Thứ Năm, ngày 01 tháng 12 năm 2016

Sài Gòn xưa: Cuba nhìn từ âm nhạc

Cái chết của Fidel Castro tạo ra những phản ứng trái chiều trên cộng đồng mạng theo hai hướng: “Pro” và “Con”.

Những người thích ông tỏ ra thương tiếc một người bạn đã gắn bó với miền Bắc trong cuộc kháng chiến “chống Mỹ, cứu nước” vừa qua. Họ là những những quan chức nhà nước hiện nắm giữ địa vị quan trọng trong chính quyền, họ là sinh viên miền Bắc đã từng du học Cuba, và cả những thân nhân, họ hàng của họ. Đó cũng là lý do Việt Nam tổ chức quốc tang.

Người miền Nam có vẻ dửng dưng nếu không muốn nói là phản đối quốc tang vì cho rằng đó là tình cảm của hai Đảng anh em, nên gọi là “Đảng Tang” hơn là “Quốc Tang”. Bài viết này không bàn đến chuyện chính trị mà chỉ nói đến tầm ảnh hưởng âm nhạc của  Cuba đối với phần còn lại của đất nước.

Rõ ràng là trước 1975, bản thân Fidel Castro không tác động gì đến cuộc sống của người dân miền Nam nhưng vai trò âm nhạc của châu Mỹ La Tinh, cụ thể là Cuba, đã ảnh hưởng không ít đến sinh hoạt nghệ thuật giải trí tại miền Nam.

Tầm ảnh hưởng đó thể hiện qua những bài hát theo điệu nhạc Habanera, Rhumba, Bolero, Mambo, Cha Cha Cha thịnh hành tại Cuba, đất nước được coi là “cái nôi của dòng nhạc Mỹ La Tinh”.

Cuba, cũng như hầu hết các quốc gia ở Nam Mỹ (ngoại trừ Brazil), trước đây là thuộc địa của Tây Ban Nha. Cuba lại gần với Hoa Kỳ nơi xuất phát nhạc Jazz có nguồn gốc từ người da đen ở Phi châu được đưa đến Mỹ châu để làm nô lệ trong các đồn điền trồng mía tại Cuba và Haiti.

Đó là những lý do lịch sử - địa lý dẫn đến việc hình thành trường phái âm nhạc của châu Mỹ La Tinh. Trong số những điệu nhạc này, Mambo là thể loại chịu ảnh hưởng của châu Phi nhiều nhất. Về phương diện ngôn ngữ học, từ ngữ Mambo không xuất phát từ tiếng Tây Ban Nha mà gốc từ ngôn ngữ của bộ lạc Kikongo tại Trung Phi, có nghĩa là “đối thoại với thần linh”.

Đến thập niên 1930, Mambo được người Cuba dùng để gọi điệu nhạc cũng như điệu nhảy. Mambo trở nên phổ biến tại châu Mỹ La Tinh, lan đến Bắc Mỹ và cuối cùng, chinh phục cả thế giới. “Mambo Italino” (1) là bài hát theo điệu Mambo nổi tiếng thế giới vào năm 1954 và mau chóng thâm nhập âm nhạc niền Nam đến độ trẻ con chế lời: “Ế Măm-bô… đi vô đi ra là hết 5 trăm…”

Poster phim Mambo

Mặt khác, các nhạc sĩ người Việt cũng sáng tác nhiều ca khúc theo nhịp điệu vui nhộn của Mambo như các bản “Gạo trắng trăng thanh”, “Trăng rụng xuống cầu” của Hoàng Thi Thơ; “Nắng đẹp miền Nam” của Lam Phương hay “Tình thắm duyên quê” của Trúc Phương. Người Sài Gòn gọi đùa những ca khúc này là… “dân ca mắm bò hóc”.

Tiếp theo Mambo, một điệu nhạc khác là Cha Cha Cha ra đời tại Cuba do nhà soạn nhạc kiêm nhạc sĩ vĩ cầm người da đen Enrique Jorrin (1926-1987) sáng tạo. Vào năm 1953, Enrique Jorrin, khi ấy mới 25 tuổi và là thành viên của một ban nhạc, đã nghiên cứu một tiết điệu nhanh hơn Mambo, được gọi là Cha Cha Cha.

Đặc điểm của Cha Cha Cha là điệu nhạc có 4 nhịp nhanh (beat) và có thêm một nhịp lẻ (syncop). Chẳng mấy chốc, Cha Cha Cha chinh phục đất nước Cuba, bên cạnh đó, điệu nhảy Cha Cha Cha với tiết tấu sinh động đã xuất hiện tại thủ đô Havana và tiếp theo đó lan rộng ra khắp thế giới.

Một trong những bản nhạc theo thể điệu Cha Cha Cha nổi tiếng là “Que rico bacilon” (2) của nhà soạn nhạc gốc Cuba, Ruben Gonzalez (1919-2003), được ban nhạc Aragon của Cuba trình bày lần đầu tiên.

Khi đến Việt Nam, bản nhạc này đã được phổ biến một cách bình dân qua lời “chế” bằng tiếng Việt: “Cha Cha Cha, ma-ní lấy chồng chà-dzà…”. Người Sài Gòn chắc cũng còn nhớ quảng cáo kem đánh răng dùng điệu Cha Cha Cha trong dịp Tết ở chợ Bến Thành với điệp khúc “Cha Cha Cha Hynos…”

Một số nhạc sĩ miền Nam cũng “Việt hóa” những bài hát theo điệu Cha Cha Cha của các nước. “Pepito mi Corazon”, tiếng Tây-ban-nha có nghĩa là “Pepito, người yêu dấu của tôi” được nhạc sĩ Phạm Duy chuyển lời Việt thành “Người tình Nam Mỹ” (3).

Một bản nhạc Pháp theo điệu Cha Cha Cha một thời làm mưa làm gió vào năm 1950 là “Cerisier rose et pommier blanc” (4) được chuyển sang tiếng Anh là “Cherry Pink and Apple Blossom White”. Nhạc sĩ người Pháp gốc Tây Ban Nha, Louis Guglielmi (1916 – 1991), đã trở nên nổi tiếng với nhạc phẩm này.

Khi đến Việt Nam, cũng nhạc sĩ Pham Duy đã “Việt hóa” thành “Cánh bướm vườn xuân” và giới bình dân “chế” lời thành “Vườn xuân ong bướm ngất ngây, ngất ngây… tòn ten…”.

