Thứ Hai, 10 tháng 12, 2018

Tiếng còi tầu thời thơ ấu


“Những chiều nghỉ học, tôi hay tới,
Đón chuyến tầu đi, đến những ga.
Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt,
Lòng buồn đau xót nỗi chia xa”

(Tế Hanh)

Đó là tâm sự của nhà thơ Tế Hanh khi còn đi học. Tuổi thơ của tôi cũng có những gắn bó với tiếng còi tầu nhưng chắc chắn không thi vị như của nhà thơ thời tiền chiến.

Tôi cũng chẳng được trải qua “cái thú đau thương” khi nghe tiếng còi tầu trong bài hát “Five Hundred Miles” theo điệu dân ca của Mỹ. Đó là chuyện của một anh chàng nghèo “rớt mùng tơi” đi tha phương cầu thực trên một chuyến tầu xa nhà đến 500 dặm. Một bài hát buổn mà khi còn ở trung học tôi được thầy giáo tiếng Anh dậy hát:

“If you miss the train I’m on
You will know that I’m gone
You can hear the whistle blow
Five hundred miles” (1)

Có một bài thơ bằng tiếng Pháp, cũng lấy tựa đề “J'entends Siffler Le Train” nghe thật thống thiết:

“J'ai pensé qu'il valait mieux
Nous quitter sans un adieu
Je n'aurais pas eu le coeur de te revoir
Mais j'entends siffler le train
Que c'est triste un train qui siffle dans le soir”

(Anh nghĩ rằng lúc này
Là lúc mình chia tay
Không một lời từ biệt
Dẫu lòng buồn da diết
Tiếng còi tàu vang vang
Giữa bóng đêm bàng hoàng)

Nhạc Việt cũng có nhiều bài lấy chủ đề đường sắt. Chẳng hạn như bài “Chuyến tàu hoàng hôn” của Minh kỳ & Hoài Linh với những ca từ đi sâu vào lòng người:

“Chiều nao tiễn nhau đi khi bóng ngả xế tà.
Hoàng hôn đến đâu đây màu tím dâng trong hồn ta.
Muốn không gian đừng tan, níu đôi chân thời gian
ngừng trôi cho giây phút chia ly này kéo dài.
Trước khi phân kỳ, ước sao cho tàu đừng đi” (2)

Xe lửa & sân ga: Một đề tài phong phú

Năm 1953 gia đình tôi rời Hà Nội để vào Đà Lạt vì ông cụ thân sinh phục vụ trong Ngự Lâm Quân của vua Bảo Đại. Khi đó, Đà Lạt còn được gọi là “Hoàng triều Cương thổ”, đất của nhà vua! Gia đình chúng tôi mua một căn nhà trên lưng chừng đồi, rất gần với ga Đà Lạt.

Kiến trúc của ga Đà Lạt được xếp vào loại đẹp nhất Đông Dương với hình ảnh ba ngọn núi Lang Bian trên cao nguyên Lâm Viên. Hai kiến trúc sư người Pháp, Moncet và Reveron, đã xây dựng trong khoảng thời gian 6 năm, từ năm 1932 đến năm 1938.

Ga Đà Lạt (hình chụp năm 1948)

Toàn quyền Đông Dương, Paul Doumer, phê duyệt đường sắt từ Tháp Chàm (Tourcham) lên Đà Lạt vào năm 1908. Vì địa hình đồi núi phức tạp trên cao nguyên lắm dốc cao nên phải xây dựng thêm “đường răng cưa” (cog railway) ở giữa. Đây cũng là một trong những tuyến đường sắt răng cưa đầu tiên của thế giới.

Nhân công xây dựng đường sắt vào thời đó chỉ có người Thượng sinh sống trên cao nguyên. Ở Mỹ, những người đi làm đường sắt đầu tiên là người Á Đông, đa số là người Tầu. Dù ở Việt Nam hay ở Mỹ, công nhân đường sắt là những người chịu nhiều gian khổ nhất với đồng lương ít ỏi nhất.

Công trình xây dựng đường sắt răng cưa với những công nhân người Thượng

Trên tuyến đường sắt Tháp Chàm - Đà Lạt có 3 vị trí phải làm hệ thống đường ray có móc răng cưa, cộng thêm 5 vị trí phải làm đường hầm xuyên qua núi. Tổng cộng công trình xây dựng này mất 30 năm để hoàn hoàn thành 84 cây số đường xe lửa từ Phan Rang lên Đà Lạt.

