Thứ Năm, 21 tháng 9, 2017

Một sự tình cờ kỳ lạ

20/09/2017

Hôm qua, Giáo sư Bùi Dương Chi gọi điện thoại cho biết ông về Việt Nam được mấy hôm và ông cũng vừa đi Vũng Tàu về. Ông hẹn sẽ đi xe ôm đến nhà tôi chơi để hàn huyên sau thời gian xa cách.   

Giáo sư Chi là thầy cũ dậy tôi môn Anh văn hồi thập niên 60 tại trường Trung học Ban Mê Thuột. Thầy trò chỉ hơn nhau có vài tuổi nhưng cái tình đó rất sâu đậm. Ông đã viết trong “Thay lời bạt” cuốn “Hồi ức Ban Mê”, xuất bản tại Hoa Kỳ nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập trường:

“Tôi rất hân hạnh nhận lời giới thiệu người viết vì kể từ niên khóa 1963-1964 đến nay [2016] chúng tôi đã giữ mối liên hệ thầy trò, thân hữu và chuyên nghiệp được 51 năm. Thầy trò vì tôi dạy Chính môn Anh văn sinh ngữ phụ lớp 11 và 12. Thân hữu vì chúng tôi hơn kém nhau 7 tuổi, có nhân sinh quan khá tương đồng và có chung mấy sở thích như viết lách, dịch thuật, trau dồi kiến thức phổ thông, du khảo, đờn ca, v.v…

“Hơn nữa, còn có thêm một cơ duyên độc đáo là Chính dậy má tôi tiếng Anh trong cuối thập niên 80 sau khi má tôi được thả và trở vào Nam sau gần 13 năm tù vì tội “gián điệp, phản động” ở ngoài Bắc”.

(hết trích)

Người mẹ mà thầy Chi nói đến là nhà văn Thụy An, nhũ danh Lưu Thị Yến. Người mà tôi đã có một bài viết mang tên “Nhân văn – Giai phẩm: nhà văn Thụy An”. Bài viết này đã đăng trên Blogspot, năm 2012 (http://chinhhoiuc.blogspot.com/2012/09/nhan-van-giai-pham-nha-van-thuy-an.html).

Ngày 20/09/2016 tôi đã post bài này trên Facebook và hôm nay, 20/09/2017, FB đã nhắc lại sự kiện này. Như vậy, quả là có sự tình cờ trong cùng một thời điểm (tháng 9/2017) đã diễn ra giữa chuyện thầy Chi, mẹ của thầy, nhà văn Thụy An và bài viết về nhà văn Thụy An.

Kỳ lạ hơn nữa là thầy Chi đi cùng vài người ban ở Pháp ra Vũng Tàu. Đối với thầy, việc ra Vũng Tàu không phải là một chuyến du lịch vì ông ra biển là để tưởng niệm người mẹ. Bà Thụy An trước khi lìa đời có ước nguyện được hỏa táng và phần tro cốt đem rải xuống biển. Gia đình đã làm đúng nguyện vọng của bà. Và người con của bà năm nay ra biển, thả xuống vài cánh hoa để tưởng niệm người đã khuất.

Như các bạn đã đọc trong bài viết đã dẫn, cuộc đời của nhà văn Thụy An là một thiên truyện “có một không hai” của một người phụ nữ can trường trước số phận của định mệnh. Theo tôi, nổi bật nhất là việc hủy hoại một con mắt trong thời gian giam cầm để chỉ “nhìn đời bằng một con mắt”. Quản giáo hồi đó vẫn thường gọi bà bằng cái tên đầy tính miệt thị: “An Chột”.

Cách đây đã lâu, nhà phê bình văn học Thụy Khê ở Pháp có liên lạc với tôi để tìm hiểu về những ngày cuối cùng của bà Thụy An. Tôi tình thật trả lời:

“Những gì tôi biết về bà đã giãi bày qua bài viết và những người có trách nhiệm còn nợ bà một lời xin lỗi vì tất cả những người trong nhóm Nhân văn – Giai phẩm ngày nào đều đã được “minh oan”, phục hồi danh dự. Chỉ duy nhất có bà Thụy An là không ai đếm xỉa gì!”.