Nhạc sĩ Louis Guglielmi (1916-1991)

Riêng bản nhạc “Sài Gòn đẹp lắm” (5) của nhạc sĩ Y Vân được coi như “một trong những bài ca nổi tiếng nhất viết theo điệu Cha Cha Cha” về một đô thị được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông”. Mỗi khi nghe lại, người ta trở về với hoài niệm của một thành phố thân thương:

“Dừng chân trên bến khi chiều nắng chưa phai
Từ xa thấp thoáng muôn tà áo tung bay
Nếp sống vui tươi nối chân nhau đến nơi đây
Sài gòn đẹp lắm, Sài gòn ơi! Sài gòn ơi!”

Giới “ăn chơi, nhảy nhót” ở Sài Gòn và các đô thị phía Nam cũng đón nhận Mambo và Cha Cha Cha một cách nồng nhiệt bên cạnh những điệu nhảy có phong cách cổ điển như Valse, Slow, Tango…

Thường thì các vũ trường hoặc “ban fami” (một hình thức khiêu vũ được tổ chức trong vòng gia đình và bạn bè) được bắt đầu bằng điệu Paso Doble của Tây Ban Nha, có người còn gọi đó là điệu “đi chợ”. Kỳ thực đây là điệu nhảy dựa theo một trận đấu bò tót với tiết tấu rộn ràng có tác dụng hâm nóng một buổi khiêu vũ.

Một “tua” nhạc tại vũ trường được thay đổi để khách có sự lựa chọn điệu nhảy mà mình thích. Người lớn tuổi sẽ nhẩy Valse (còn gọi là điệu luân vũ); Slow thì chậm rãi, thậm chí còn có thể ôm nhau đứng yên nên được gọi là Slow “mùi”; Tango có xuất xứ từ Á Căn Đình thì đòi hỏi một chút nghệ thuật tinh tế của cặp nhảy…

Trước khi có Twist, Bebop theo kiểu Mỹ thì giới trẻ thích nhạc của châu Mỹ La Tinh với các tiết điệu như Samba của Brazil, Mambo hay Cha Cha Cha của Cuba.  Cha Cha Cha có những bước nhảy đặc biệt khi hai người không ôm nhau, nam bước tới thì nữ bước lui, kèm thêm các động tác uốn éo cả chân lẫn tay trông thật đẹp mắt.

Những điệu nhạc Nam Mỹ luôn có sức sống cuồng nhiệt, trong đó thể hiện phần nào lối sống của dân tộc Cuba. Đó là tầm ảnh hưởng của Cuba đối với người miền Nam trước 1975, còn chuyện Fidel Casto qua đời lại là mối quan tâm của người miền Bắc.

***

Chú thích:

(1) Xem “Mambo Italino” - Sophia Loren:

(2) Nghe “Que rico bacilon” – ban nhạc Orquesta Aragon de Cuba hòa tấu:

(3) "Người tình Nam Mỹ" - Ngọc Lan:

(4) Cánh bướm vườn xuân - Kiều Nga:

(5) "Sài Gòn đẹp lắm" - Phương Hồng Quế, Sơn Ca, Băng Châu: 


***
--> Read more..

Thứ Ba, ngày 29 tháng 11 năm 2016

Nhân một lời bình luận trên Facebook

Nguyễn Thanh Việt (*), tác giả cuốn tiểu thuyết đoạt giải thưởng Pulitzer năm 2016, “The Sympathizer”, đã có một bài viết trên báo “The Atlantic” với nhan đề “Kissinger: The View From Vietnam” (http://www.theatlantic.com/international/archive/2016/11/kissinger-vietnam-nguyen/507851/).

Bài viết của tác giả có thể tóm gọn qua tiêu đề phụ:

“One of the saddest ironies of my own history is that the United States might have achieved its goals in Southeast Asia without ever going to war”,

tạm dịch:

“Một trong những điều mỉa mai nhất trong lịch sử đời tôi là nước Mỹ lẽ ra đã có thể đạt được mục đích ở Đông Nam Á mà không cần tham chiến”!

Với quan điểm của một người Việt tỵ nạn đến Mỹ khi mới 5 tuổi, Nguyễn Thanh Việt nhắc lại chuyện tranh luận giữa Bernie Sanders và Hillary Clinton trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ vừa qua, trong đó có chuyện đề cập đến cựu Bộ trưởng ngoại giao Henry Kissenger.

Rõ ràng là bà Clinton ủng hộ Kissinger còn ông Sanders chống đối kịch liệt, trong số người chống đối đó có cả tác giả bài viết nói trên. Dưới thời Tổng thống Richard Nixon, Kissinger là cố vấn an ninh quốc gia, đồng thời là Bộ trưởng Ngoại giao, đã phạm phải sai lầm “có hệ thống”: thả bom Cambodia.

Từ năm 1969 đến 1973 nước Mỹ đã thả tổng cộng 540.000 tấn bom, gây thương vong cho từ 150.000 đến 500.000 người Cambodia. Mục đích của những trận oanh tạc này là để ngăn chặn bộ đội Bắc Việt xâm nhập Việt Nam.

Theo Sanders, đó là quyết định biến Kissinger thành một trong những “Bộ trưởng ngoại giao có sức hủy diệt nhất” trong lịch sử Hoa Kỳ. Ngược lại, Bà Clinton cho rằng Kissinger đã là người mở ra một cánh cửa mới trong ngoại giao với Trung Quốc.

Sau cuộc tranh luận Clinton-Sanders, Nguyễn Thanh Việt xác định, bà Clinton đã mất phiếu bầu của tác giả. Không phải chỉ vì Clinton đã ủng hộ Kissinger mà còn vì bà đã tuyên bố “Nước Mỹ vĩ đại vì nước Mỹ tốt đẹp” (America is great because America is good). Tác giả viết:

“Là một người tỵ nạn đến từ Việt Nam, một đất nước đã bị nước Mỹ thả bom, đặt mìn và rải chất độc màu da cam trong nhiều năm, tôi hoài nghi về sự tốt đẹp của nước Mỹ”.


