Thứ Sáu, 17 tháng 8, 2018

“Cam Dai Bay”


Tháng 11/2013 tôi có bài viết “Từ Ha Long Bay, Cam Ranh Bay đến… Cam Dai Bay” trên Blogspot (http://chinhhoiuc.blogspot.com/2013/11/tu-ha-long-bay-cam-ranh-bay-en-cam-dai.html). Đối với một số bạn đọc, bài viết này không có tính chất “thanh cao” vì đề cập đến một vấn đề kém “tế nhị”, xuất xứ từ những dòng chữ “Cấm đái bậy” tại Việt Nam.

Bây giờ, đã là 5 năm sau bài viết đó, có một tin trên báo Daily Mail (Anh) cũng lại có một bài viết liên quan đến việc tiểu tiện ngay tại Paris vốn là “thủ đô hoa lệ” của nước Pháp.

Người Pháp “chế” ra một từ ngữ mới, gọi là “uritrottoir” hay “urinoir”, để ám chỉ những nơi tiểu tiện ngay giữa chốn phồn hoa đô hội. Mời các bạn xem hình trên Daily Mail, ngày 13/8/2018:

“Uritrottoir” trên bờ sông Seine

Cách trang trí một “uritrottoir” (tạm dịch một cách thanh cao là “nơi tiểu tiện trên lề đường”) được ngụy trang thật “bắt mắt” và “thi vị” với hoa tươi trồng trên nột nền đỏ rực rỡ rất ư là… “nghệ thuật”. Tuy nhiên, theo bài báo, có nhiều người phản đối “sáng kiến” này.

Dĩ nhiên đa số người phản đối gay gắt là dân “địa phương” Parisiens, có lẽ vì là người “tại chỗ” nên các nhu cầu của “tiếng gọi thiên nhiên” đã được giải quyết ngay tại nhà của họ. Chỉ khổ cho du khách lúc cần mà không tìm được nhà vệ sinh công cộng, dù phải trả bằng tiền.

Xét cho cùng, “uritrottoir” là giải pháp hoàn toàn có tính cách “nhân văn” để giúp những người mang nặng “bầu tâm sự”. Không nằm trong “tứ khoái” như người Việt mình quan niệm nhưng tiểu tiện vốn là một phần “không thể tách rời” của đại tiện.

Thế cho nên, trút được những gánh nặng trong lòng “một cách hợp pháp” cũng là một trong những điều mang lại sự thoải mái cho một chuyến du lịch đến “kinh đô ánh sáng” Paris. Vì lý do đó, tôi hoàn toàn ủng hộ những điểm đậm chất “nhân văn” như “uritrottoir” của người Pháp.

Nét mặt “sảng khoái” của một du khách khi tìm được chỗ để… giải tỏa bầu tâm sự

Nhưng (lại có chữ “Nhưng” thật oái oăm), những người tranh đấu cho quyền bình đẳng giữa nam và nữ lại có lý do để phản đối. Họ không chống lại “uritrottoir” trên đường phố nhưng cứ nhìn vào bảng hướng dẫn chỉ thấy toàn nơi tiểu tiện cho quý ông, chẳng lẽ phái yếu không có nhu cầu này sao?

Đó là vấn đề “nóng bỏng” mà các nhà quản lý cần quan tâm nếu không sẽ bị mang tiếng là… “trọng nam khinh nữ”. Đã là con người thì mọi nhu cầu của sự bài tiết sẽ không phân biệt “quý ông” hay “quý bà”. Hãy mau mau giải quyết vấn đề này cho phụ nữ. Chỉ trừ trường hợp thế giới này không có sự hiện diện của… những nụ hoa biết nói!

Rõ ràng là “uritrottoir” này chỉ dành riêng cho quý ông!

Người Pháp vốn “gallant”, nhất là đối với phụ nữ. Thế cho nên, “không chóng thì chầy” thế nào họ cũng có cách giải quyết thỏa đáng để đem lại “quyền bình đẳng” cho giới “liễu yếu đào tơ”.

Để chấm dứt bài viết này, xin có điều lưu ý các du khách (thuộc loại “Hai Lúa” như tôi) khi đến Paris. Hình dưới đây là ảnh của một “uritrottoir” chứ không phải là “lavabo” để rửa mặt. Điều này sẽ không thừa vì nó trông… không có gì giống “hố giải” ở bên nhà.

Lưu ý các du khách “Hai Lúa”: Đây không phải là “lavabo” để rửa mặt!

***

* Xem thêm bình luận trên Facebook tại: 
https://www.facebook.com/notes/nguyen-chinh/cam-dai-bay/10209642891227327/

***

--> Read more..

Thứ Ba, 14 tháng 8, 2018

Viết ngắn chuyện toa tầu MTR Made in China


Nhủ với lòng phải viết thật ngắn. Thiên hạ viết về chuyện này nhiều rồi, có viết dài cũng chỉ là lập lại. Toa tầu trên cao dài 4 toa ở Hà Nội có thể được coi là dài nhưng, khổ nỗi,  chuyện phía sau nó lại còn dài hơn nữa.

Hà Nội 2018 đã có đường sắt trên cao, dài hơn 13km với đường ray khổ 1,435m, tốc độ 35km/giờ. Hồng Kông (thập niên 1960) và Singapore (1987) gọi đó là MTR (Mass Transit Railway). Chúng ta “lạc hậu” hơn nên mãi năm nay mới có nhưng “thà có còn hơn không”, nhất là tình trạng đường bộ “tụ nước” như hiện nay!

Tuyến đường Cát Linh – Hà Đông do Công ty Hữu hạn Tập đoàn Cục 6 Đường sắt (EPC) của Trung Quốc đảm nhiệm thi công. Dĩ nhiên phải là Trung Quốc vì ta vay tiền của anh bạn láng giềng “4 tốt, 12 chữ vàng”. Dĩ nhiên phải là “công nghệ” của Trung Quốc từ việc thiết kế, thi công đến đóng các toa tầu.   

Năm 2008 tổng mức đầu tư cho dự án này là 552 trệu USD, trong đó có 419 triệu vay của Trung Quốc. Đến năm 2016 dự án được điều chỉnh lên 868 triệu (tăng 315 triệu so với ban đầu). Đó là chuyện “lùm xùm” đầu tiên khiến không ít người quan tâm và thắc mắc sau gần 8 năm thi công.

Ngày 11/8/2018 nhà thầu EPC tổ chức chuyến tham quan cho cán bộ, công nhân và “người dân sống chung quanh dự án”. Trước đó 1 ngày, những bảng chỉ dẫn dọc tuyến đường xuất hiện với 2 ngôn ngữ: tiếng Hoa và tiếng Việt. Chữ Tàu viết dòng trên, to hơn cả chữ Việt bên dưới. Đó là chuyện “lùm xùm” thứ hai mang tính cách “thể diện quốc gia”, đi ngược với tập tục quốc tế.

Hơn thế nữa, “Thẻ lên tàu” trong ngày 11/8 cũng vẫn là tiếng Hoa rồi mới đến tiếng Việt khiến người ta có cảm giác đang sử dụng đường sắt tại Trung Quốc chứ không phải ở Hà Nội. Thế là cộng đồng mạng “dậy sóng phản đối”… và thế là cuốn sách “1.500 câu đàm thoại tiếng Hoa thực dụng” của Nhà xuất bản Thanh niên chắc chắn sẽ “tái bản” dài dài…

Nhà thầu Trung Quốc vội vàng giải thích: “Do có nhiều công nhân, kỹ thuật viên Trung Quốc làm việc nên phải in thẻ có tiếng Trung, nhưng thẻ không phát hành ra bên ngoài”. Ban quản lý dự án đường sắt của Việt Nam cũng khẳng định đang kiểm soát các nội dung in trên thẻ!

Đó mới chỉ là giai đoạn “lùm xùm sơ khởi” khi tàu chưa chính thức đi vào hoạt động. Có thể đoán trước đến cuối năm nay sẽ còn nhiều chuyện xung quanh đoàn tàu Cát Linh – Hà Đông với vận tốc 35km/giờ. Những người lạc quan cho rằng “Chạy chậm nhưng mà chắc” nhưng những người bi quan thậm chí còn đòi “tẩy chay” đường sắt trên cao vì nhiều lý do.