Viết những dòng này tôi chỉ muốn kể lại “một sự tình cờ kỳ lạ” về những diễn biến xoay quanh thầy Chi, mẹ thầy, nhà văn Thụy An và bài đăng trên Facebook. Tất cả được diễn ra vào những ngày cuối tháng 9/2017!


***

Tác phẩm của nhà văn Thụy An: "Một linh hồn"


Truyện ngắn: "Bốn mớ tóc"


Thủ bút của nhà văn Thụy An

Bình luận trên Facebook


Bình luận trên Facebook


Bình luận trên Facebook

***








--> Read more..

Thứ Ba, 19 tháng 9, 2017

Thư từ bên kia thế giới

Em yêu,

Anh đã được thông báo có đồ “thăm nuôi” em gửi. Ở dưới này sao cũng giống như ngày xưa anh đi học tập: đồ đạc thăm nuôi đều được tập trung và chờ giải quyết. Anh dùng chữ “dưới này” để tránh dùng chữ “âm phủ” (một từ ngữ mà anh cho rằng người đời trên đó đã dùng một cách miệt thị).

Đúng ra thì đây là cả một “thế giới”. Khác hẳn với cái thế giới mà anh và em đã sống nhưng giờ thì chỉ còn mình em trên đó. Cuộc chia ly nào cũng cũng tan nát, đau lòng và cuộc chia tay giữa anh và em lại còn bi thảm hơn. Cái ngày anh bị chiếc xa tải cán là một kỷ niệm vừa đau, vừa buồn mà mỗi lần nhớ lại anh thấy tê tái cõi lòng.

Anh còn nhớ ở Việt Nam có lệ cúng cô hồn. Cũng nhờ ngày này, người sống nhớ đến người đã ra đi bằng các gửi “hàng mã” với hy vọng họ sẽ nhận được quà để an ủi. Đó cũng là một nhịp cầu nối giữa hai thế giới.

Về tinh thần, cúng cô hồn là dịp thể hiện tấm lòng của người còn sống. “Nghĩa tử là nghĩa tận” nên mọi tị hiềm, ghen tuông, bất mãn, chán chường khi sống với nhau đều không còn được nhắc đến trong việc “thăm nuôi” đó. Một nghĩa cử đáng… “trọng thị”.

Về vật chất, “hàng mã” cho người cõi âm không khác gì mấy so với dương trần. Cũng tiền bạc, nhà lầu, xe hơi cho đến những vật dụng hàng ngày như bộ quần áo để mặc, hình nhân để “thủ thỉ”, điện thoại thông minh để gọi bạn bè hay lướt Net. Nhưng, anh lại nghĩ, đó chỉ là hình thức biểu lộ tình cảm một cách… “tiêu cực”.

Nếu dư giả “tiền thật” để mua “hàng mã” anh sẽ không phản đối việc em làm. Tuy nhiên, đối với những người còn chật vật trong cuộc sống “cơm, áo, gạo, tiền” thì đó lại là điều “không tưởng”, vô lý và nói một cách thẳng thắn là… “vô ích”.

Nghĩ đến nhau và nhờ đến nhau mới là điều đáng quý, còn cho nhau những của cải, vật chất bằng những món “hàng mã” chỉ là một sự phí phạm trong lúc còn phải tất bật với cuộc sống trên dương thế.

Cuộc sống ở cõi âm không phức tạp như thế giới em đang sống. Khi chết, người ta không mang theo những cái mình đã có ở cái thế giới của người sống. Dù là “đại gia” hay ông “quan tham” với biệt phủ, nhà lầu xe hơi, quyền cao chức trọng khi bước ra khỏi thế giới của người sống cũng chỉ mang theo hai bàn tay trắng!

Anh không triết lý xa vời. Anh cũng không mơ tưởng đến một tương lai sán lạn ở kiếp sau. Giờ này anh chỉ nghĩ làm thế nào bức thư này đến được tay em là điều “vĩ đại” nhất.

Thư anh cũng là nỗi lòng của những người đã trở thành “đa số thầm lặng”. Đó là thế giới của người chết.

Thăm em và các con.