Bài báo của Nguyễn Thanh Việt đã được post trên FB Viet Thanh Nguyen và tôi có một lời bình luận:

“Tôi thành thật đưa ra một ý thứ hai (second thought): người Mỹ đã phạm sai lầm tại Việt Nam trong quá khứ nhưng nếu không có những sai lầm đó, anh sẽ không bao giờ được hưởng sự tự do và đặc quyền tại nước Mỹ kể từ thời thơ ấu”

Nguyễn Thanh Việt trả lời:

“Tôi đã nghĩ về điều đó. Tôi xin trích dẫn những dòng tôi viết trong “The Sympathizer”: Tôi là “một trong những trường hợp kém may mắn, những người không thể nào không tự hỏi mình có cần sự từ thiện của người Mỹ chỉ vì tôi là những người đầu tiên được hưởng sự giúp đỡ của người Mỹ”. Nói ngắn gọn, có thể thụ hưởng sản phẩm của một mối liên lạc lừa phỉnh hay một hoàn cảnh khủng khiếp (thí dụ như khi ta là một đứa trẻ bị hãm hiếp) -- điều đó không thể bào chữa cho mối liên lạc hay hoàn cảnh”.

Trao đổi qua Facebook

***

Chú thích:

(*) Tham khảo thêm về tác giả Nguyễn Thanh Việt và tác phẩm “The Sympathizer” tại:

-- The Sympathizer (1): “Kẻ Nằm Vùng” hay “Cảm Tình Viên”? http://chinhhoiuc.blogspot.com/2016/05/the-sympathizer-1-ke-nam-vung-hay-cam.html

-- The Sympathizer (2): Những điều muốn nói

-- “The Sympathizer” (3): Những nỗi niềm riêng


***
--> Read more..

Thứ Năm, ngày 17 tháng 11 năm 2016

SUPERMOON

Lời nói đầu:

“Sau 1975 đã có rất nhiều “hiện tượng ngôn ngữ” kỳ lạ trong tiếng Việt. Người ta nói “siêu sạch”, “siêu sao” hay “siêu thịt”, “siêu nạc”… và gần đây nhất: “siêu trăng”, dịch từ “supermoon”. Đối với những người quan tâm đến ngôn ngữ, thuật ngữ “siêu trăng” có điều gì đó không ổn.

"Superman" dịch là "siêu nhân": rất chính xác. Ta không thể nào nói "siêu người" vì đó là một danh từ ghép bởi "siêu" (gốc tiếng Hán) và "người" (gốc tiếng Việt), nghe vừa ngô nghê, vừa chỏi tai. Vậy "Supermoon" cũng không thể nào dịch là "siêu trăng" như một số người đặt tên cho hiện tượng này!

***

“Supermoon” là hiện tượng trăng sáng nhất và to nhất. Cách đây gần 70 năm, chính xác là ngày 26/1/1948, mặt trăng nhìn từ trái đất rất tròn, rất to. Hiện tượng này được lập lại vào ngày Thứ Hai, 14/11/2016 vừa qua. Các nhà khoa học dự báo “supermoon” sẽ trở lại vào 18 năm sau, cụ thể là vào ngày 25/11/2034. 


“Supermoon” chụp trên một ngọn đồi tại Shadow Mountain Sports Complex, Sparks, Nevada, Hoa Kỳ ngày 14/11/2016.


Trăng xuất hiện trên bầu trời Toronto, Canada, ngày 14/11/2016


Trăng mọc tại Glastonbury, Anh Quốc (hình chụp ngày 13/11/2016)


“Supermoon” trên bầu tời Frankfurt, Đức, tối ngày 14/11/2016.
Hình chụp từ Ngân hàng Commerzbank


Trăng mọc sau điện Propylaia, trên đồi Acropolis, Hy Lạp, đêm 14/11/2016



“Supermoon” chiếu sáng 1 trong 7 bức tượng tại Quảng trường tại Nice, Pháp (ngày 14/11/2016)


Tại Kazakhstan, “supermoon”  xuất hiện bên phi thuyền Soyuz MS-03 nằm chờ được phóng lên không gian tại sân bay vũ trụ Baikonur (ảnh chụp ngày 14/11/2016)


Trăng trên ngọn tháp Galata Tower, Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ (ngày 14/11/2016)


“Supermoon” trên Hải cảng Victoria, Hồng Kông, đêm 14/11/2016


Hình chụp “supermoon” tại Bắc Kinh, Trung Quốc, đêm 14/11/2016


Đêm 14/11/2016, mặt trăng được chụp tại Ohinawa, Nhật Bản.  


Cuối cùng là trăng tại Việt Nam với cảnh Đại Nội ở Huế. Hình rất đẹp nhưng nếu quan sát kỹ ta thấy ngay vầng trăng trên Đại Nội đã không in bóng xuống nước. Hóa ra đây chỉ là tấm hình đã được lắp ghép qua kỹ thuật photoshop. Thật đáng tiếc!


***
--> Read more..

Thứ Sáu, ngày 11 tháng 11 năm 2016

“Sorry America”

Sau cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ, 2016, báo Chicago Tribune có bài bình luận về tân Tổng thống Trump với tiêu đề

“Donald Trump won. Let the uneducated have their day”
(Donald Trump thắng. Hãy để cho những kẻ vô học có ngày của họ)

Theo tôi, đây là một headline chỉ trích Trump rất mạnh mẽ, nói lên quan điểm của tờ báo. Trên mục Column, bình luận gia Garrison Keillor đã viết ngay từ đoạn mở đầu:

“… những kẻ thất học đã thắng và kẻ có vấn đề về tư cách và ít học sẽ làm Tổng thống… Chúng ta quá mệt mỏi khi nghĩ về cuộc bầu cử này, hàng triệu người đang làm những công việc cào cỏ, dọn dẹp nhà để xe đang có một niềm vui lớn. Những người trí thức cấp tiến chỉ là rác rưởi. Những người được gọi là Trumpers đang vui mừng, họ dương biểu ngữ, nhạo báng các phương tiện truyền thông, t
ấn công những người chống đối…”

(http://www.chicagotribune.com/news/opinion/commentary/ct-donald-trump-wins-uneducated-voters-20161109-story.html)


Người ta có cảm giác nước Mỹ đang bị chia rẽ trầm trọng. Đó không phải là cuộc cách mạng nếu so với Cuộc cách mạng Pháp năm 1789.

Ngày 11/9/2001 nước Mỹ bị tấn công khủng bố bởi người nước ngoài… Ngày 9/11/2016 nước Mỹ biết đâu lại tan rã vì người dân trong nước.


Tôi nghĩ, hai ngày này – 11/9 và 9/11 - có một sự trùng hợp kỳ lạ mà định mệnh đã an bài. Nếu quả là đã an bài, chúng ta chỉ còn biết nói:

“Sorry America!”.