Cần làm rõ những chuyện bất thường trong suốt thời gian liên tục “đội vốn” từ ngày khởi công 10/10/2011. Tính đến nay, dự án đã “đội” khoảng 7.000 tỷ đồng sau nhiều lần giãn tiến độ thi công.

Đó là một thử thách quá lớn đối với niềm tin của mọi người. Trả lời báo chí về những ý kiến cho rằng cần thanh tra dự án, Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Nguyễn Ngọc Đông, cho biết:

“Theo kế hoạch của Thanh tra Chính phủ, dự án Cát Linh – Hà Đông không có tên trong các dự án bị thanh tra trong năm 2018”.

***

Như đã nói ở phần đầu, đây là bài viết ngắn nhưng viết tới đây đã dài đến hơn 600 chữ, chưa kể hình ảnh đi kèm. Thôi thì mời các bạn xem những bức ảnh minh họa để có một cái nhìn đầy đủ về… “MTR Made in China”.

***

MTR Hồng Kông



Bảng chỉ dẫn bằng tiếng Hoa & Việt


Thẻ lên tàu sử dụng trong ngày 11.8.2018


Cuốn sách này chắc chắn sẽ là Bestseller trong tương lai


Đường sắt Cát Linh - Hà Đông trong giai đoạn thi công


Tuyến đường... mềm mại


Đường sắt... trong mơ


Hình ảnh để so sánh


Một ngày lỗ 1,8 tỷ đồng

***











--> Read more..

Thứ Năm, 9 tháng 8, 2018

Trong thế giới “Yêu” của Chu Tử

Năm 1963 đánh dấu nột hiện tượng “vượt ra ngoài ước đoán của nhà xuất bản cũng như của tác giả” trong hoạt động văn chương tại Sài Gòn: tác phẩm “Yêu” của Chu Tử đã bán hết 5.000 cuốn trong vòng 25 ngày.

Trong phần “Lời người viết” ở đầu cuốn tiểu thuyết “Yêu”, bản in lần thứ hai, Chu Tử ngỏ lời cùng độc giả:

“Khi thỏa thuận với tôi để xuất bản “Yêu”, anh Nguyễn Trọng Nho, Giám đốc Nhà xuất bản Đường Sáng, nửa đùa, nửa thật hỏi tôi: “Liệu trong vòng hai năm, có bán hết năm ngàn cuốn không?”. Tuy tin ở mình, tôi vẫn không dám nghĩ rằng sách của mình sẽ bán chạy, tôi đành trả lời bừa: “Tôi hy vọng sẽ bán hết trong vòng bốn tháng”. 


Chu Tử giải thích hiện trạng bế tắc của bộ môn tiểu thuyết vào thập niên 60s tại Miền Nam đã khiến các nhà xuất bản phải dè dặt khi coi việc in sách là điều phiêu lưu, mạo hiểm. Hầu hết các tiểu thuyết vừa ra khỏi nhà in đã phải bán “son” (sold) cho các ông cai thầu Ba Tàu!

Không phải chỉ các nhà xuất bản đánh giá sai về trình độ thưởng thức của độc giả mà ngay cả những người viết (trong đó có Chu Tử) cũng thường đánh giá sai về người đọc. Hơn nữa, là một nhà báo, Chu Tử biết lợi dụng mối quan hệ rộng rãi để tạo một phản ứng thuận lợi đến cuốn sách ngay lần xuất bản đầu tiên.



Chu Tử (Chu Văn Bình), chủ nhiệm nhật báo Sống, Sài Gòn 1962

Chu Tử cũng thẳng thắn nhìn nhận cái “tật” thường giảng giải lòng thòng để đưa vào những nhận xét có phần “chủ quan” của mình. Theo ông, đó là điều tối kỵ trong nghệ thuật viết tiểu thuyết nhưng, khổ nỗi, đó cũng là “chất liệu xúc tác” làm cho truyện hấp dẫn người đọc hơn.

Chẳng hạn chuyện “hư cấu” về thầy giáo Đạt và bà Hằng trong thời “kháng chiến” ngoài Miền Bắc. Hằng có vẻ đẹp quyến rũ nhưng lại “bồng bột yêu nước” bằng cách sẵn sàng “ủng hộ” bằng cả tinh thần lẫn vật chất cho những người kháng chiến. Chu Tử viết: 


“… Năm 1949… Kháng chiến… Hằng cùng mẹ di cư về miền Mỹ Đức, Hà Đông. Là một nữ sinh trường Đồng Khánh, lại có sắc đẹp, Hằng hồi đó là một thanh nữ cứu quốc có tinh thần cao chót vót, yêu nước đắm say. Di cư được ba tháng, mẹ Hằng đột nhiên lâm bệnh, từ trần, Hằng sống trơ trọi một mình với mấy chục lạng vàng do mẹ nàng để lại…

“Hằng tha thiết muốn tham gia vào phong trào phụ nữ địa phương, nhưng các chị em địa phương hầu hết là nông dân nên có thành kiến, tỏ thái độ e dè, ngờ vực đối với nàng, mà họ liệt vào thành phần “tạch tạch sè” (tiểu tư sản) phản động. Hằng ức lắm, ức nhất là nhiệt huyết sôi sùng sục trong huyết quản, thế mà nàng hầu như bị gạt ra ngoài cuộc chiến đấu, lại còn bị mọi người ở địa phương nghi ngờ, theo dõi là đằng khác…”


(hết trích)

Hồi đó, cô Hằng mở một quán nước bình dân, bán xôi, chè, bánh chưng, bánh rợn… không phải để mưu sinh nhưng cốt để phục vụ các “đồng chí” đi công tác có chỗ dừng chân, ăn quà. Đối với ai, nàng cũng niềm nở tươi cười, nên người thanh niên nào cũng tưởng nàng có tình ý riêng với mình, nhưng thực ra thì nàng không để ý tới ai hoặc chưa thèm để ý tới.

Trong những “cây si” thường lai vãng tới quán Hằng có hai chàng trai: Đa (một thanh niên du kích “cục mịch, hiền lành”, phụ trách việc canh gác ở cổng làng Mỹ Lý) và Thanh (có bộ mặt đẹp trai, lại là đại đội phó kiêm chính trị viên thuộc đơn vị đang đóng trong làng).

Anh đại đội phó oai hùng là thế nhưng khi đối diện với Hằng bao nhiêu câu tỏ tình đẹp đẽ, lâm ly anh đã nghiền ngẫm, học thuộc lòng trong những đêm không ngủ thì bỗng biến đi đâu hết. Thần trí bàng hoàng, anh chỉ thốt ra được một câu bất ngờ, thật kinh khủng như có ma quỉ nào nhập vào anh, mượn miệng anh. Thanh chỉ nói một câu tỏ tình gọn lỏn nhưng cũng rất duy vật: “Thèm quá, ủng hộ một tý…”

Người thiếu nữ mở to đôi mắt kinh ngạc nhìn anh và mãi tới ba mươi giây đồng hồ sau, nàng mới hiểu… Nàng suy nghĩ rất nhanh, rồi nét mặt không biến đổi, không giận mà cũng không “thẹn”, nàng điềm tĩnh, hơi buồn bảo anh: “Xin vâng! Nhưng anh đợi một lát, khách về hết đã!...”. Chu Tử viết trong Yêu:

“Thanh bàng hoàng ngồi xuống mép giường. Anh mở to đôi mắt tháo láo, mà vẫn ngờ chiêm bao, vẫn chưa ý thức được rằng chỉ một lát nữa, người thiếu nữ, chàng hằng mơ ước, sẽ hiến dâng tấm thân ngà ngọc “ủng hộ” chàng, theo ý muốn của chàng!”