Khi tàu chạy đến gần đoạn răng cưa, lái tàu giảm tốc độ, khởi động giàn bánh răng ở đầu tàu, cho móc vào đường ray răng cưa nằm giữa 2 thanh ray rồi khóa hệ thống bánh răng. Bánh răng của đầu máy bám chặt vào răng cưa đường ray để tàu leo dốc hoặc xuống dốc một cách an toàn, không bị trơn trượt.

Tuyến đường sắt răng cưa Đà Lạt - Tháp Chàm xuyên qua đồi núi

Mới 8 tuổi tôi đã được nghe tiếng còi tầu rúc lên trong từng chuyến tầu Đà Lạt – Tháp Chàm đi và đến sân ga. Thật ra, từ vị trí căn nhà không thể nhìn thấy sân ga nhưng đoạn đường tầu dẫn vào ga chạy ngay trước mắt. Nhìn sang bên kia thung lũng là con đường sắt và gần đó còn thấy bóng dáng Biệt điện Mộng Điệp, thứ phi của Bảo Đại.

Mỗi sáng, khoảng 8 giờ là chuyến tầu rời ga để trực chỉ Tháp Chàm. Buổi chiều, độ 4 giờ, tầu từ Tháp Chàm về Đà Lạt. Tiếng còi tầu rúc lên tựa như chiếc đồng hồ báo sinh hoạt hằng ngày của mọi người. Riêng đối với bọn trẻ chúng tôi, tất cả đều ngưng mọi cuộc chơi đùa để ngắm nhìn con tầu xình xịch lướt qua bên kia thung lũng.  

Đôi khi chúng tôi dơ tay lên vẫy một cách bâng quơ và cũng có khi người trên tầu vẫy lại. Những chuyến tầu qua lại trở thành quen thuộc đến độ thân thương. Có những ngày tầu từ Tháp Chàm về trễ vì những trục trặc dọc đường… bỗng thấy lòng tự nhiên nôn nao như thiếu một cái gì đó.

Căn nhà thời thơ ấu đối diện với đường tầu phía bên kia thung lũng

Trục trặc kỹ thuật trên đường tầu không nhiều nhưng trục trặc vì phá hoại vẫn thường xảy ra. Chính phủ VNCH đã thành lập một tiểu đoàn mang tên “An ninh Thiết lộ” để bảo vệ đường sắt khi hoạt động phá hoại đường của “Mặt trận Giải phóng niền Nam” bắt đầu.

Toa xe đặc biệt được trang bị súng trung liên và đại liên, được tổ chức thành từng trung đội gồm 3 xe. Ba nhiệm vụ chính của các toa xe là: (1) tản thương; (2) cứu viện đoàn tầu bị phục kích; và (3) tuần tiễu trên thiết lộ vào ban đêm.

Sau 1975, đường sắt Đà Lạt – Tháp Chàm ngưng hoạt động. Các đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước được nhập từ Thụy Sĩ nằm hoang phế trên sân ga Đà Lạt và Tháp Chàm. Số phận của các đường ray cũng không kém phần bi đát: được tháo dỡ để trở thành sắt vụn.

Đầu máy xe lửa bỏ hoang trên sân ga Đà Lạt

Tất cả chỉ còn là hoài niệm về tiếng còi tầu của tuổi thơ. Gần đây, những ký ức đó lại trở thành một niềm nuối tiếc của cả đất nước khi Thụy Sĩ đề nghị mua lại những đầu máy xe lửa cũ để tân trang làm phương tiện phục vụ khách du lịch tại đèo Furka.

Các kỹ sư Thụy Sĩ đã đến tận nơi hoang phế để khảo sát những “phế tích”. Họ cẩn thận, hay đúng hơn là “nâng niu”… đống sắt vụn lâu nay vẫn nằm trơ gan cùng tuế nguyệt. Đầu máy xe lửa được di chuyển về trạm Sóng Thần, rồi ra Cảng Sài Gòn để vượt đại dương “tái hồi Thụy Sĩ” trong chiến dịch được mệnh danh là “Back to Switzerland”

Trên xe tải có cờ Việt Nam & Thụy Sĩ với tấm badrole “Back to Switzerland”

Tại Thụy Sĩ, từng chi tiết được các kỹ sư và công nhân tái tạo để bảo đảm đúng nguyên mẫu ban đầu. Và câu chuyện cũng đi đến đoạn kết “có hậu”: những đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước đã hoạt động trở lại để phục vụ khách du lịch.

