về cha mình ngoại trừ việc biết cha mình hút thuốc phiện".

Cũng theo lời bà Paulette Vaux: "Ông Lê Phổ xem giáo sư Tardieu như người cha tinh thần. Ông ngưỡng mộ và rất gần gũi với Tardieu. Giáo sư Tardieu đã đặt nền móng cho những thành công trong hội hoạ sau này của ông".

Bà Paulette Vaux và con gái

Năm 1928, Lê Phổ cùng với các họa sĩ Vũ Cao Đàm, Mai Trung Thứ tổ chức triển lãm tranh đầu tiên tại Hà Nội. Năm 1931, ông sang Pháp để trang trí một số cuộc triển lãm ở Paris. Sau đó 1 năm, ông được cấp học bổng tại Trường Mỹ thuật Paris.

Năm 1933, họa sĩ trở về Hà Nội tham gia giảng dạy ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Năm 1935, ông được mời vào Huế để vẽ chân dung vua Bảo Đại và hoàng hậu Nam Phương. Ngoài ra, ông còn vẽ tranh khổ lớn để trang trí ở cung đình Huế.

Năm 1938, tại Paris, lần đầu tiên họa sĩ Lê Phổ tổ chức triển lãm phòng tranh cá nhân của mình với các tác phẩm như tranh vẽ các người đẹp Việt Nam hoặc đang say sưa bên các sắc hoa, hoặc đang mơ màng bên trang sách, hoặc tranh thiếu nữ đọc thư tình trong vườn, những cô gái đang phơi áo... Những tác phẩm đó được công chúng Phương Tây đón nhận nồng nhiệt.

Năm 1963, ông hợp tác cùng phòng tranh Wally Finday, Hoa Kỳ, tổ chức vài buổi triển lãm tranh. Phòng tranh cũng chính là nơi ông giới thiệu và công bố các tác phẩm của mình ra khắp thế giới. Kể từ năm đó, Gallery Wally Findlay đã trở thành nhà sưu tập gần như độc quyền về tranh Lê Phổ, họ có cả trăm bức.

Có thể nói, họa sĩ Lê Phổ là một con người sống nội tâm, rất nhạy cảm và cũng rất tinh tế. Cuộc đời của ông cũng có những giai đoạn thăng trầm nhưng vẫn kết thúc “có hậu”. Tác phẩm của ông đã được đấu giá nhiều lần trên thị trường hội họa thế giới, một hiện tượng mà ít họa sĩ Việt Nam có được.

Họa sĩ Lê Phổ bên tác phẩm

Họa sĩ Lê Phổ cho rằng các chất liệu trong tranh lụa có một số nhược điểm, không những về khuôn khổ mà còn về màu sắc đều chưa bộc lộ những ý tưởng tác giả muốn thể hiện. Đó là lý do ông đã chuyển sang vẽ tranh sơn dầu.

Ngoài việc thay đổi chất liệu vẽ, ông cũng mở rộng đề tài một cách phóng khoáng và thoải mái hơn. Ví dụ rõ nét đó là người phụ nữ trong tranh của họa sĩ dần vượt ra ngoài lễ giáo Khổng Mạnh để mang một sắc màu "thế tục".

Waldemar George, nhà phê bình nghệ thuật Pháp khi viết cuốn sách về Lê Phổ vào năm 1970, ông gọi hoạ sĩ Việt này là “Hoạ sĩ siêu phàm” (Divine Painter). Waldemar cho rằng phong cách hội họa của Lê Phổ được phân thành hai giai đoạn và cả hai giai đoạn đều có sự kết hợp của trường phái Đông Tây từ kinh nghiệm thực tế cũng như kiến thức họa sĩ học được.

Trong cuốn sách đã dẫn, Waldemar viết về họa sĩ Lê phổ: "Những con đường của châu Á và châu Âu giao thoa, nghệ thuật phương Đông và nghệ thuật phương Tây mở ra một cuộc đối thoại thân tình".

Bức "Thiếu phụ trong vườn" thuộc triển lãm Leslie Hindman, dạng tranh sơn dầu trên lụa, khổ 104,1 x 83,8 cm được định giá từ 30.000 đến 50.000 USD vào tháng 9/2007. Dạng tranh cỡ nhỏ (46,4 x 27,3 cm) cũng có giá khoảng 6.000 đến 8.000 USD. Tác phẩm "Cho chim ăn" đã được rao bán giá kỷ lục là gần 100.000 USD vào năm 1997.

Những Gallery nổi tiếng thế giới như Romanet (Paris), Florence Art (Ý), Simyo (Hàn Quốc), Art Forum, Ode To Art (Singapore), La Luna, Thavibu (Thái Lan)… đều có chú ý đặc biệt đến họa sĩ Lê Phổ. Nguồn tranh chủ yếu đều xuất phát từ Wally Findlay.

Lê Thái Sơn, chủ Thai Son Fine Arts Gallery & Collection, nhận xét: “Khi nhìn vào hệ thống chuyên nghiệp và trải rộng như thế này, chắc chúng ta cũng hình dung được tại sao tranh Lê Phổ thu hút được người mua ở khắp thế giới” .