“Thanh cố bình tĩnh xếp đặt một vài câu đẹp đẽ khác để lát nữa, sẽ nói tạ tội với người đẹp, nhưng mười lăm phút sau, khi nàng điềm tĩnh, nghiêm trang bước vào, thủng thẳng đóng cửa và nói với chàng bằng tiếng Pháp: “Je suis prête” (Tôi đã sẵn sàng), thì chàng lại líu lưỡi, quên tất cả những điều mình định nói. Đôi mắt khờ dại đi, anh chỉ biết vụng về ôm choàng lấy nàng, hơi thở đứt đoạn từng hồi, phả vào mặt Hằng, khiến Hằng nhắm mắt, buông thõng hai tay…”

(hết trích)

Nhà văn & Nhà báo Chu Tử (1917-1975)

Trong cái “thế giới yêu” của Chu Tử ta thấy sự đa dạng của tình yêu. Những mối tình thời son trẻ làm nền cho những mối “tình già” tưởng chừng như đã “quá đát”. Cũng bà Hằng thời kháng chiến là thế nhưng khi vào đến Sài Gòn lại bùng phát mãnh liệt trong cuộc sống của người phụ nữ nuôi con… không có cha sau khi “ủng hộ” kháng chiến!

Chuyện tình giữa Thúc và Hằng bắt đầu từ ý tưởng của các con “để cho bố vui” khi thấy Thúc mệt mỏi, bơ phờ. Sự thực thì sự mệt mỏi của Thúc rất dễ hiểu. Bản chất Thúc là một tâm hồn sôi nổi, say mê phiêu lưu, hoặc bất cứ cái gì thoát ra ngoài khuôn sáo. Thế mà từ bao nhiêu năm nay, Thúc vẫn phải đóng vai một ông giáo sư đạo mạo, một người chồng ngoan ngoãn, một người cha gương mẫu của bốn cô con gái đến tuổi lấy chồng… Phải sống ngược lại với thực chất tâm hồn mình, Thúc đã dần dần thấy dấu hiệu của sự mệt mỏi.

Có lẽ Chu Tử đã hơi quá “hư cấu” khi sắp xếp cho Thúc gặp Hằng qua việc Tuyết và Huyền dàn xếp cuộc gặp gỡ trong khi mẹ và chị vắng nhà. Chỉ khi bước vào cửa nhà Hằng, Thúc mới biết mình đã bước qua ranh giới của sự mệt mỏi và yêu đời!

“… Ngay lúc đó, Hằng hiện ra trong khung cửa, với bộ đồ ki-mô-nô, màu xanh mát dịu. Hằng thốt lên một tiếng reo vui mừng đượm chút ngạc nhiên khi nhìn thấy Huyền và Tuyết đi cùng một người đàn ông mà tuy chưa gặp lần nào, Hằng cũng đoán ra ngay là cha của Huyền và Tuyết vì Tuyết hao hao có nét mặt của Thúc…

- Lạy chị ạ! Em đưa Ba em lại thăm chị!

Nghe Huyền giới thiệu Thúc, Hằng nhìn thẳng vào mắt Thúc trong một khoảnh khắc, rồi cúi đầu chào rất duyên dáng:

- Được nghe nói về ông nhiều lần, bây giờ mới được gặp… Thật hân hạnh cho tôi… 


- Tôi cũng vậy…”

(hết trích)

Có ngờ đâu, đó chính là “coup de foudre”, tiếng sét ái tình sẵn sàng giáng xuống đầu con người, trẻ cũng như già và bất kể tuổi tác. Ngay từ phút giây đầu tiên cuộc gặp gỡ, Thúc đã tự nhủ: “Mình phải yêu người đàn bà này”.

Không biết hai người có duyên số gì, có dây oan nghiệt gì ràng buộc họ trong kiếp trước, hay có lẽ đúng hơn là Thúc đang ở trong cái trạng thái trống rỗng ghê gớm, cái trạng thái chờ đợi một cái gì, mới lạ, bất luận là tốt hay xấu, lành hay dữ.

Đối với Hằng, khi thấy cái nhìn lừ đừ nặng trĩu khát vọng thầm kín của Thúc thì nàng cũng tự nhủ: “Ít ra người đàn ông này cũng là người có cá tính, không đến nỗi vô vị như người khác”.

Trong khi hai cô con gái đến nhà một người bạn gần đó thì Thúc-Hằng đã “tìm thấy nhau” trong một đêm sấm chớp đầy trời. Hóa ra cả hai đều bị “sét đánh” một cách nhanh chóng. Trong vai người kể chuyện, Chu Tử chỉ diễn tả giây phút đó một cách khéo léo:

“Ngay lúc đó, một tiếng sét long trời lở đất đánh xuống đâu đấy, tưởng chừng chỉ cách chỗ hai người vài chục thước, làm rung chuyển cánh cửa kính và Hằng mặt tái mét chạy lại phía Thúc, như muốn ôm choàng lấy Thúc cho đỡ sợ, mà không dám. Thúc cầm lấy bàn tay Hằng:

- Hằng sợ sấm sét lắm à?

Hằng nói trong hơi thở đứt quãng:

- Cả đời em, em không sợ gì bằng những phút mưa to gió lớn, sấm sét ầm ầm…”


(hết trích)

Thúc và Hằng như hai hỏa diệm sơn nghỉ hoạt động từ lâu, lúc này vụt phun dung nham nên tuôn trào dữ dội. Thúc thấy mình trẻ lại, mơ mộng như một thiếu niên mười tám tuổi lần đầu tiên yêu và đúng như lời Tuyết nói đùa với Huyền trước khi đi, Thúc đã “mê” tít thò lò…

“Chàng đắm đuối hôn lên mắt Hằng, nói một câu thật lãng mạn như trong những tiểu thuyết rẻ tiền mà Thúc vẫn chế riễu:

- Đêm nay anh sẽ gối đầu tay cho em nằm, và anh sẽ kể chuyện đời cho em nghe…

Hằng nói tiếp luôn, giọng vừa não nùng, vừa khinh bạc:

- Rồi mai mốt chị Hòa về, em sẽ trả anh lại cho chị… Nghe nói anh yêu chị lắm phải không?

Thúc đáp rất thành thực:

- Yêu lắm! 


- Có phải chị “cả ghen” lắm, hở anh?


- Ghen ghê gớm!

Hằng im lặng một lát, mới lên tiếng:

- Buồn quá anh nhỉ! Liệu em có mang sóng gió tới gia đình anh không?...

Thúc lấy tay bịt miệng Hằng:

- Em mà cũng lẩn thẩn như vậy à! Cái gì ở đời cũng là nghiệp dĩ cả. Anh đến đây là do Huyền và Tuyết đưa tới chứ đâu phải anh và em tìm đến nhau… Rồi tự nhiên trời đất nổi cơn lôi đình và lỗi là ở trời đất chứ đâu phải lỗi ở chúng ta… Đúng là trời đất bắt chúng ta yêu nhau em ạ! Em có thấy sự an bài ghê gớm của số kiếp không?


(hết trích)

Cuộc tình Thúc-Hằng ở đoạn kết có phần bi thảm khi Thúc bị thổ huyết và bệnh tình ngày càng trầm trọng. Hòa rồi cũng tha thứ cho chồng vì nghe theo lời khuyên của bác sĩ Thoại, bạn của Thúc và cũng là người yêu thầm nhớ trộm Hòa khi xưa.

Chẳng những tha thứ mà Hòa còn mời Hằng đến gặp Thúc trước khi nhắm mắt. Thúc chết, mang theo hình ảnh của vợ, của bốn đứa con và của Hằng. Thúc chết như một triết nhân từ biệt cuộc đời, thèm sống đến đau xót, nhưng khi chết thì vẫn giữ nụ cười trên môi. Sau khi Thúc chết, Hằng hạ sinh một đứa con trai. Âu cũng là một đoạn kết “có hậu” cho tình yêu “dối già” của Thúc.



Chu Tử

Thế giới yêu của Chu Tử còn có một mối tình ngang trái nữa. Khác với cặp Thúc-Hằng yêu như “sấm chớp” trong khi cặp Đạt-Diễm lại yêu “từ từ” kéo dài suốt hơn 10 năm! Thúc gần 50 nhưng Đạt mới chỉ gần 40, họ vốn là bạn vong niên còn Đạt lại là thầy của 4 cô con gái Thúc.