***








***
--> Read more..

Thứ Bảy, 16 tháng 9, 2017

Chuyện cũ... Chuyện mới

Ba năm về trước, nhân ngày Tình Nhân 14/2, tôi có một chuyện cực ngắn:

“Người đàn bà thì thầm: “Anh phải gắng nhớ những lời em dặn. Số tiền tháng này em gởi để anh tiêu vặt. Đừng khư khư cái tật dành dụm như ngày xưa. Cứ tiêu pha thoải mái, hết em chuyển nữa. Em cũng gởi thêm vài tờ báo để anh đọc lúc nhàn rỗi. Cái điện thoại di động đời mới này là quà Tết của em. Mong anh sẽ thích. Anh phải giữ gìn sức khỏe.

“À, con bé hôm trước em mướn về có được việc không? Em biết anh thui thủi một mình, không người chăm nom săn sóc, không ai trò truyện sớm hôm, mà em thì lại chưa thể sống hẳn bên cạnh anh. Em cứ sợ anh buồn. Nay em lại mướn thêm một đứa nữa cho nhà có thêm người ra người vào. Hai đứa sẽ thay em chăm sóc anh nên em cũng yên lòng phần nào…”

Và đây là đoạn kết của câu chuyện:

“NGƯỜI ĐÀN BÀ NGỒI TRƯỚC NGỌN LỬA VỪA THỦ THỈ VỪA ĐỐT XẤP TIỀN, ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG, CHỒNG BÁO CŨ VÀ CẢ HÌNH NHÂN MỚI MUA TỪ... PHỐ HÀNG MÃ VỀ”.

Hàng mã

Tiền "âm phủ"

Năm nay, nhân dịp cúng cô hồn xin thêm một chuyện mới. Chuyện này nghe được cũng tại phố Hàng Mã giữa người bán hàng và kẻ mua.

Chị mua hàng mới về đi… điện thoại di động đời mới… iPhone 7 Plus
- Không biết mới quá người dùng có biết sử dụng không?
- Ối dào, cái ông Steve Jobs cũng đã xuống định cư dưới đó rồi, có gì ông ấy sẽ chỉ cho!
- Ờ nhỉ. Như vậy là chắc cũng có hệ thống bảo hành dưới đó. Thế chị có earphone không?
- Có đủ cả… ngay cả cái kim để tháo sim cũng có.
- Thế đã có iPhone X chưa?
- Mới ra nên chưa kịp có hàng, chừng một tháng nữa chắc có!
- Chu đáo thật! Chị bán cho tôi đủ bộ iPhone 7 Plus để khỏi mất công gửi hai lần. Ông xã tôi tính vậy nhưng cũng kỹ lưỡng lắm. Thiếu món nào là ông ấy không chịu đâu.


THẾ LÀ BÀ VỢ ĐEM TIỀN THẬT MUA HÀNG MÃ MÀ TRONG LÒNG CẢM THẤY VUI VÌ ĐÃ LO CHO CHỒNG KHÔNG THIẾU THỨ GÌ Ở CÁI NƠI MÀ NGƯỜI TA GỌI LÀ... XỨ THIÊN ĐÀNG.

Toàn "hàng hiệu"... có cả iPhone

Phố Hàng Mã, Hà Nội

***

--> Read more..

Thứ Năm, 7 tháng 9, 2017

Về bộ phim “The Vietnam War” của PBS (*)

PBS (Public Broadcasting Service), tạm dịch là "Dịch vụ Truyền thông Công cộng", cho biết ngày 17/9/2017 sẽ trình chiếu trên toàn nước Mỹ bộ phim “The Vietnam War” do hai nhà làm phim Ken Burns và Lynn Novick thực hiện. Đây là bộ phim gồm 10 phần với tổng thời lượng 18 tiếng.

Hình ảnh trích từ  phim “The Vietnam War”

Các nhà làm phim phải mất mười năm thu thập tài liệu và phỏng vấn gần 80 nhân chứng gồm những người Mỹ đã tham chiến tại Việt Nam hoặc những người phản chiến. Bên cạnh đó là những người Việt thuộc “bên thắng cuộc” và “bên thua cuộc”. 

Thông báo của PBS cho biết chi tiết: “Năm tập đầu sẽ được phát sóng liên tục các tối từ Chủ Nhật, 17/9 cho đến Thứ Năm, 21/9; và năm tập cuối sẽ được phát sóng liên tiếp các tối từ Chủ Nhật 24/9 đến Thứ Năm 28/9. Mỗi tập sẽ lên sóng lúc 8 giờ tối, múi giờ miền đông và sẽ được phát lại ngay sau lần ra mắt”.