Dĩ nhiên đầu máy xe lửa “trông bắt mắt” hơn hẳn những ngày nằm lăn lóc như những đống sắt vụn phế thải tại Việt Nam. Khách du lịch chắc ít người biết được chúng đã từng tung hoành trên đường sắt tại Việt Nam.

Đối với những người (tạm coi như đã gắn bó với tiếng còi tầu thời thơ ấu như tôi), chuyện đường xe lửa Tháp Chàm – Đà Lạt lại có một đoạn kết “vô hậu” chứ không phải là… có hậu!

Biết trách ai bây giờ?

Đầu máy xe lửa chuẩn bị vượt đèo Furka sau nhiều năm lưu lạc tại Việt Nam

***

--> Read more..

Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2018

Trường Sinh ngữ Quân đội

Đây là một photo album đặc biệt. Robert Landro là một cựu một cựu chiến binh người Mỹ đã từng phục vụ tại Việt Nam từ năm 1970 đến 1972. Landro thuộc Không lực Hoa Kỳ, anh được biệt phái làm giảng viên trường Sinh ngữ Quân đội (SNQĐ) tại căn cứ Tân Sơn Nhất.

Năm 1971 là thời điển “Việt-Nam-hóa” chiến tranh, quân đội Mỹ từ từ rút khỏi VN. Tuy nhiên, họ có chương trình huấn luyện tiếng Anh căn bản cho một số quân nhân Việt Nam để những quân nhân này tiếp tục du học Hoa Kỳ về các ngành chuyên môn trong quân đội.

Cũng vì sự quá tải của các học viên nên trường SNQĐ phải mở thêm nhiều chi nhánh huấn luyện cho Hải-Lục-Không quân. Trường sinh ngữ nơi Landro dạy nằm trong phi trường Tân Sơn Nhất, trước đó khu này được gọi là “Tent City” vì chỉ là những lều vải dã chiến dành cho quân nhân. Mãi đến năm 1971 mới được xây dựng thành một ngôi trường khang trang như những hình Landro chụp.

Tôi dạy tại các chi nhánh Nguyễn Văn Tráng (dành cho sinh viên sĩ quan Không quân) và sau đó là chi nhánh Phan Thanh Giản (dành cho Hải Quân) nên những tấm hình Landro chụp tại TSN đối với tôi là hoàn toàn chưa hề được xem. Cũng như Micheal Burr (xem bài viết “Đồng ngũ, Đồng nghiệp, Đồng tuế…” tại https://chinhhoiuc.blogspot.com/2017/11/ong-ngu-ong-nghiep-ong-tue.html) Robert Landro là giảng viên tôi cũng chưa từng gặp trong thời kỳ chiến tranh. Riêng Micheal, mãi sau này mới có dịp hội ngộ khi anh trở lại Việt Nam dưới màu áo dân sự.

Photo album này được giới thiệu với sự đồng ý của Landro với những captions trong hình là của chính tác giả. Đây cũng là một bộ sưu tập quý hiếm về một nét của Sài Gòn xưa. Các bạn có thể truy cập trang Facebook của Robert Landro tại:

***

Đây là toàn cảnh của trường SNQĐ tại Tân Sơn Nhất. Tòa nhà bên phải là các lớp học


. Tòa nhà điều hành và phía sau là những lớp học đang được xây dựng. Trường gồm 3 khối lớp học khá đồ sộ. 


Sau khi tốt nghiệp tại trường, rất nhiều khóa sinh được gửi đi du học tại Hoa Kỳ để tiếp tục được đào tạo về chuyên môn quân sự.


Cận ảnh phía bên ngoài các lớp học.


Trường mới bắt đầu hoạt động từ mùa hè năm 1971.


Một ngày tương đối bận rộn trong sinh hoạt tại nhà trường.


Hành lang ngoài các lớp học khá rộng và các học viên đến thụ huấn Anh văn thuộc đủ mọi binh chủng.


Một khóa sinh Không quân.


Trường mới đang trong giai đoạn hoàn chỉnh.


Trong hình là những giảng viên người Mỹ đến trường bằng xe buýt của quân đội. Họ phải mang theo vũ khí (sùng M-16) đến lớp nhưng đạn để riêng. Trong hình người lính mang băng đạn phía bên tay trái. 


Đây là xe buýt quân đội (chúng tôi gọi là “MACV bus”). Hàng ngày, xe buýt chở giảng viên từ MACV Annex nơi chúng tôi ở để đến trường.


Trường SNQĐ ở ngay bên cạnh khu sinh hoạt của các học viên Không quân trong phi trường Tân Sơn Nhất.