Chuyện thầy Đạt yêu cô học trò Diễm lại do chính Thúc tiết lộ trong một bữa cơm gia đình bên vợ và 4 cô con gái đang tuổi “cập kê”. Câu chuyện tưởng chừng như đã chìm sâu vào dĩ vãng khiến Diễm nhớ lại một cách rành mạch cái buổi chiều cách đây hơn 10 năm:

“… cái buổi chiều có nắng thu, Đạt cầm tay nàng, xềnh xệch lôi nàng trên con đường mòn đưa tới suối, và nàng lật đật chạy theo Đạt, thỉnh thoảng lại nấc lên một tiếng vì cơn khóc mới chấm dứt… Diễm nhớ lại từng chi tiết khung cảnh chiều hôm đó, từng cử chỉ của Đạt, nhớ lại cả khuôn mặt lầm lì và cái nhìn nghiêm khắc của Đạt, khi Đạt cởi quần áo cho nàng, bế nàng xuống nước… Diễm như sống lại cái cảm giác mênh mông khi nước suối lành lạnh mùa thu làm nàng ôm chầm lấy Đạt và Đạt công kênh nàng lên vai, đưa nàng ra giữa dòng suối, khiến Diễm vừa sợ, vừa thích….”

Diễm có thể hình dung cả nét mặt rạng rỡ của Đạt khi nàng hồn nhiên và ngây ngô nói với Đạt: “Nhớn lên cháu lấy chú Đạt”. Diễm chợt hiểu, như nghe một người mù chợt nhìn thấy ánh sáng… Diễm chợt hiểu tại sao từ trước đến nay, Diễm vẫn cảm thấy mình bị ràng buộc với Đạt một cách thật tha thiết, âm thầm mà không cắt nghĩa nổi. Thì ra cái kỷ niệm thời thơ ấu—mặc dầu nàng đã quên khuấy từ lâu—vẫn ngấm ngầm tác động, chi phối cuộc đời tình cảm của nàng…

Tuyết, cô con gái út, phân tích: “Chị Diễm mới lên bảy tuổi, mà đã đã đòi lớn lên lấy “chú” Đạt, thì đó là triệu chứng chị Diễm đã “mê” ông Đạt ngay từ thời thơ ấu rồi! Cái đó mới nguy hiểm, chứ đâu phải chuyện “trẻ con” hở Ba?”.

Bà Hòa (vợ Thúc) là người phản đối mãnh liệt nhất. Bà nói: “Để yên thì thế nào con Diễm cũng lấy thằng Khải, nhưng lại thêm ông Đạt nhảy vô, thì con Diễm còn đủ long đong, khổ sở”.

Trong một bức thư Đạt gửi cho Diễm có đoạn mở đầu:

“Lá thư Diễm đọc đây, Diễm coi như một bức thư “tình” cũng được, hoặc coi như thư của “chú” Đạt cũng được! Mà coi như “thư của chú Đạt” thì tiện hơn vì “chú” Đạt thì tất nhiên thực hơn, gần gũi hơn, không thể có những lời giả dối với “cháu” Diễm được…”


“Từ khi mà—cách đây hơn mười năm—giữa dòng suối, Diễm bá cố chú Đạt để hồn nhiên nói với “chú” rằng: “Nhớn lên cháu lấy chú Đạt”, tôi vẫn nhớ lời Diễm, và từ đó, tôi vẫn tự nhủ: “Mình cố gắng làm một cái gì, lập sự nghiệp gì, đợi cho Diễm nó nhớn lên, rồi lấy nó là vừa”.

“Thật là một ý nghĩ ngông cuồng, lãng mạn! Nhưng thú thật với Diễm, là qua cái bề ngoài lừng khừng, khô khan của tôi, “chú” Đạt của Diễm cho đến lúc này, cũng vẫn chỉ là một đứa mơ mộng bất trị “reveur incorrigible” như Ba Diễm thường phê bình tôi.

“Chính vì tôi là đứa mơ mộng hão huyền, nên mặc dầu tôi biết là khi nói “Nhớn lên, cháu lấy chú Đạt” Diễm chỉ là đứa con nít bảy tuổi và Diễm không hiểu “lấy” là thế nào, chỉ mơ hồ thấy Ba má Diễm yêu nhau thì lấy nhau, nên đinh ninh rằng hễ ai yêu ai thì tất nhiên “lấy” nhau!

“Chính vì tôi mơ mộng cho nên tôi vẫn không quên lời “hứa” của Diễm và không hiểu sao, tôi vẫn tin một cách vô lý là Diễm còn nhớ lời Diễm nói, còn nhớ cái buổi chiều “lịch sử” tắm suối đó! Vậy Diễm còn nhớ không hay đã quên, quên hết rồi? Riêng tôi thì tôi nhớ lắm, nhớ một cách rất rành mạch! Tôi nhớ và tôi đợi Diễm nhớn lên!...

"Bây giờ thì Diễm nhớn rồi, Diễm hiểu “lấy” là thế nào rồi. Nhưng Diễm nhớn thì tôi lại thấy mình “già” rồi, “già” nghĩa là không xứng đôi với Diễm chứ không phải “già” là già. Già và nhất là chưa làm được cái gì, chưa lập được sự nghiệp “chó” gì như lời Ba Diễm thường phàn nàn chung cho tôi và cho Ba Diễm!
“Không những chẳng lập được sự nghiệp gì mà còn mất mát rất nhiều. Nhưng tôi càng mất dần tin tưởng ở cuộc đời thì tôi lại càng cố bám vào cái tin tưởng cuối cùng, tin tưởng rằng nhớn lên “Diễm lấy chú Đạt”. Bởi vì tôi vẫn băn khoăn lo một ngày kia mình không những không tin ở lý tưởng bình sinh nữa mà cũng không còn yêu đương nổi nữa! Sống không lý tưởng mà cũng không biết yêu đương thì còn sống để làm gì, có phải không Diễm?”

(hết trích)

Rốt cuộc, chuyện tình Đạt-Diễm cũng đến một ngõ cụt: mặc dù yêu Đạt, Diễm vẫn phải lên xe hoa với Khải để đem lại niềm vui cho gia đình. Cuộc đời Diễm từ khi lấy Khải luôn sống trong sự ghen tuông của chồng. Phải chăng đó là số mệnh?

Diễm khuyên Đạt nên lấy Trang, một cô học trò cũ. Chính Diễm và Uyển đứng làm chủ hôn. Sau ngày cưới, Đạt và Trang đi Vũng Tàu hưởng tuần trăn mật một tháng. Họ hoàn toàn không biết Diễm và Khải khi ở tiệc cưới ra về gặp tai nạn do quá chén. Khải từ trần và Diễm sống trong hoảng loạn.

Chuyện tình yêu “Thầy-Trò, Chú-Cháu” trong “Yêu” đã trở thành một mối quan tâm của xã hội thời thập niên 60s ở Sài Gòn. Sau này, đề tài đã khiến nhạc sĩ Anh Thy viết nên bản nhạc “Đừng gọi anh bằng chú”. Điều đó đã chứng tỏ tầm ảnh hưởng của tiểu thuyết “Yêu” với cuộc sống hàng ngày.



Bản nhạc “Đừng gọi anh bằng chú” của Anh Thy

Thế giới “Yêu” của Chu Tử ngoài những “kiểu” yêu trái khoáy như đã kể ở trên còn có những mối tình “bình thường” như chuyện tình giữa Đạt và Trang “gái nhảy”, em gái của họa sĩ Tuấn “điếm đàng” và cũng là học trò cũ của Đạt.

Trang là một thứ “rắn hổ mang”, nàng tự cho mình là một thứ “voleuse d’amants”, loại đàn bà đi cướp người yêu. Trang thù ghét đàn ông và ghét nhất bọn “con gái nhà lành”. Khi biết Đạt và Diễm yêu nhau, Trang quyết phá tình yêu của hai người nhưng cuối cùng chính Diễm là người kết hợp Đạt với Trang.

Số phận của Uyển và Huyền lại đi theo một con đường khác sau khi bố chết. Bác sĩ Thoại đưa hai cô vào thăm bệnh viện dành cho người cùi và giới thiệu hội “Bạn những người cùi”. Ông muốn họ gia nhập hội, quên cái đau khổ giả tạo của mình để giúp những kẻ đau khổ thật sự.