Hình ảnh trích từ  phim "The Vietnam War" 
khi quân đội Hoa Kỳ đổ bộ lên Đà Nẵng năm 1965

Đạo diễn Ken Burns đã từng nổi tiếng vào năm 1990 với phim “The Civil War” (Cuộc Nội Chiến) và cho đến nay, ông đã thực hiện hơn 20 bộ phim lịch sử cho điện ảnh Hoa Kỳ. Điều đó chứng tỏ ông là một nhân tài trong điện ảnh nhưng người xem phim của ông đã có những phản ứng trái chiều.

Bình luận trên tờ “New York Times”, cây bút Jennifer Schuessler viết về “The Vietnam War”: “Cuốn phim 30 triệu đô la với hơn 10 năm dàn dựng đã đem lại cho người xem nhiều suy nghĩ từ những góc nhìn đa chiều của “lớp bụi chính trị độc hại” (toxic policical dust). Kể cả những nhân vật người Việt thuộc phe thắng cũng như thua”.

Theo Jennifer Schuessler, hai nhà làm phim đã đề ra một số quy tắc cho cuốn phim: không phỏng vấn các sử gia và những nhân vật nổi tiếng. Những người như John Kerry, John McCain, Henry Kissinger và Jane Fonda chỉ xuất hiện trong phim qua những hình ảnh thời sự. Chính nhà làm phim kể lại là những nhân vật đó muốn được phỏng vấn nhưng Burns từ chối một cách khéo léo.

Thay vào đó, có 79 cuộc phỏng vấn những nhân vật “đời thường”. Họ là các cựu quân nhân Mỹ, kể cả những cựu tù binh chiến tranh. Họ là những người mẹ, những người phản chiến. Họ cũng là những cựu du kích Việt Cộng, những người trong hàng ngũ quân đội miền Bắc và miền Nam, kể cả một phụ nữ lái xe trên đường mòn Hồ Chí Minh.

Nói chung, bộ phim được dàn dựng một cách tỉ mỉ. Theo bình luận trên “New York Times”, ở Phần 4 thuật lại giai đoạn “tiền-chiến-tranh” người xem cảm thấy bất ngờ vì 6 tập sau, kéo dài suốt 7 năm, đã làm nước Mỹ mất đi hơn 58.000 quân và con số tử vong về phần người Việt là hơn 3 triệu người. Họ bao gồm các lực lượng tham chiến của hai miền và cả người dân vô tội.


  Nhà làm phim Ken Burns và Lynn Novick

Trước ngày trình chiếu, PBS đã tổ chức một buổi thảo luận với sự tham gia của một cử tọa hơn 200 người. Trong số người tham dự chỉ có 2 người Mỹ gốc Việt là ông Nguyễn Ngọc Sáng và một nữ bác sĩ tên Quyên Huỳnh.

Trên danh nghĩa là một người trong ban Điều hành Thảo luận (discussing panel) ông Sáng cho biết:

“Tôi rất áy náy, nhưng quyết định nhận lời vì nghĩ rằng đây là cơ hội để nói lên quan điểm của Người lính VNCH về Chiến tranh Việt Nam. Tôi lên đường vì ý niệm đó dù biết sẽ không dễ dàng, nhất là ngôn ngữ”.

Tại sao lại “áy náy”? Ông Sáng giải thích:

“Sau phần trình chiếu, họ hỏi mỗi người trong Ban Điều hành Thảo luận một câu. Trong phim có một cựu chiến binh Bắc Việt, tên Bảo Ninh được phỏng vấn, và ông nói rằng trong cuộc chiến tranh Việt Nam KHÔNG có người thắng (no vinners). Người điều khiển chương trình hỏi tôi nghĩ gì về ý kiến nầy?

“Trước khi trả lời, tôi trình bày nhận định rằng muốn biết ai thắng, ai thua phải biết ít nhất ba điều căn bản: (1) mục tiêu tham chiến của các bên, (2) sự tổn thất mà họ trả giá, (3) và đánh giá trên tổng thể do cuộc chiến gây ra.