***
--> Read more..

Thứ Tư, ngày 26 tháng 10 năm 2016

Những tác phẩm độc đáo trên lông chim

Tôi cảm thấy mình nhẹ như lông hồng khi ngắm nhìn những bức họa của Krystle Missildine. Người nữ họa sĩ này có một hướng đi độc đáo: cô vẽ những bức tranh nhỏ nhắn ngay trên những sợi lông vũ.

Về kỹ thuật, hướng sáng tác này đòi hỏi bàn tay khéo léo mà có lẽ chỉ phụ nữ mới được tạo hóa ban tặng. Sợi lông chim vốn dĩ đã mỏng manh mà còn vẽ hình trên đó là cả một nghệ thuật. Giá vẽ của Krystle Missildine chỉ đơn giản là một sợi lông vũ thế mà trên đó thể hiện những tác phẩm độc đáo qua những cây cọ bé tí.

Hãy tạm gọi đó là “nghệ thuật của sự tinh tế và sáng tạo”. 


Xem thêm video clip https://youtu.be/SWB2V5tFMCo để hiểu thêm về sự sáng tạo của Krystle Missildine khi vẽ trên lông chim.















***








--> Read more..

Thứ Hai, ngày 10 tháng 10 năm 2016

Chặng đường một phần tư thế kỷ

Báo “Vietnam Investment Review” (VIR) xuất bản số đầu tiên ngày 27/09/1991, tính đến năm 2016 đã tròn một phần tư thế kỷ. Nhân dịp kỷ niệm này, tập đoàn “VIR” và “Đầu Tư” xuất bản tập kỷ yếu dầy 444 trang, không kể rất nhiều trang quảng cáo.

Với tư cách một phóng viên và sau này là Trưởng Đại Diện văn phòng VIR đầu tiên tại Sài Gòn, từ năm 1991 đến 2004, tôi đã viết một bài với nhan đề “Chặng đường một phần tư thế kỷ” nhằm ôn lại những kỷ niệm của một thời làm báo với phía đối tác đến từ Úc châu.  





***

Chặng đường một phần tư thế kỷ

Nguyễn Ngọc Chính
Nguyên Trưởng Đại diện Báo Đầu tư & VIR
tại Thành Phố Hồ Chí Minh

***

“Con người, khi đã 25 tuổi, vẫn được coi là thanh niên, tràn trề sức sống. Tuổi 25 thật đẹp với nhiều hoài bão, hứa hẹn một tương lai của ước mơ trong suốt chặng đường đời trước mặt. Đối với một tờ báo, khi nói đã vượt qua chặng đường dài một phần tư thế kỷ, người ta lại không nghĩ đến 25 tuổi của cá nhân mà là những kinh nghiệm của cả một tập thể.

“Thế cho nên, giữa “25-tuổi” và “một-phần-tư-thế-kỷ” có một khoảng cách rất lớn. Tuy vẫn giữ nguyên giá trị thời gian nhưng lại khác biệt về ý nghĩa của hai cụm từ. Một tờ báo (đúng ra là một “tập đoàn báo chí” như trường hợp của Đầu Tư) phần tư thế kỷ là cả một lịch sử thăng trầm đối với bản thân những người làm báo và cả với người đọc báo.

“Ngày 12/06/1991 đánh dấu việc thành lập cơ quan “Báo Việt Nam Đầu tư Nước ngoài”, tiền thân của 2 tờ Đầu Tư và Vietnam Investment Review (VIR), bằng văn bản do Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư (SCCI) ký. Chỉ 4 ngày sau, một Hợp đồng Hợp tác Kinh doanh (BCC) được ký kết giữa SCCI và phía đối tác đến từ nước Úc.

“Ngày 27/09/1991 là cột mốc đáng nhớ với sự ra đời của cả hai tờ báo tiếng Việt (Đầu tư Nước ngoài) và tiếng Anh (Vietnam Investment Review – VIR). Đây là một bước ngoặt lớn trong lịch sử báo chí Việt Nam với sự hợp tác có yếu tố nước ngoài lần đầu tiên được thực hiện. Đó cũng là nét đặc thù mà những người làm báo tiếng Việt và tiếng Anh không khỏi tự hào với vai trò tiên phong trong hoạt động báo chí.

“Là người tham gia từ những ngày đầu cho đến năm 2004 về hưu, tôi đã trải qua không ít những kỷ niệm, buồn cũng như vui, trong suốt thời làm báo tại đây. Tôi đã sống và viết với Đầu Tư – VIR qua 5 thời kỳ Tổng Biên Tập. Khởi đầu là GS TSKH Nguyễn Mại, rồi TS Trần Xuân Giá, Nhà báo Nguyễn Trí Dũng, TS Nguyễn Phú Kỳ cho đến TS Nguyễn Anh Tuấn. Riêng với TS Tuấn tôi đã biết từ khi ông còn là Phó dưới thời TBT Dũng.

“Phía nước ngoài đáng nhớ nhất là Nick Mountstephen, Giám đốc VIR Ltd., người đã cùng GS Mại đặt bút ký BCC ngày 16/06/1991 để có được Đầu Tư – VIR cho đến ngày nay. Từ Úc đến Việt Nam với Nick còn có Alex McKinnon, một phóng viên trẻ mà chúng tôi gọi đùa là “baby face”. Alex sau này có trở lại Việt Nam và, đúng là định mệnh, anh đã qua đời tại Việt Nam.

“Phải thành thật nhìn nhận, Nick và Alex đã giúp những phóng viên viết tiếng Anh như tôi, Nguyễn Vạn Phú ở Sài Gòn và Lê Quốc Vinh, Nguyễn Minh Quân ở Hà Nội hiểu được thế nào là làm… “báo Tây”!    

“Chúng tôi được báo hỗ trợ bằng những phương tiện “hiện đại” nhất thời bấy giờ mà các đồng nhiệp ở báo khác phải “ganh tị”. Chúng tôi học cách sử dụng máy tính, truyền bài vở bằng modem qua điện thoại từ Sài Gòn ra Hà Nội, dùng điện thoại di động to như cục gạch (mà ngày nay các bạn trẻ gọi là… “cùi bắp”). Đó là những năm đầu của thập niên 90 khi guồng máy “Đổi Mới” bắt đầu hoạt động mạnh.