Uyển nảy ra ý gửi thư cho những người đàn ông giàu có đang đeo đuổi mình, và cho họ biết Uyển sẽ nhận làm vợ người nào bằng lòng hiến dâng tài sản của mình cho hội vì Uyển vẫn tin tưởng vào sắc đẹp đầy sức quyến rũ của mình.

Nghe tin Tuấn (anh của Trang) trúng số, Uyển đến gặp Tuấn với mục đích đoạt trọn số tiền 50.000 của Tuấn cho người cùi. Nhưng Tuấn cũng là kẻ tham tiền, cuối cùng Uyển thất thân với Tuấn mà chẳng được gì. Uyển lâm trọng bệnh và từ giã cõi đời.

Cô gái út Tuyết trở thành ca sĩ Như Tuyết, đêm đêm ca hát tại các phòng trà để phụ giúp gia đình trong cơn túng thiếu. Bốn người con gái của giáo sư Thúc mỗi người mang một số phận nghiệt ngã. Phải chăng cũng chỉ vì yêu?

Ở phần cuối, Chu Tử viết lại những dòng nhật ký của Uyển trước khi lìa đời. Có thể coi đây là một sự giải thích của tác giả về thế giới của tình yêu:

“Dù sao, thì cuộc ái ân nhầy nhụa với Tuấn đã giúp tôi nhận định rõ điều này: Trước kia, mỗi khi tôi cảm thấy cô đơn, giá buốt trước cuộc đời, tôi thường tự an ủi, tự đánh lừa rằng: tôi cô đơn là vì tôi chưa yêu, chưa được hưởng những giây phút giao hoan của đôi lứa đắm mình trong hạnh phúc ái ân...


“Nhưng bây giờ mà tôi đã nếm mùi “hạnh phúc ái ân”, mặc dầu là thứ hạnh phúc nhày nhụa với Tuấn, tôi mới thấy rằng yêu nhau chỉ là để cho ta nhận định rõ cái thân phận cô đơn của mỗi người chúng ta. Bởi vì, sau những khoảnh khắc ái ân là gì, nếu không phải là niềm cô đơn, tứ bề giá buốt của tâm hồn?!

“Sau những khoảnh khắc ái ân, cái người “yêu” mà ta “đầu gối tay ấp” chỉ còn là một xú xác, một đống thịt mà ta muốn tan biến đi cho khuất mắt, để ta yên lặng trở về cái thế giới cô đơn của tâm hồn ta. Những giây phút con người cảm thấy cô đơn nhất, chính là những giây phút “đầu gối tay ấp” bên người “yêu”!




***
--> Read more..

Thứ Bảy, 4 tháng 8, 2018

Liệu thế giới có thể… chết vì Trung Quốc? (2)


(Tiếp theo)

Ngày 11/12/2001 Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và cũng từ thời điểm đó, 57.000 nhà máy đã “biến mất” tại Mỹ. Hơn 25 triệu người không thể nào tìm được cho mình một công việc đàng hoàng và nước Mỹ phải gánh số nợ nước ngoài lên đến 3.000 tỷ đô la.

Điều trớ trêu, chính từ thời Tổng thống Bill Clinton lại là người ủng hộ hết mình việc Trung Quốc tham gia WTO với tham vọng để một nước theo chủ nghĩa Cộng sản có cơ hội tham gia sân chơi quốc tế và từ đó có thể thay đổi đường lối chính trị độc tài. Ngày 9/5/2000, ông Clinton tuyên bố tại Đại học Johns Hopkins:

“Nếu các bạn tin tưởng vào tương lai cởi mở, dân chủ, tự do cho người Trung Quốc và nếu các bạn tin tưởng hơn vào tương lai thịnh vượng của Hoa Kỳ… chúng ta nên ký kết thỏa thuận để họ gia nhập WTO… Và nếu bạn tin tưởng vào an ninh và hòa bình của Châu Á hay cả thế giới, chúng ta nên đồng thuận. Đây là điều đúng đắn phải làm…”

Tổng thống Bill Clinton phát biểu tại Đại học Johns Hopkins (năm 2000)

Ông Clinton tuyên bố như trên cũng chỉ là theo đuổi “học thuyết” của Tổng thống Richard Nixon khi đến Bắc Kinh để mở ra một “kỷ nguyên mới”. Nixon nói, “Nếu có điều gì đó tôi muốn làm trước khi chết, đó là đi Trung Quốc. Nếu tôi không đi được, tôi muốn các con tôi đi”.

Để dọn đường cho chuyến thăm của Tổng thống Nixon, cố vấn Kissinger đã mau chóng thu xếp 1 chuyến đi “tiền trạm” bí mật sang Bắc Kinh. Ngày 21/2/1972, Air Force One chình thức đáp xuống Thượng Hải, các đài truyền hình Mỹ đồng loạt loan tin Tổng thống vừa đặt chân đến đất Trung Hoa. Đó là môt bản tin gây chấn động toàn cầu.
 
Tổng thống Richard Nixon và Thủ tướng Chu Ân Lai (năm 1972)

Cả hai vị Tổng thống Hoa Kỳ đã mắc một sai lầm lớn khi “bắt tay” với Trung Quốc. Theo Peter Navarro, tác giả “Dead by China”, nước Mỹ đã bị “lừa bịp về chất lượng hàng hóa đi cùng với một trò chơi bổ sung với cái tên là “Nọc độc Thượng Hải”. Tất cả đều phát xuất từ Trung Quốc.

Ông giải thích, một công ty Mỹ tới Trung Quốc vì muốn cắt giảm chi phí sản xuất, khi tìm được một ứng viên, vị giám đốc trình bày các kế hoạch hay thiết kế chi tiết cho nhà sản xuất Trung Quốc. Một trong ba điều có thể xảy ra:

(1) Trường hợp hoàn hảo nhất là nhà sản xuất Trung Quốc ký một thỏa thuận lâu dài với công ty Mỹ, sản xuất các sản phẩm chất lượng cao với giá thấp, và hai bên “cùng có lợi”;

(2) Một khả năng rất dễ xảy ra hơn, Navarro gọi đó là “Nọc độc Thượng Hải”: Nhà sản xuất Trung Quốc từ chối lời đề nghị nhưng giữ lại bản thiết kế của công ty Mỹ. Vài tháng sau, chính họ chế tạo mặt hàng của công ty Mỹ để bán như là một đối thủ cạnh tranh bằng cách sử dụng thiết kế “ăn cắp” của công ty Mỹ;

(3) Khả năng thứ ba: Sự “lừa bịp chất lượng” bắt đầu khi nhà sản xuất Trung Quốc nhanh chóng chế ra một “phiên bản thử nghiệm bêta” theo yêu cầu của Mỹ một cách chính xác. Công ty Mỹ sẽ rất rất hài lòng với vụ làm ăn và chi phí được cắt giảm đáng kể (thường là tới 50%). Sau thời kỳ trăng mật này là “sự lừa bịp”. Họ bắt đầu thay thế các nguyên vật liệu hay các bộ phận kém phẩm chất vào để gia tăng lợi nhuận.

Sản phẩm “Made in China” trên thị trường Hoa Kỳ

Peter Navarro cho rằng chính phủ Hoa Kỳ chỉ quan tâm đến những vấn đề chính trị trong đối ngoại mà hầu như quên hẳn chuyện kinh tế ngay trong nội bộ nước Mỹ. Ngoài trách nhiệm của những chính trị gia, còn có phần thiếu sót của các học giả, nhà báo trước tình trạng kinh tế - xã hội ngay tại nước Mỹ. Ông viết:

“Rõ ràng là chúng ta đã từng nghe các học giả uyên thâm như Thomas Friedman của cuốn “Thế giới phẳng” rằng tương lai phồn thịnh của Mỹ nằm ở việc mở rộng nhanh công ăn việc làm trong lĩnh vực dịch vụ mà? Và những cái đầu biết nói như Fareed Zakaria của tờ Newsweek và thậm chỉ cả James Fallows của tờ Altantic luôn luôn nhắc đi nhắc lại rằng việc chuyển dịch công ăn việc làm trong lĩnh vực sản xuất và chế tạo từ Mỹ và châu Âu tới các nước có thu nhập thấp như Trung Quốc và Ấn Độ là vấn đề không thể tránh được, cũng như việc thủy triều lên và mặt trời lặn.”