Ông Nguyễn Ngọc Sáng trong buổi giới thiệu phim

“Kết luận sau cùng của tôi với cử toạ là cả hai phía người Việt đều là kẻ thua, nhất là dân tộc Việt Nam là người thua trong cuộc chiến tranh ủy nhiệm của người cộng sản do Hồ Chí Minh, người cộng sản quốc tế, thực hiện sứ mạng trên sự đau xót vô vàn của dân tộc, làm kiệt quệ đất nước và tạo vết thương lịch sử dù 42 năm rồi vẫn chưa lành và không biết có cơ hội nào để lành vết thương dân tộc nầy.

“Một cử toạ hỏi tôi về hậu quả tâm lý hiện tại của cuộc chiến, tôi chỉ đơn giản trả lời "bên thắng cuộc vẫn coi bên thua cuộc là kẻ thù cho dù chiến tranh đã chấn dứt 42 năm rồi".

Và ông Sáng đưa ra một câu kết luận về “The Vietnam War”:

“Đây là bộ phim phản ảnh một phía, trình bày phân nửa sự thật, không xứng đáng bỏ thời giờ xem. Điều nầy tôi đã viết trên Yahoo, nhưng 15 phút sau bị gỡ xuống. Hy vọng Burns và Novick sẽ đọc và nhìn lại vấn đề, nếu họ muốn trình bày một số khía cạnh thật về chiến tranh Việt Nam”.

Cử tọa tham dự buổi giới thiệu phim

Về phần người Việt xem phim chắc chắn sẽ có những ý kiến trái chiều. Đó là điều tất nhiên không thể tránh khỏi. Chúng ta hãy đợi đến ngày bộ phim được công chiếu ở Hoa Kỳ. 

Just wait and see.

Quảng cáo của phim "The Vietnam War"

***

Chú thích:

(*) PBS là mạng truyền thông công cộng, được thành lập từ năm 1969. Mạng lưới gồm 349 đài truyền hình thành viên ở Hoa Kỳ, bao gồm một số đài truyền hình cáp ở Canada.

PBS bắt đầu truyền hình vào ngày Thứ Hai, 5/10/1970 trên danh nghĩa là một tổ chức bất vụ lợi. Tuy nhiên, các hoạt động của PBS được tài trợ bởi “Corporation for Public Broadcasting” (CPB), một tổ chức riêng do chính phủ liên bang cấp vốn. Trụ sở chính của PBS ở Thành phố Crystal, Virginia.

“The Vietnam War” là một trong ba bộ phim tìm hiểu về những cuộc chiến của nước Mỹ do hãng Florentine  Films sản xuất. Khởi đầu là phim tạo dấu ấn lịch sử của đạo diễn Burns, “The Civil War” (Cuộc Nội Chiến)  sản xuất năm 1990, sau đó là bộ phim  về Chiến Tranh Thế Giới lần thứ 2,  “The War” (Cuộc chiến), gồm 7 phần do Burns và Novick  sản xuất  năm 2007.

“The Vietnam War” sẽ được phát hành trên đĩa Blue-ray và DVD vào ngày 17/9/2017 qua hệ thống phân phối của PBS tại shopPBS.org. Đi kèm với đĩa DVD và Blue-ray là một chương trình giới thiệu tóm tắt dài 45 phút về bộ phim, và hai phần đặc biệt về cuộc sống hiện tại của hai nhân vật trong phim và một số cảnh bị cắt bỏ.  Khán giả có thể tải bộ phim từ internet về xem.

***

* Xem trailer phim “The Vietnam War”:


***


--> Read more..

Thứ Năm, 31 tháng 8, 2017

“Tự sướng”… bằng tay hay bằng gậy?

Khoảng hơn 20 năm về trước, sẽ là điều phạm đến “thuần phong mỹ tục” và cũng là “không tưởng” khi ai đó đặt câu hỏi: “Tự sướng”… bằng tay hay bằng gậy?”. Hồi đó từ ngữ “tự sướng” ám chỉ một hành động tự tìm khoái cảm qua việc thủ dâm! Làm sao ai dám đặt một câu hỏi quá trắng trợn đến như vậy?

Thế mà bây giờ, tại Việt Nam, xuất hiện danh từ “tự sướng” dùng trong ngữ cảnh hàng ngày với ý nghĩa vừa thật “vô hại” lại vừa “vô tư”, không ngượng miệng. Tôi vốn là người chậm thích nghi với những ngôn ngữ “thời thượng” nên khi dùng “tự sướng” theo nghĩa các bạn trẻ dùng hàng ngày vẫn cảm thấy ngượng miệng vô cùng!