Tác phẩm “Hoài cố hương” được nhà đấu giá Sotheby’s đưa ra năm 2006 tại Singapore, có giá bán khoảng 360.000 Đô La Singapore (tương đương 4,7 tỷ đồng)

Bức “Chân dung thiếu phụ và hoa sen” vẽ năm 1939, đạt mức giá 1.240.000 đô la Hồng Kông (gần 3,5 tỉ đồng)

Bức “Mẹ và con” nhà đấu giá Christie’s định giá khoảng 130.000 USD và đã từng đạt mức giá 1.160.000 đô la Hồng Kông (hơn 3,2 tỉ đồng)



Bức “Gia đình nhỏ” vẽ năm 1940. Tác phẩm từng đạt mức giá 740.000 đô la Hồng Kông (khoảng 2 tỉ đồng)

Bức “Những chú chim” được mua với giá 625.000 đô la Hồng Kông (hơn 1,7 tỷ đồng)
  
Bức “Đi tắm” được thực hiện năm 1937-1938, có giá 562.500 đô la Hồng Kông (gần 1,6 tỉ đồng)



Bức “Hai chị em gái” được thực hiện năm 1940 đạt mức giá 250.000 đô la Hồng Kông (hơn 700 triệu đồng)

“Bức màn tím”, vẽ từ 1942-1945 đã được bán đấu giá với mức giá 2,9 triệu đô la Hồng Kông

“Chân dung một cậu bé Việt Nam” từng đạt mức giá 225.000 đô la Hồng Kông (631 triệu đồng)

“Nhìn từ đỉnh đồi”, vẽ năm 1937 đạt mức giá 840.000 đô la - 22.11.2014 trong cuộc bán đấu giá tại nhà đấu giá nghệ thuật Christie’s International Hồng Kông.

“Hoa loa kèn” có giá 187.500 đô la Hồng Kông (526 triệu đồng)

“Nắng trong nhà”, có giá 225.000 HKD (614 triệu đồng)


"Tĩnh vật với hoa quả”, vẽ năm 1963, đã được bán thành công với giá 350.000 HKD (khoảng 955 triệu đồng)

“Nho và rượu vang”, vẽ năm 1950, được mua với giá 200.000 HKD (gần 546 triệu đồng)

***

Lúc sinh thời, họa sĩ Lê Phổ chưa từng vẽ những tờ tiền giấy nhưng tác phẩm của ông dẫn đến cả một kho bạc. Điều mâu thuẫn này khiến cho lằn ranh “nghệ thuật vị nghệ thuật”“nghệ thuật vị nhân sinh” trở nên mong manh hơn chúng ta thường nghĩ.

***
Chú thích:

(*): Tham khảo bài viết “Họa sĩ… vẽ ra tiền?” trên FB tại:

***

--> Read more..

Thứ Ba, 29 tháng 5, 2018

Từ kệ sách đến thư viện


Đây là bộ sưu tập những hình ảnh có liên quan đến sách.

Trước hết, hãy khời đầu từ kệ sách ngay trong nhà… với số lượng từ vài quyển đến vài chục, vài trăm quyển. Ngoài công dụng chứa sách, kệ sách cũng là nơi chủ nhân có thể tận dụng để trang trí căn phòng. Hình dạng kệ sách gia đình có thể linh động tùy theo khiếu thẩm mỹ của từng người và cũng là nơi lưu lại những vật kỷ niệm riêng tư.

Thư viện là nơi nhìn đâu cũng thấy sách. Tuy nhiên, về cách trưng bày sách thì mỗi thư viện lại có một cách riêng và dĩ nhiên phải mang tính cách khoa học giúp người đọc hoặc mượn sách cảm thấy dễ dàng hơn trong việc chọn sách. Nhân viên quản thư lúc nào cũng có mặt để điều hành công việc này. 

Mời các bạn tìm hiểu thêm về một hình thức thư viện ở quy mô nhỏ hơn được gọi là “thư viện ngoài trời”, "bookmobile"... mang tính cách phục vụ nhu cầu đọc sách của một cộng đồng tương đối nhỏ hơn.

Cũng phải nói đến tiệm sách là nơi bạn có thể tìm kiếm những cuốn sách mà mình ưa thích. Chúng ta sẽ thấy những tiệm sách ngày xưa, những quán sách vỉa hè hay những hiệu sách lớn. Cách trang trí thật đa dạng ngoài sức tưởng tượng của nhiều người.

Ở Phần 5, cho phép tôi được “khoe” kệ sách của riêng mình. Thật tình, tôi rất quý kệ sách và trên tất cả, là những cuốn sách mà minh đã mua, đã được tặng và những cuốn đã được “săn nhặt” từ nhiều nguồn.

Cuối cùng, để kết thúc album này là một số danh ngôn và những hình ảnh đặc biệt về sách. Qua đó chúng ta thấy được cái giá trị tinh thần của sách.

Mời các bạn vào “rừng sách” để thám hiểm một cái thú được đọc sách hay đơn giản hơn chỉ là… ngắm sách!

***

Phần 1: Kệ sách gia đình












































































































***

Phần 2: Thư viện





























Thư viện sách về Luật, Des Moines, Iowa, Hoa Kỳ


Thư viện sách tại Munich (Juristische Bibliothek München), Đức.


Thư viện tại Porto, Bồ Đào Nha


Thư viện trường Đại học Combria, Bồ Đào Nha


Thư viện trường Đại học Oxford, Anh quốc.

***

Phần 3: Thư viện ngoài trời



































***

Phần 4: Tiệm sách










































***

Phần 5: Kệ sách của tôi

Kệ sách nhỏ nhưng gói ghém được nhiều thứ ngoài sách!.


Kệ sách của tôi được đặt làm dựa theo kích thước căn phòng. 
Những cánh cửa màu trắng là những ngăn đựng đồ đạc linh tinh..
.

Đây cũng là nơi lưu lại những kỷ vật


Những vật “gia bảo” của mẹ tôi để lại: đầy đủ các món phục vụ việc ăn trầu!


Truyện Tàu từ thời bố mẹ để lại...


***

Phần 6: Hình ảnh liên quan đến sách









Hoa Kỳ

Pháp

Đức


***













--> Read more..

Popular posts