Navarro viết một cách “thẳng thừng”, ông phải xin lỗi trước vì những lời lẽ như sau:

“Bọn họ đều sai lầm “phẳng” như nhau cả thôi. Những gì mà những học giả tịt ngòi này, cùng với những tác giả đồng hạng và quan điểm như họ, tất cả đều mắc sai lầm ở chỗ, họ đã không nắm vững một trong những nguyên lý căn bản nhất của kinh tế học: công nhân người Mỹ có thể cạnh tranh với nhân công ở các nước có thu nhập thấp ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, miễn là họ phải hiệu quả và ưu việt hơn - và khi sân chơi tự do thương mại bằng phẳng!”

Cũng cần phải nói thêm, trong cuốn “Thế Giới Phẳng” (The World is Flat), Thomas Friedman có đề cập đến 10 yếu tố tác động đến việc “làm phẳng thế giới” mà ông gọi là “tác nhân làm phẳng” (flattener), trong đó “Flattener #6” là nhân tố mang tên “Offshoring”, tạm dịch là hướng ra nước ngoài (*)

Bìa sách “The World Is Flat” của Thomas Friedman

Cũng vì chính sách “hướng ngoại” nên các nhà máy của Hoa Kỳ đóng cửa để dời ra nước ngoài. Tiền bạc thu về có phần khấm khá cho các công ty nhưng để lại một hậu quả bi thảm cho cuộc sống của người lao động Mỹ và những hệ quả không thể lường trước được như chúng ta thấy ngày nay.

Chính phủ đương thời của Tổng thống Donald Trump phải đương đầu với những đòn “hóa giải” về kinh tế - xã hội” để “Make America Great Again”. Đó cũng là lý do Peter Navarro được Trump tin tưởng trong vai trò phụ trách Ủy ban Thương mại Quốc gia. Và đó cũng là lý do giải thích về “cuộc chiến thương mại” giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc hiện đang xảy ra.

Từ quan điểm của một người đứng bên ngoài nước Mỹ, chúng ta thấy “triều đại” của Tổng thống Trump có rất nhiều chính sách “chưa từng có” trong lịch sử của Hoa Kỳ khiến một số người dân chống đối. Mặt khác, cuộc chiến kinh tế với Trung Quốc ngày nay lại được đa số người Mỹ ủng hộ. Có lẽ vì ông vốn xuất thân từ thương trường trong khi các Tổng thống tiền nhiệm đều là các chính khách!

Cảnh hoang phế của nhà máy sản xuất tại Mỹ sau khi các công ty chuyển ra nước ngoài

Trở lại với câu hỏi được đặt ra qua tiêu đề của bài viết này: “Liệu thế giới có thể.. chết Trung Quốc?. Hãy còn quá sớm để có câu trả lời “Yes” hay “No” nhưng chúng ta cũng tạm yên tâm khi câu hỏi được đặt ra… dù có vẻ hơi muộn màng. Người Phương Tây vẫn nói “Better late than never”!  

Phần còn lại của thế giới, trong đó có Việt Nam, chỉ biết “trông chờ” vào một kết quả thuận lợi từ “cuộc chiến thương mại” theo từng hoàn cảnh của mỗi quốc gia… Chúng ta chỉ biết… chắp tay cầu nguyện.

“Wait and see” 

Tổng thống Donald Trump và tác giả “Dead by China”, Peter Navarro

***

* Như đã nói ở phần đầu, các bạn có thể xem thêm phim tài liệu “Dead by China” tại:

***

Chú thích:

(*) Đọc thêm bài viết về Thomas Friedman, “Trái đất tròn nhưng sao thế giới lại phẳng?”, đã post trên Blogspot tại:


***


--> Read more..

Thứ Ba, 31 tháng 7, 2018

Liệu thế giới có thể.. chết vì Trung Quốc? (1)


“Dead by China” được viết bởi Peter W. Navarro, giáo sư Kinh tế học và Chính sách Công cộng thuộc Đại học California, cùng với sự cộng tác của đồng nghiệp Greg Autry. Navarro là người đã được Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump bổ nhiệm phụ trách Ủy ban Thương mại Quốc gia trong nội các của ông.

Sách thuộc loại nghiên cứu – bình luận, dày 300 trang và được xuất bản ngày 15/5/2011 tại Hoa Kỳ. Thật ra, cuốn sách có tựa đề đầy đủ: “Death by China: Confronting the Dragon – A Global Call to Action” (Chết bởi Trung Quốc - Ðương đầu với con Rồng - Lời kêu gọi Hành Ðộng Toàn Cầu). Cuốn sách đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt, và cộng thêm một bộ phim tài liệu, dựa vào cuốn sách cũng đã được trình chiếu.

Phần bản dịch tiếng Việt do Tiến sĩ Trần Diệu Chân dịch với tựa đề “Chết bởi Trung Quốc” và được giới thiệu lần đầu tiên tại Little Saigon, California, vào ngày 11/11/2012. Có rất nhiều bản dịch với tựa của cuốn sách mang tên khác nhau, chẳng hạn như “Chết dưới tay Trung Quốc”, “Chết vì Trung Quốc”… Chúng tôi dùng bản dịch của TS Chân để tham khảo.

“Dead by China” bản tiếng Anh

Trong “Lời nói đầu” giới thiệu cuốn sách, ông Đường Bách Kiều (Dang Baiqiao), Hiệu trưởng Đại học Dân Chủ, lãnh đạo phong trào sinh viên đòi dân chủ Thiên An Môn năm 1989, đã viết:

“Những năm cuối thập niên 80 (thế kỷ 20) là những năm mà Trung Quốc tràn đầy phấn kích và niềm hy vọng vì những tư tưởng mới của phương Tây như tự do cá nhân, kinh tế tư nhân đang lan tỏa mạnh mẽ và đầy sức sống, có tác dụng gột rửa vết nhơ do cuộc Cách mạng Văn hóa của Mao Trạch Đông gây ra.

Trong thời điểm tràn đầy niềm hy vọng, tôi đã cùng một số lãnh đạo sinh viên, học sinh kêu gọi cải cách chính trị, dùng tư duy mới của thế giới hiện đại để mang lại sự tôn nghiêm cho Trung Quốc. Tôi đã tổ chức diễn thuyết tại các trường học và quảng trường ở khắp nơi trên toàn quốc trong ngập tràn mong mỏi lãnh đạo tối cao Đảng Cộng sản Trung Quốc nghe theo chủ trương của chúng tôi.

Nhưng thảm kịch tại quảng trường Thiên An Môn ngày 4/6/1989 với những cỗ xe tăng đã nghiền nát phong trào của chúng tôi, những hình ảnh khủng bố chiếu trên truyền hình là minh chứng cho thảm kịch này…

(hết trích)

Theo ông Đường Bách Kiều, cuốn sách viết về Trung Quốc sẽ giúp độc giả hiểu được  những sự thật khó tintrong việc lãnh đạo Bắc Kinh duy trì áp chế tàn bạo tiếng nói của người dân Trung Quốc. Mặt khác, họ vẫn tung ra khắp thế giới những sản phẩm nguy hiểm “chết người”.

Chủ nghĩa bảo hộ và chủ nghĩa trọng thương của Trung Quốc đã hủy hoại nền kinh tế Mỹ nói riêng Phương Tây nói chung. Ngoài ra, thông qua mạng lưới gián điệp được tổ chức tinh vi, Bắc Kinh đã đánh cắp những kỹ thuật chiến tranh tân tiến nhất của Ngũ Giác Đài (Lầu Năm Góc) để nhanh chóng tự trang bị cho họ nhằm thực hiện mộng “bá quyền”.

Bức ảnh một thanh niên đơn độc trước đoàn xe tăng trong sự kiện Thiên An Môn năm 1989

“Dead by China” gồm 5 phần chính với 16 Chương, qua đó tác giả điểm lại một loạt các sự kiện, từ những chính sách thương mại – tiền tệ bị Trung Quốc lạm dụng, đến lao động nô lệ và các sản phẩm tiêu dùng đầu độc con người. Đó là những mối đe đọa rõ rệt đối với sự ổn định kinh tế toàn cầu và hòa bình thế giới.