“Đến giữa năm 1993, ngoài 2 tờ báo chính Đầu Tư và VIR, phụ trương Timeout ra mắt bạn đọc. Bên cạnh đó là những buổi giao lưu “Friday Review” được VIR đứng ra tổ chức hàng tháng, tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước có dịp gặp gỡ, vui chơi vào ngày Thứ Sáu mỗi tháng. Đó là cách làm sáng tạo để tờ báo không chỉ giao lưu trên giấy mà còn trong giao tế đời thường.

“Phía nước ngoài trong hợp đồng cũng có nhiều thay đổi. Nick Mountstephen chuyển VIR Ltd sang cho Chris Dawes, rồi một lần nữa, Chris chuyển cho ACP (Australian Consolidated Press), một tập đoàn báo chí lớn nhất nước Úc. Đến tháng 5/1998 kết thúc giai đoạn hợp tác với nước ngoài và Cơ quan Báo Đầu Tư đảm nhận toàn bộ quy trình sản xuất và kinh doanh.

“Với sự nhạy bén trước việc ra đời của thị trường chứng khoán năm 1999, Đầu Tư xuất bản tuần báo Đầu tư Chứng khoán và đây là một quyết định đúng đắn, phù hợp với diễn biến của thị trường báo chí lúc đó. Sự xuất hiện kịp thời của Đầu tư Chứng khoán đã đáp ứng nhu cầu của những độc giả quan tâm đến hoạt động tài chính mới mẻ này.

“Có thể nói, trong thập niên 90, nền kinh tế đất nước có hai sự kiện lớn là đầu tư nước ngoài và thị trường chứng khoán, tập đoàn báo chí Đầu Tư đã kịp thời nắm bắt cả hai để trở thành những tờ báo kinh tế hàng đầu của Việt Nam. Đó là những điểm son mà bất cứ ai có liên quan đến tờ báo phải hãnh diện và tự hào.

“Song song với việc phát triển một mạng lưới báo viết bao quát nhiều chủ đề về kinh tế, Đầu Tư đã mạnh dạn bước vào lãnh vực kỹ thuật số với những đĩa CD lưu lại các bài viết trên VIR từ số đầu tiên. Với VIR Database xuất bản năm 2002 các nhà đầu tư nước ngoài có hẳn một kho tư liệu qua những bài viết bằng tiếng Anh mà chỉ cần một động tác click chuột đơn giản.

“Cuộc chiến âm thầm giữa “báo giấy” và “báo mạng” ngày càng khốc liệt theo cuộc sống hiện đại. Ý thức được điều đó, Đầu Tư cũng sớm tham gia Internet để thu hút độc giả cần theo dõi những ấn phẩm tiếng Anh và tiếng Việt trên mạng. Đó cũng là quy luật của thị trường nói chung và báo chí nói riêng.

“Nhìn lại quãng đường phát triển của Đầu Tư trong một phần tư thế kỷ vừa qua, còn rất nhiều điều để tự hào của những người làm báo Đầu Tư nhưng cũng có không ít những điều băn khoăn, trăn trở của người ngồi trước bàn phím gõ bài.

Những nhân viên quảng cáo và phát hành cũng phải động não để tìm ra cách tối ưu, thu hút quảng cáo và người mua báo. Công việc chuyên môn của họ cũng là công sức đóng góp cho tờ báo vì trong cơ chế thị trường, một tờ báo có “sống” được hay không cũng phải nhờ đến quảng cáo và phát hành, ngoài nội dung tinh thần của tờ báo.

“Với tư cách của một người đi trước, tôi nhận ra một điều: Sự thật tuyệt đối là một món hàng rất hiếm và cũng rất nguy hiểm trong bối cảnh của nghề báo chuyên nghiệp. Đã gọi là chuyên nghiệp thì bắt buộc phải có những kỹ năng báo chí nhưng đó mới chỉ là điều kiện “cần”. Điều kiện “đủ” là cái Tâm của mỗi nhà báo chân chính.        

“Nhà văn người Nga, Aleksandr Solzhenitsyn, nhận xét:“Sự nóng vội và hời hợt là căn bệnh tinh thần của thế kỷ hai mươi, và không ở nơi nào căn bệnh này lại thể hiện nhiều hơn ở báo chí”.

“Chúng ta đang ở vào thế kỷ 21, câu nói này lại càng thấm thía hơn nữa khi báo chí ngày càng đa dạng và phức tạp.


***

VIR kỷ niệm năm đầu tiên thành lập tại Khách Sạn Nổi (Saigon Floating Hotel) năm 1992


"Bộ sậu" VIR tại Sài Gòn (1992)


Đường bay thẳng Singapore - Sài Gòn khánh thành năm 1991


Phỏng vấn Hershel Gober, Deputy Secretary of the US Department of Veteran Affairs (1994)


Cột mốc đáng nhớ: HK bãi bỏ lệnh cấm vận (1994)


Phỏng vấn nhà thầu Úc tại thời điểm đổ mẻ bê-tông cuối cùng trên cầu Mỹ Thuận bắc ngang sông Tiền (1999)

***

--> Read more..

Thứ Sáu, ngày 16 tháng 9 năm 2016

Cà Mau

Lời giới thiệu của NNC:

Tiếp tục cuộc hành trình khám phá Việt Nam… Mời các bạn cùng GS Bùi Dương Chi đi xuống miền “Cực Nam” của tổ quốc qua bài ký sự hình ảnh dưới đây. Có thể nói, nhiều người ở Việt Nam cả đời nhưng chưa từng được trải qua những chuyến “cross-country” như GS Chi, một người Mỹ gốc Việt.

***

Bùi Dương Chi
Thầy giáo tiếng Anh. THBMT 1963-1974

Tên gốc tiếng Khmer “Tưk Kha-Mau” nghĩa là “Nước đen” do bị thấm nhựa lá cây tràm rụng xuống.  [https://www.vi.wikipedia.org]

Từ hồi học lớp Nhất (lớp 5), Niên Khóa 1950-1951, tôi đã ao ước được đi từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau sau khi nghe câu ca  “…Non sông như gấm hoa uy linh một phương…” 
[Bài hát “Việt Nam Minh Châu Trời Đông”, Hùng Lân.] 