Trường hoạt động 2 buổi, từ Thứ hai đến Thứ bảy. Buổi sáng từ 7g đến trưa và buổi chiều từ 1g đến 6g.


Một trạm gác bảo vệ trường.


 Giảng viên người Mỹ thường nói đùa với nhau: nếu VC tấn công trường, chúng tôi sẽ giao súng M-16 cho khóa sinh Không quân, họ là những người chỉ được trang bị súng carbine M-1!


Đây là cổng vào trường có lính gác và bao cát bảo vệ.


Mỗi lớp học có 8 bàn gỗ xếp theo hình vòng cung. Có ghế dài và một ghế dành cho giảng viên.


Mỗi lớp học có hai cửa số trông ra phía ngoài.


Tuy điều kiện sinh hoạt không được tươm tất nhưng các khóa sinh vẫn chăm chỉ học tập.



Bãi giữ xe đầy mầu sắc tại trường.


Bãi giữ xe dành cho các học viên Bộ binh được hưởng chế độ ngoại trú.


Trường có một căng-tin (snack bar) dành cho các giảng viên người Mỹ, phục vụ bánh donuts, sữa tươi và nước ngọt (không được uống bia).


Căng-tin dành cho học viên ở phía sau trường, phục vụ các món mì, phở, nước ngọt và lúc nào cũng có cà phê đá!


Tôi cũng thường vào căng-tin này với các học viên… tại đây chúng tôi thoải mái thực tập tiếng Anh ngoài lớp học.


Đây là phòng hành chánh của trường.



Vào tháng 9/1971 tôi phụ trách các lớp thuộc trình độ trung cấp & cao cấp tại Trường Sinh ngữ Quân đội.


Đây là một lớp học gồm toàn sĩ quan Bộ binh mà tôi đảm nhận trước khi về nước, ngày 14/1/1972.


Giảng viên Doug Thompson thuộc Không quân Hoa Kỳ. Anh là một người ăn nói nhỏ nhẹ và luôn tỏ ra kính trọng các sĩ quan Không quân VN.


.Đại diện Viện Ngữ học Hoa Kỳ (Defense Language Institute - DLI), Tom Hudak, đang chuyện trò với mội sĩ quan Việt Nam.  


Giảng viên Bill Weiershauser đang dạy học trong lớp.


Ngoài những cố vấn quân đội, trường còn có cố vấn dân sự thuộc Viện Ngữ học Hoa Kỳ (Defense Language Institute - DLI).


Trường còn có Giảng viên Dân chính người Việt.


Một giảng viên người Việt.


Giảng viên người Mỹ và các sĩ quan khóa sinh Không quân người Việt.


Khóa sinh sĩ quan Không quân.


Trường có phòng lưu trữ băng ghi âm thu sẵn. Giảng viên có thể mượn băng đem về lớp để học viên nghe.


Danh sách khóa sinh trong một lớp học.


Một số sĩ quan cơ hữu người Việt tại trường SNQĐ.


Vào cuối tuần, trường thường tổ chức các cuộc thi giải trí giữa các khóa sinh. Đây là cuộc thi lái xe máy… người đi chậm nhất sẽ thắng cuộc!


Một cuộc thi chạy bộ.


Giảng viên và các khóa sinh đều là khán giả các cuộc thi giải trí.


Huấn luyện giảng viên người Việt ngay tại trường. Họ là những sĩ quan thuộc đủ mọi binh chủng có trình độ Anh văn được tuyển về đây trong chương trình “Pre-Service Training” trước khi đi học tại Hoa Kỳ.


Một vài khuôn mặt giảng viên người Việt tại trường SNQĐ.


Khuôn mặt giảng viên trẻ


Giảng viên Tom Peckins và các sĩ quan chuẩn bị làm giảng viên.


Những phút vui vẻ của giảng viên Việt – Mỹ trong giờ nghỉ.


Giảng viên Tom Peckins và những chuẩn úy giảng viên mới được tuyển về từ trường Bộ binh Thủ Đức.


Những sĩ quan được tuyển về trường từ các đơn vị.


Thiệp chúc Tết của trường SNQĐ


Tượng đài Kỷ niệm Chiến tranh Việt Nam (Vietnam War Memorial) tại Arlington, Texas. Tượng được khánh thành ngày 25/10/2015.

***

* Tham khảo thêm bài viết "Hồi ức về trường Sinh ngữ Quân đội" tại https://chinhhoiuc.blogspot.com/2012/09/hoi-uc-ve-truong-sinh-ngu-quan-oi.html,

***  

















































--> Read more..

Popular posts