Ngay ở phần đầu sách, Navarro khẳng định “Cuốn sách không nhằm việc đả kích hay chỉ trích Bắc Kinh vì đó là sự thật… họ là sát thủ tàn độc nhất hành tinh”. Bất chấp sự an toàn của người tiêu dùng, họ tung ra các sản phẩm “đầu độc hàng loạt” từ đồ chơi cho trẻ em đến những loại thực phẩm chúng ta… “đút vào mồm”.

“Trong khi đó, "thứ xảy ra ở Trung Quốc không ở lại Trung Quốc". Khi các nhà máy Trung Quốc tạo ra cơn lũ sản phẩm để chất lên giá các cửa hàng của Target và Walmart, các loại tro bụi ô nhiễm không khí cực kỳ độc hại của Trung Quốc cũng bay hơn 6.000 dặm theo các dòng khí đối lưu tầng trên khí quyển đến California, thả các chất thải độc hại xuống dọc đường đi.

“Ngày nay, phần lớn mưa acid ở Nhật và Hàn quốc là "Made in China", trong khi tỉ lệ ngày càng tăng các hạt bụi mịn phát hiện trong không khí các thành phố ở bờ biển phía Tây như Los Angeles cũng xuất phát từ các nhà máy của Trung Quốc….”

(hết trích)

Chúng tôi không Bán và Mua bất cứ thứ gì “Made in China”

Navarro phanh phui một sự thật “trần truồng” về xã hội Trung Quốc: “… Đảng Cộng sản cầm quyền cai trị không phải là một đảng "Cộng hòa Nhân dân" chân chính mà là một chế độ thần quyền thế tục. Trong khi Mác trở mình trong mồ và xác ướp Mao từ chiếc hòm pha lê của mình hướng cặp mắt đờ đẫn vào quảng trường Thiên An Môn, một bộ phận nhỏ dân số Trung Quốc trở nên giàu có cực kỳ dù cho một tỉ công dân Trung Quốc tiếp tục sống trong thế giới đói nghèo...”

Để dập tắt chống đối, đảng cầm quyền đã dựa vào công an và lực lượng bán quân sự với con số trên một triệu người. Mạng lưới theo dõi “kiểu Orwell” (*) cũng có khoảng 50.000 công an mạng. Các công an “thực” và “ảo” này không ngừng ngăn chặn và đàn áp những thế lực mà họ cho là “thù địch”.

“Ngay cả khi vô số cái chết dưới tay Trung Quốc diễn ra cả bên trong nước Cộng hòa Nhân dân này và ở những xưởng máy chết chóc trên khắp thế giới, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, nhà báo, và nhà chính trị Mỹ có quá ít để nói về nguy cơ lớn nhất, duy nhất đối mặt với nước Mỹ và thế giới.

“Trong lĩnh vực kinh doanh, một số công ty lớn nhất của Mỹ - từ Caterpillar và Cisco đến General Motors và Microsoft - đã hoàn toàn đồng lõa với chính sách "trước hết chia rẽ nước Mỹ và sau đó chinh phục nó" của Trung Quốc. Bi kịch ở đây là khi chủ nghĩa con buôn Trung Quốc bắt đầu tấn công ngành công nghiệp Mỹ vào cuối những năm 1990 - những ngành như đồ gỗ, dệt và may mặc - bắt đầu sụp đổ hết ngành này đến ngành khác…”.

(hết trích)

Đối với các dược phẩm, Trung Quốc cũng sản xuất cho thế giới đến 70% lượng penicillin, 50% lượng aspirin, và 33% lượng tylenol. Các công ty dược Trung Quốc cũng đã chiếm lĩnh phần lớn thị phần thế giới về kháng sinh, enzyme, các acid amin chính và vitamin tổng hợp.

Trung Quốc thậm chí đã thống lĩnh đến 90% thị phần thế giới về vitamin C, cùng lúc đó họ đang có vai trò áp đảo trong việc việc sản xuất các loại vitamin A, B12, và E, không kể nhiều loại nguyên liệu để sản xuất vitamin tổng hợp.

“Các số liệu thống kê này làm tất cả chúng ta lo lắng chỉ vì một lý do đơn giản: Một phần quá lớn các loại thuốc Trung Quốc đang tràn ngập các cửa hàng và siêu thị thuốc của chúng ta thực sự là chất độc. Đấy là lý do tại sao thực phẩm và dược phẩm Trung Quốc luôn được xếp hàng đầu trong các loại phải kiểm tra khi nhập vào biên giới hoặc bị trả về bởi cả cơ quan Quản lý Thực phẩm & Dược phẩm của Mỹ lẫn Cơ quan An toàn Thực phẩm châu Âu”.

Cho dù là do ngẫu nhiên hay cố tình, việc đầu tiên bạn cần biết cụ thể về cái Chết dưới tay Trung Quốc này là nó không phải dành riêng ai. Thật vậy, người Trung Quốc, dù là nông dân, ngư dân, nhà chế biến thực phẩm hay là người bán thuốc, đều có thể đầu độc chính người dân của họ y như họ đầu độc người Mỹ, người Châu Âu, người Nhật, người Hàn và tất cả những ai trên toàn thế giới dùng thực phẩm và thuốc của họ, trong đó có Việt Nam.

Để nếm thử chút ít vị “chua chát” trong câu nói trên, hãy tự đặt câu hỏi với đầu bếp Trung quốc: “Có gì trong chảo của anh thế?”. Câu trả lời là có tới 10% nhà hàng ở Trung Quốc sử dụng cái gọi là “dầu ăn bẩn" để nấu nướng.

“Dầu ăn bẩn là một hỗn hợp hôi hám của dầu đã qua sử dụng và chất thải thu được từ hố ga và cống rãnh từ các nhà bếp thương mại, chứa đầy nấm mốc độc aflatoxin gây ung thư gan. Những kẻ nhặt rác ở Trung Quốc lén lút bán thứ này cho nhiều nhà hàng với giá chỉ bằng một phần năm giá dầu đậu nành hay dầu lạc mới. Ngoài khả năng gây ung thư, cái hỗn hợp gồm dầu bị mốc với đủ loại thực phẩm bỏ đi này có thể là bản án tử hình bất ngờ cho bất kỳ ai bị dị ứng thực phẩm nặng”.

Câu chuyện “dầu ăn bẩn” này cho dù có thể làm chúng ta căm phẫn dù đã từng xảy ra tại Việt Nam. Tuy nhiên, so với chuyện những kẻ giết người hàng loạt melamine thì nó… chưa là gì cả.

“Những kẻ sát nhân” mang tên melamine đã “hạ gục” nhiều nạn nhân ngay trên đất Trung Hoa và phần còn lại của thế giới. Bản thân melamine là một hóa chất “có giá trị” khi chúng không bị lén lút cho vào thực phẩm.

“Kết hợp melamine với formaldehyde để sản xuất nhựa melamine, bạn sẽ có được một chất dẻo có độ bền cao dùng chế tạo các sản phẩm như formica và các bảng viết bằng bút xóa. Trộn với một số hóa chất khác, bạn có thể dùng melamine như một chất chống cháy, phân bón, hay là “phụ gia siêu dẻo” dùng trong bê tông cường độ cao. Thế nhưng thêm melamine vào các sản phẩm như thức ăn gia súc, sữa, hoặc sữa cho trẻ sơ sinh thì không còn cách nào nhanh hơn để hủy hoại hai quả thận trong người”.

Thế tại sao những doanh nhân Trung Quốc lại thêm melamine vào thực phẩm? Đó là vì hàm lượng nitrogen cao trong melamine có thể “nhái” mức protein cao trong thực phẩm. Sự giả mạo protein “kiểu Trung Quốc” do đó có thể đánh lừa các nhân viên kiểm tra thực phẩm chứ chưa nói gì đến người tiêu thụ. Vì melamine rất rẻ so với protein thật, nên điều này có nghĩa là rất nhiều tiền sẽ vào túi kẻ “bất nhân”, bất kể nhiều người có thể thiệt mạng.