***

Chuyến đi tháng 4/1994

Biên, vẽ và in tại Xí nghiệp Bản đồ Đà Lạt,1995

Vì chiến tranh, gia cảnh và công việc, mãi đến lúc 55 tuổi, nhờ được phụ trách chương trình Học Kỳ Hải Ngoại/Việt Nam của School for International Training ở tiểu bang Vermont/Hoa Kỳ, tôi mới gặp hai bạn đồng hành góp tiền mướn xe 4 chỗ khứ hồi Saigon-Cà Mau, ghé đâu cũng được.

Một người tên Vỹ, 28 tuổi, nghiên cứu sinh ngành Luật, quốc tịch Úc, gốc miền Trung. Một tên Châu, 56 tuổi, TS Giáo Dục, quốc tịch Canada, quê Vĩnh Long, cùng khoá Đại Học Sư Phạm Saigon.

Thuở ấy, thấy “em Châu” nhỏ nhỏ dễ thương, tôi bèn sấn tới “làm quen” sau mấy màn “khen nịnh có hậu ý”. Ai dè “em” nhìn thấu “tim đen” Bắc Kỳ, và lại là cựu nữ sinh trường đầm Marie Curie nên “em” dằn mặt tôi: “Nè, đây là “Châu Ch”, không phải “Trâu Tr”. Nhớ chưa? Sans gêne” (Sans gêne = Không biết mắc cở; cà chớn).

Năm thứ hai, chúng tôi thành bạn học nhóm. Tốt nghiệp, bặt tin Châu. 31 năm sau tình cờ gặp lại ở Nhà khách Viện Pasteur khi “chị” - hơn tôi 1 tuổi - về nước giúp tài trợ mấy Hội Khuyến Học ở miền Nam và tư vấn cho mấy dự án thiện nguyện ở miền Bắc.  


Vĩnh Long: Sáng sớm bên bờ Tiền Giang. Niên Khoá 1961-1962. 
(Hình TtChâu)

Chuyến đi Cà Mau tháng 4 năm 1994. Chúng tôi ghé Vĩnh Long một ngày để Châu thăm mẹ. Ăn cơm tối ở Khách sạn Nhà hàng Cửu Long, tôi đã kể chuyện "linh cảm" ở đó khi nhận lời thông dịch cho một chuyên viên canh nông Mỹ dự phiên họp liên tỉnh Hè 1960. 

Chuyện “linh cảm” Hè 1960 như sau. Xuống trước một ngày, tôi tới mướn phòng. Quản lý nói có phòng đơn trên lầu rẻ, yên tĩnh, rất kín đáo. Thấy phòng sạch sẽ, tôi để lại hành lý rồi xuống nhà hàng kêu tô mì tôm. Khách chỉ có mình tôi. Trong khi ăn, tôi bắt gặp hầu bàn và quản lý thỉnh thoảng nhìn lén. Nghĩ bụng mình quần áo xuềnh xoàng nên khi trả tiền, để họ yên tâm, tôi đưa tờ 100Đ dù mì và xá xị chưa tới 10Đ. Tôi “boa” hầu bàn 2Đ.

Về phòng, lúc móc và xếp quần áo vào tủ, tôi linh cảm có người đứng phía sau. Quay ngoắt lại, không thấy gì. Rờn rợn, tôi bật đèn trần và đèn đầu giường rồi nằm nghỉ. Vừa chợp mắt, tôi lại linh cảm có người ở trong phòng. Nghĩ còn nắng đã vậy, đêm tối chắc không ổn. Tôi xuống bảo quản lý cho đổi phòng lấy cớ ngộp quá. Ổng nói để mang quạt bàn lên. Tôi không chịu vì sợ ... trúng gió.

Đổi phòng tầng trệt có cửa sổ, nghe rõ tiếng xe cộ và người qua lại, tôi ngủ tới tối mới ra ăn. Xong bữa, hầu bàn vừa dọn chén dĩa vừa kể tháng rồi, bà vợ một ông quận trưởng treo cổ chết trong phòng trển. 

Qua phà sang Cần Thơ mừng Xuân muộn. Chúng tôi ghé Sóc Trăng thăm các chùa Khmer Krom (Việt gốc Miên) rồi đi xem "tư dinh" Công Tử Bạc Liêu và nghỉ qua đêm ở thị xã. 


“Chị” Châu và tôi ở trung tâm thị xã Cà Mau. Nhiều xe đạp, ít xe gắn máy, không thấy xe hơi tư nhân ngoại trừ xe tải. Mấy ngã tư chúng tôi đi qua chỉ có bục cảnh sát chỉ đường thời Cộng Hòa. Loa phóng thanh rè rè suốt ngày.




Để tài xế ở lại trông xe, chúng tôi mướn vỏ lãi - ghe dài, khoang hẹp, gắn máy chạy nhanh - đi từ bến Gành Hào (Cà Mau) tới thị trấn Năm Căn mất chừng 4 tiếng (50Km). Hôm sau, chúng tôi mướn ca-nô ra Mũi Cà Mau. Chạy một hồi, tài công quẹo vô sông nhánh. Bỗng tôi nghe cái "ục". Tài công nói chắc đụng rễ đước. Chổng chân vịt lên xem, thấy còn nguyên. Chạy tiếp, ca-nô vừa lắc vừa giựt. Tấp vô trạm  xăng nhớt nhờ coi giùm mới biết "láp" [trục chân vịt] bị cong, phải mướn ghe kéo về Năm Căn sửa.

Xế chiều, tôi mướn được một ghe gắn động cơ xe tải cải biến. Hẹn 7 giờ sáng hôm sau điểm tâm xong sẽ đi. Tài công nói chỉ cần mang theo nước uống, 9 giờ hơn ra tới Mũi Cà Mau chụp hình, 1giờ về đây ăn trưa, 2 giờ cô chú và anh hai về thị xã là vừa.




Chạy tới gần 10 giờ, tài công nhớn nhác rồi ghe mắc cạn cồn ngầm. Tắt máy, nâng cao chân vịt, tài công chống mái chèo đẩy ghe. Ghe không chuyển. Nắng chói chang, bốn bề nước đục với vài cụm cỏ lác. Chịu trận một hồi, tài công và tôi cởi quần áo xuống nước đẩy ghe. Càng đẩy chân càng lún sâu nên ghe vẫn mắc cạn. Tôi an ủi Châu và Vỵ, xa xa có dẫy nhà chòi, trước sau dân chài sẽ thấy mình.