Ngôn ngữ ngày nay dùng “tự sướng” với ý nghĩa tự hài lòng với thành tích mình đạt được hay còn đi xa hơn nữa với việc “tự sướng” với chiếc điện thoại di động có thể chụp hình. Chả thế mà những chiếc điện thoại này được mệnh danh là “thông minh” nên người ta có thể “tự sướng” với nó.

“Tự sướng” xuất phát từ “selfie” trong tiếng Anh với ý nghĩa tự chụp ảnh cho mình mà không cần người khác giúp. Bạn có thể selfie mọi lúc (từ lúc thức dậy cho đến khi lên giường ngủ), mọi nơi (từ chỗ công cộng cho đến chốn riêng tư). Sự tiến bộ của khoa học giúp con người có nhiều lựa chọn để sống theo ý thích của mình.

Chiếc iPhone ngày nay cho tới 2 ống kính: 1 camera chụp những hình ảnh trước mặt và cái camera kia, đặc biệt là dùng cho selfie với ống kính chĩa thẳng về phía người cầm máy. Thế là ta “tự sướng” với chiếc điện thoại thông minh bằng cách tự chụp hình mình.

iPhone dùng công nghệ Bluetooth để chụp hình

Có điều hơi “phiền” đối với những người tay ngắn. Họ chỉ có thể đưa máy lên ở một khoảng cách rất gần với khuôn mặt nên tấm hình selfie luôn là hình “close-up”. Gần quá đâm ra méo mó, không đẹp.

“Think tanks” của các nhà sản xuất liền nghĩ ra cách hóa giải khuyết điểm này. Họ chế ra “selfie stick”, còn được gọi là “monopod”, mà tiếng Việt ngày nay gọi là “Gậy Tự Sướng”! Sở dĩ có tên “monopod” là vì trước đây đã có “tripod” (chân ba càng dùng cho chụp ảnh và quay phim giữ máy cố định và tránh rung). Vậy thì, “monopod” là “chân một càng”, hay là “cánh tay nối dài” của người chụp selfie!

“Gậy Tự Sướng”

Thế là “selfie stick” trở thành “mốt” cho cả một thế hệ trẻ đương thời đến độ báo Time đưa nó vào danh sách “25 phát minh trong năm 2014”. “Gậy tự sướng” làm mưa làm gió khắp mọi nơi. Với cái gậy này, bạn có thể tự chụp hình mình giữa khung cảnh hùng vĩ của thác nước Niagara (Mỹ) hay chụp tháp Effeil ở Pháp, sông nước ở Venice (Ý) hay vịnh Hạ Long tại Việt Nam.

“Tự sướng” dưới chân tháp Eiffel

Du khách tự chụp hình với “selfie stick”

Selfie dưới nước

Người ta ca tụng “selfie stick” là “chiếc gậy thần kỳ” có thể ghi lại hình ảnh của chính mình hay cả nhóm người mà không cần người ngoài chụp hộ. Người lữ hành cô đơn vẫn có những bức ảnh của mình tại những nơi không có người để nhờ chụp.

Selfie với cả nhóm

Có điều lạ là chiếc gậy tự sướng là phát minh từ châu Á chứ không phải từ Phương Tây. Năm 1983, hãng máy hình Minolta (Nhật bản) được coi là có ý tưởng đầu tiên về “selfie stick” để giúp người tự chụp hình chân dung qua ống kính thứ hai. Chiếc gậy này đã được ghi trong “101 những phát minh của Nhật” năm 1995.  

Tổng thống Hoa Kỳ, Barrack Obama, cũng cười sung sướng khi “tự sướng” với tấm hình chụp ông đang sử dụng cây gậy trong Tòa Bạch Ốc. Khách sạn “The Four Seasons” tại Houston còn sẵn sàng cung cấp “selfie stick” cho khách nếu có yêu cầu. Giá một cây gậy này từ 5 cho đến 50 đô la, tùy theo chất lượng sản phẩm và hãng chế tạo.

Tổng thống Barrack Obama vui vẻ với “chiếc gậy tự sướng”

Vào thời điểm “selfie stick” thịnh hành, đi đâu cũng thấy nó. Cũng vì quá phổ biến nên dần dần người ta thấy cây gậy mang lại nhiều nguy hiểm tiềm ẩm. Một số nước bắt đầu cấm sử dụng nó ở những nơi công cộng.