Thế giới lần đầu biết đến việc giả mạo protein của Trung Quốc vào năm 2007, khi hàng chục ngàn chó và mèo ở châu Âu, Mỹ và Nam Phi bị chết vì loạt thức ăn nhiễm melamine. Thế cho nên, các du khách Trung Hoa ra nước ngoài thay vì “ngoạn cảnh” lại dành thì giờ xếp hàng tại các siêu thị để mua sữa mang về nước. Họ mất tin tưởng vào sữa “nội địa”!

Trung Quốc thu giữ 72.000 tấn sữa nhiễm melamine

Người Phương Tây có câu “An apple a day, keeps the doctor away” (Mỗi ngày một trái táo, bác sĩ sẽ tránh xa). Một quả táo ở Trung Quốc lại khác, ăn táo “xuất khẩu” từ Trung Quốc sẽ khiến cho các bác sĩ chuyên khoa ung thư có việc làm… cả đời.

“Hơn 30 năm qua, các nhà xuất khẩu nước táo cô đặc Trung Quốc đã tăng từ 10.000 gallon lên đến gần nửa tỷ gallon mỗi năm; và ngày nay Trung Quốc chiếm lĩnh hơn một nửa thị trường Mỹ. Điều chắc chắn là, giá của họ rẻ hơn giá của các nhà nông Mỹ. Nhưng có một lý do làm cho nó rẻ là vì các vườn cây Trung Quốc dùng rất nhiều các loại thuốc trừ sâu bất hợp pháp có chứa arsen để rồi thấm vào cây và cô đọng trong quả”.

Lai có một câu mà người ta hay nói “Mọi thứ trà đều là trà Tầu cả”. Đúng thế vì trà xuất xứ từ Trung Hoa từ ngàn xưa nhưng “trà Tầu” ngày nay được người Trung Quốc “chế biến” bằng cách phơi lá chè trên một cái sân kho rất rộng rồi dùng xe tải cán lên… “cho chóng khô”. Xe Trung Quốc dùng xăng pha chì nên không có cách nào hiệu quả hơn thế để biến lá chè thơm ngon trở thành một thứ vũ khí giết người!

“Câu chuyện thủy sản” Trung Quốc bắt đầu ở miền Đông Nam Hoa Kỳ, nơi mà trong những năm 90s việc nuôi cá da trơn miền Nam là một trong những câu chuyện thành công lớn của ngành thủy sản Mỹ. Thế rồi con rồng Châu Á bước vào.

Các doanh nghiệp Trung Quốc kiếm lợi nhuận bằng mọi trò lừa đảo trong kinh doanh, và các cơ sở nuôi thủy sản của Trung Quốc không phải là ngoại lệ. Thật vậy, bắt đầu vào những năm đầu của thế kỷ 21, dưới sự tấn công dữ dội của ngành xuất khẩu được trợ cấp của Trung Quốc, nhiều cơ sở nuôi trồng thủy sản Hoa Kỳ ở các tiểu bang như Louisiana, Mississippi và Alabama đã thực sự hoàn toàn biến mất.

“Ngày nay, Trung Quốc là nhà cung cấp thủy sản nuôi số một thế giới và chiếm lĩnh các thị trường cá da trơn, cá rô phi, tôm, và lươn. Tuy nhiên, các cơ sở nuôi trồng thủy sản Trung Quốc cho chúng ta một hình ảnh thôn quê không yên bình và không hòa hợp với thiên nhiên. Hơn thế nữa, họ còn tạo ra một cơn ác mộng của sự bẩn thỉu kinh người như dưới địa ngục”.

Sự “bẩn thỉu” của các cơ sở thủy sản bắt đầu bằng sự kiện chỉ có dưới một nửa đất nước Trung Hoa là có cơ sở xử lý nước thải. Vậy thì, cái cách thức mà những thứ do người thải ra này - cùng với không biết bao nhiêu thuốc trừ sâu, phân bón, bùn than, thuốc kháng sinh, thuốc nhuộm, và các chất gây ô nhiễm khác - tìm được đường đến bữa cơm tối ở nhà bạn. Đó là điều đáng để chúng ta suy nghĩ.

Nằm dọc sông Dương Tử, những thành phố lớn đang phát triển, chẳng hạn như Thành Đô và Trùng Khánh, đổ thẳng ra sông hàng tỷ tấn chất thải chưa qua xử lý từ người, động vật và cả chất thải công nghiệp. Đống độc hại này sau đấy lại có thêm thời gian để lên men và thối rữa khi dồn về hồ chứa đằng sau đập Tam Hiệp khổng lồ phía bên dưới Trùng Khánh.

Nuôi thủy sản tại Trung Quốc

Tin trên báo St. Louis Post-Dispatch: Bà Donnals đang ngồi trên hiên nhà bỗng nghe một tiếng nổ, kế theo sau là những tiếng la hoảng loạn. Quay nhìn con trai mình, Bryan, 6 tuổi, đang chạy về phía bà, quần áo trên người đang cháy, và ngọn lửa đang phun ra từ phía sau của ngôi nhà di động của gia đình Donnals.

Bryan đang chơi với chiếc xe địa hình ATV được chế tạo tại Trung Quốc … thì bất ngờ nó tăng tốc và lồng lên mất kiểm soát… Chiếc xe bốn bánh màu đỏ dung tích 110cc đã chút nữa đâm vào một bình khí propan trước khi đâm vào chiếc xe moóc và bốc cháy.

Chẳng có gì buồn cười về câu chuyện hãi hùng này. May thay, cậu bé Bryan đã sống sót sau khi bị phỏng nặng. Tuy nhiên, các bạn vẫn nên biết nhận xét hài hước hoàn toàn không cố ý của ông nội Bryan sau tai nạn bởi vì nó phản ánh tính dễ lãng quên hiện nay của quá nhiều khách hàng người Mỹ về mối đe dọa của “đồ rẻ tiền” Trung Quốc”.

Ông Tim Donnals, người đã mua chiếc xe cho đứa cháu đáng thương, nói: “Tôi đã không nghĩ rằng nó sẽ có thể nổ tung, nếu không tôi đã chẳng mua nó”. Quả thật như vậy. Từ nay trở đi bạn cần nhớ:

“Bất cứ khi nào bạn mua cái gì từ Trung Quốc, bạn phải lường trước về điều xấu nhất. Đó chính là vì các nhà sản xuất Trung Quốc có một lịch sử lâu dài về đồ rẻ tiền có thể nổ tung vào ban đêm hay ban ngày, bốc cháy và vỡ tan, gây chấn thương và đau đớn”.

Nạn nhân của đồ chơi Trung Quốc

Kể cũng lạ. Việt Nam vì còn nghèo nên chuộng “của rẻ”… nhưng một nước giàu như Hoa Kỳ cũng lại bị rơi vào cái bẫy “rẻ tiền” của hàng Trung Quốc. Tác giả Navarro phân tích như sau:

“Sở dĩ gian thương Trung Quốc không quan tâm đến yếu tố an toàn cho người tiêu thụ và các nhà sản xuất Trung Quốc không sợ bị trừng phạt. Có bị kiện ra tòa họ cũng được nhà nước Bắc Kinh bao che và nhất là rất khó theo đuổi một vụ kiện đòi bồi thường tại Hoa Kỳ hay tại Trung Quốc. Ngoài ra, cán bộ kiểm phẩm an toàn của Trung Quốc đã bị mua từ trên cao xuống đến thấp. Đây là bộ máy tham ô và tồi bại nhất thế giới”.

(Còn tiếp)

***

Chú thích:

* Tiểu thuyết "1984" của George Orwell viết năm 1948 mô tả một chế độ mà mọi cử chỉ và suy nghĩ của công dân đều bị theo dõi qua một mạng lưới bao trùm khắp mọi nơi, từ phòng ngủ ra đến quảng trường. (Xem thêm bài viết “Từ tương lai trở về… hiện tại” http://chinhhoiuc.blogspot.com/2017/04/tu-tuong-lai-tro-ve-hien-tai.html)

***

--> Read more..

Popular posts