Tôi nói các cụ đã phán "Trong cái rủi có cái may". Nhờ mắc cạn, chúng mình mới có dịp chiêm ngưỡng đất phù sa đã tạo nên cái nôi văn minh lúa nước. Châu la làng, "Bắc Kỳ nói 'dddì' cũng được". Vỹ giúp chụp hình lưu niệm.  


Từ trái: Vỹ, bà chủ nhà, lối xóm, tôi, em trai và ông chủ nhà. Châu chụp hình


Gần trưa, nắng rát da mặt. Uống gần hết nước thì một ông đứng tuổi chèo xuồng tấp vô hỏi chuyện. Khi biết chúng tôi tính thăm Mũi Cà Mau, ổng nhìn tài công lắc đầu nói ghe bự quá, ba bốn giờ chiều nước ròng lên cao mới chạy ra được. Ổng bảo về nhà ổng đụt nắng, ngồi đây chịu sao thấu. Chúng tôi cảm ơn hết lời.

Xuồng chỉ chở được 3 người, Châu và tôi di trước. Con trai ổng sẽ rước Vỹ và mang cơm nước cho tài công ở lại giữ ghe, chừng nào chạy được thì vô xóm chài đón chúng tôi. Về tới nhà, ổng bảo con gái còn nhiêu gạo nấu hết, còn nhiêu khô sặt nướng hết, còn nhiêu rau luộc hết. Trong khi chờ cơm, ổng khuyên chúng tôi về Năm Căn vì tài công lạc đường.

Ông nói, qua trạm Ngọc Hiển theo hướng Nam là ra Đất Mũi, theo hướng Tây tới đây là Cửa Ông Trang, đi tiếp là  sang Căm Bốt, Thái Lan. Khi biết chúng tôi ở nước ngoài về, ổng bảo vợ kêu bà con lối xóm tới hỏi chuyện bển. Châu ở Canada, Vỹ ở Úc, tôi ở Mỹ. Bà con thay nhau hỏi vì thân nhân không vượt biên cũng là "thuyền nhân".

Chẳng bao lâu, trẻ nhỏ giành nhau báo tin ghe tới. Sợ chủ nhà không nhận tiền, Châu bảo tôi lén gài 50 Đô vào mấy cái mùng xếp trên kệ. Chia tay, chắc không còn gặp lại, chúng tôi chúc từng người sớm được đoàn tụ với thân nhân. 

***

Chuyến đi tháng 3/2000




18/3/2000: 7:30 sáng, tàu cánh ngầm (hydrofoil) Saigon đi Vĩnh Long mất 3 tiếng. Tôi xuống ghe máy chạy tiếp sang Cần Thơ. Nhờ đi đường thủy, tôi thấy toàn cảnh 2 cầu giây quăng - Úc hỗ trợ kỹ thuật và tài chánh (?) - thay thế phà Mỹ Thuận và phà Hậu Giang.

Cần Thơ - Cà Mau tôi đi xe khách rồi lên xe ôm ra bến sông Gành Hào. Đi bộ lòng vòng, tôi thấy một ca-nô toàn các bà chắc mới đi chợ thành phố. Tài công trẻ hỏi chú đi đâu. Tôi đáp Mũi Cà Mau. Nó nói trễ rồi, xuống Năm Căn ngủ, mơi đi. Chịu thì nó chạy ngay. Tôi chịu. Nó bảo hai bà ngồi băng sau để tôi ngồi giữa cho đỡ bị sóng nhồi. Ngồi xuống, tôi than "kẹt cứng". Nó rỡn "ca-nô lắc lắc một hồi, chú dô êm cái một". Hai bà cùng la "thằng mắc dịch".




Gần 7 giờ tối tới Năm Căn, cách thành phố Cà Mau khoảng 50Km. Nó chỉ tôi đường đến Nhà Khách Công Đoàn rồi dụ nếu chịu mơi nó đưa đi Mũi Cà Mau. 




Tôi hỏi nhà ở đâu? Nó đáp ở đây. Dọc đường thấy nó vững tay lèo lái và khi gặp xuồng nhỏ nó tốt bụng giảm tốc độ nên tôi vui lòng, hỏi ra Mũi Cà Mau rồi trở về đây hết nhiêu. Chắc đoán tôi ở nước ngoài, nó đòi 50 Đô. Tôi hỏi thuộc đường không? Nó bảo đảm về Năm Căn mới lấy tiền.


Đường ra Đất Mũi cách Năm Căn khoảng 20Km. Rất nhiều tràm và đước. 
Bờ trái phía trước là vỏ lãi. Góc phải là mũi ca-nô tôi mướn.




Xã Đất Mũi: Tôi xuống ca-nô lội bộ. Khu này nhà cửa lụp xụp, không thấy đường lộ, cầu cống. Nhờ có điện và truyền hình nên "mỗi cặp vợ chồng chỉ có hai con" mới khả thi vì nghe nói tối lửa tắt đèn các ông thường tụ tập xem Tây đá banh, các bà kéo nhau đi coi tuồng cải lương.




Ra khơi nhìn vào đất liền thì đây là giải đất cùng Nam. Không biết đây có phải là nơi bài địa dư lớp Nhất tôi phải học thuộc lòng cho biết mỗi năm đất phù sa bồi thêm cả trăm thước (?).




Tài công nói đó là Hòn Khoai. Tôi bảo đưa tôi ra đảo, tôi trả thêm tiền. Nó đáp trông vậy chớ còn xa. Nó chưa ra đó. Ca-nô cỡ này gặp biển động lật cái rụp. Phải mướn ghe chài lớn hay đi theo tầu bộ đội. Tôi tự nhủ sẽ đi thăm cụm hải đảo cùng Nam - 5 hòn gần nhau, Hòn Khoai lớn nhất - cách đất liền 15Km. Về tới Năm Căn, tôi trả tiền rồi hỏi tên và địa chỉ để gửi hình. Lột nón bảo hộ, nó căn dặn tôi đề tên Lê Thành Đồng, Xã Hàm Rồng, Huyện Năm Căn, Tỉnh Cà Mau.

***

Chuyến đi tháng 6/2016 


Tháng 6/2016. Một đại lộ chính ở thành phố Cà Mau


(Tháng 9 năm 2013, 4 cựu học sinh THBMT đồng ý thầy trò xuống Cà Mau rồi ra Hòn Khoai. Gần ngày lên đường, cả 4 rút lui. Tôi hủy chuyến đi. Rất may ít lâu sau, tôi được tin địa phương chưa chính thức cho phép du khách ra Hòn Khoai)

Lần này, mấy ngày trước khi đi, tôi gọi điện thoại và vào mạng của 6 khách sạn ở Cà Mau để đặt phòng rẻ tiền và hỏi xem du khách đã được ra thăm Hòn Khoai chưa. Chỉ khách sạn Địa Ốc trên đường Cao Thắng ghi trong mạng có Tour và tái xác nhận qua điện thoại.

Sáng 14/6, tôi đi xe đò từ Bến Xe Miền Tây tới Thành phố Cà Mau lúc 2 giờ chiều. Đến khách sạn nhận phòng xong, tôi ra bến sông Gành Hào tìm phương tiện đi Hòn Khoai vì tôi không thích đi Tour. Nhân viên bán vé chuyên chở công cộng và mấy tài công tự quản người nói xuống Đất Mũi rồi ra làng chài Trần Đề mướn ghe đi tiếp, người nói dân thường chưa được lên Hòn Khoai. Không yên tâm, tôi đi hỏi một công ty Du Lịch ở trung tâm thành phố thì nhân viên cũng lơ mơ.

Ghé vào Thư Viện gần đó hỏi cầu may, quản thủ chỉ tới Du Lịch Công Đoàn. Nơi đây, ông phụ trách cho biết 4 yêu cầu (điều kiện): (1) đoàn phải có khoảng 30 người; (2) xin phép mất 3 ngày; (3) không hoạt động chánh trị; (4) tuyệt đối không có khách Trung Quốc.

Ổng khen Hòn Khoai rất đẹp và khuyên tôi chớ mướn ghe chài vì không an toàn, có thể không được lên đảo, có thể bị “kỳ kèo”. Theo ổng, tôi nên chờ năm tới xem đi riêng lẻ có được phép không. Về khách sạn, tôi bảo người đã xác nhận có Tour Hòn Khoai dù phải đợi giấy phép tôi cũng đi. Bả cho biết đã từng tổ chức nhưng các bên phải phối hợp thì mới quy tụ đủ số khoảng ba chục người. Nghe nói phải “đi nhờ” tầu bộ đội.




Chưa thể ra Hòn Khoai, tôi đi thăm trung tâm thành phố Cà Mau nơi cách đây 22 năm tôi đã có mặt. Thấy khá nhiều tiệm ăn uống và doanh nghiệp nhỏ có bảng hiệu bằng tiếng Anh, tôi chụp hình để góp vào bài “Lan Man Bên Lề” kỳ tới. 

Nguyên do: chiều 24/05/2016  ở Saigon tôi thấy rất đông người đứng dọc đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (trước 1975 là Công Lý) hồ khởi đón chào Tổng Thống Mỹ. Ra về, để tránh xe cộ ùn ùn được phép lưu thông trở lại, tôi đi qua các ngõ hẻm và thấy nhiều bảng hiệu tiếng Anh. Nếu ở Cà Mau cũng vậy, tôi cho rằng đây có thể là biểu hiện ngày càng có thêm người trong nước muốn Việt Nam sánh vai với các quốc gia dân chủ tự do.


Đội lưu động của một công ty cung ứng dịch vụ quảng cáo


Hoành tráng nhưng im lìm khi tôi chụp hình vào lúc xế chiều


Hầu hết thành thị tôi ghé thăm đều có các phòng thể dục thẩm mỹ và tập tạ.
Những studio tôi được vào xem, không chụp hình, đều có nhiều khách/hội viên rất năng động.


Xe gắn máy lắp ráp ở trong nước mang nhãn hiệu Nhật Bản rất được người tiêu dùng ưa chuộng


Bao giờ mới có “cạnh tranh chính trị” minh bạch kiểu “cạnh tranh kinh tế” như thế này
để dân chúng mở mặt với đồng loại ở các nước văn minh chính hiệu


Không ít quan và dân ta rất muốn “đi và sống” ở các nước Tư Bản. Nhận định này tôi căn cứ vào kinh nghiệm hướng dẫn du học sinh từ năm 1992 và rất nhiều quảng cáo của các công ty Du Lịch có thêm dịch vụ Bảo Lãnh và Định Cư


Tập Đoàn FPT là Đại Doanh Nghiệp Viễn Thông và Điện Tử hàng đầu ở Việt Nam




Kinh doanh Cà Phê Internet ngày càng ít khách vì số người có PC, Laptop, Tablet, iPhone, Smart Phone ngày càng tăng, kể cả ở vài vùng nông thôn khá giả. Một số tiệm chuyển sang dịch vụ chơi game mà “khách nghiện” đều là thanh niên và học sinh!!!


Nếu không có mấy hàng chữ Việt thì đây cũng có thể là ở Manila, Phi Luật Tân


Mấy công chức Mỹ tôi dậy tiếng Việt, hiện làm việc ở Hà Nội và Saigon, bảo cà phê Việt Nam đắng “dựng tóc gáy”


Nghe nói do mình trộn thêm bắp rang hay hạt cau. Gần đây một bài báo trong nước báo động có nhiều con buôn trộn bột ký ninh (thuốc sốt rét) của Trung Quốc, rất rẻ và rất đắng, vào cà phê. Uống nhiều là tiêu nội tạng. “Thế Giới Di Động” là công ty Điện Thoại Di Động hàng đầu có chi nhánh ở khắp nước.

Cà Mau có tới 2 nhà hàng với thực đơn Mỹ Châu La Tinh!


Không thua Quận Cam, Cali nhưng chẳng biết có bền vững không vì mấy nhà hàng ẩm thực sang trọng và mấy cửa tiệm thời trang đẳng cấp lúc tôi chụp hình đều rất vắng hoặc không thấy khách


Tỉnh thành nào cũng có Wi-Fi nhưng Đảng và Nhà Nước cho truy cập mạng nào thì con dân mới được tự do vào mạng đó, không phải leo trèo “tường lửa”, không sợ máy bị nhiễm vi-rút/mã độc


Tài phụ khoe từ hồi dán “cờ hoa”, tuyến Cà Mau - Phan Thiết - Cà Mau bữa nào cũng hết chỗ

Về Saigon, trên xe đò có giường nằm tôi nhớ tới câu “Vừa bán vừa la cũng đắt hàng” của ông Tú Xương, nhà thơ trào phúng đất Vị Xuyên với những bài châm biếm thế thái nhân tình cách đây hơn trăm năm.

***

--> Read more..

Popular posts