Tháng 11/2014, chính phủ Đại Hàn đã ban hành hướng dẫn về việc bán “gậy hỗ trợ tự chụp ảnh sử dụng công nghệ bluetooth để kích hoạt máy ảnh”. Qua đó, người kinh doanh loại sản phẩm này nếu chưa được kiểm tra về chất lượng có thể bị phạt 30 triệu won (tương đương với 27.000 đô hay 567 triệu đồng) hoặc nặng hơn nữa là ngồi tù 3 năm.

Selfie ở Đại Hàn

Ở Anh, hai câu lạc bộ bóng đá Arsenal và Tottenham Hotspur đã cấm đem “gậy tự sướng” vào sân vì hai lý do: cây gậy này có thể dùng làm vũ khí bạo động và đồng thời chụp ảnh bằng “selfie stick” sẽ ảnh hưởng đến những người khác trên sân.

Selfie trên sân vận động

Tháng 6/2015, Disneyland ở Orlando, Florida, tuyệt đối cấm sử dụng “selfie stick” khi khách bước lên “Big Thunder Mountain Railroad” vì trước đó đã có những tai nạn khi khách dùng “gậy tự sướng” trên những những “roller coasters” với tốc độ chóng mặt. Disney World và Disneyland Resort cũng cấm dùng “selfie stick” khi tham gia các trò chơi “cảm giác mạnh”.

Bảng cấm sử dụng “Gậy tự sướng”

Cuối cùng cũng xin nói thêm mặt “tiêu cực” của “selfie stick”. “Gậy tự sướng” một khi lọt vào tay những kẻ “biến thái” sẽ trở thành một công cụ “tự sướng” theo đúng nghĩa nguyên thủy của từ ngữ này. Có những bức hình chụp dưới váy của các bà, các cô bằng “selfie stick” gây bất bình với nhiều người. Đó là những kẻ bệnh hoạn, một cách “thủ dâm” bằng hình ảnh!

Một cách sử dụng “gậy tự sướng” của những kẻ “biến thái”


***
--> Read more..

Thứ Hai, 28 tháng 8, 2017

Đọc lại lịch sử qua hai tác phẩm của học giả Trần Trọng Kim

Lệ Thần Trần Trọng Kim (1883-1953) là một sử gia thời cận đại. Người ta biết đến ông qua tác phẩm chính “Việt Nam sử lược” gồm 5 Phần: (1) Thượng Cổ thời đại; (2) Bắc Thuộc thời đại; (3) Tự Chủ thời đại; (4) Nam Bắc Phân Tranh thời đại; và (5) Cận Kim thời đại.

Trong vai trò của nhà viết sử, Trần Trọng Kim đã cố gắng kể lại những “thời đại” mà Việt Nam đã trải qua, từ thời Thượng cổ, khởi đầu từ nước Âu Lạc, đến thời cận kinh dưới triều vua Gia Long. Bằng một giọng văn, có thể nói là “trung thực” của người chép sử, ông đã cho người đọc, vốn là những kẻ hậu sinh, có một cái nhìn tổng quát về những giai đoạn lịch sử.

Học giả Trần Trọng Kim (1883-1953)

Phần Tựa của “Việt Nam sử lược” tác giả đã nêu lên quan điểm của một nhà sử học:   

“Sử là sách không những chỉ để ghi chép những công việc đã qua mà thôi, nhưng lại phải suy xét việc gốc ngọn, tìm tòi cái căn nguyên những công việc của người ta đã làm để hiểu cho rõ những vận hội trị loạn của một nước, những trình độ tiến hóa của một dân tộc. Chủ đích là để làm cái gương chung cổ cho người cả nước được đời đời soi vào đấy mà biết cái sự sinh hoạt của người trước đã phải lao tâm lao lực những thế nào, mới chiếm giữ được cái địa vị ở dưới bóng mặt trời này”.

Ngược dòng thời gian, mãi đến thế kỷ thứ 13, nước ta đời nhà Trần mới có lịch sử dưới hình thức ghi chép các sự kiện quan trọng của các đời vua theo lối “biên niên sử” của Trung Hoa. Lối ghi chép đó, theo Trần Trọng Kim, thiếu hẳn sự giải thích nguyên nhân cùng những hậu quả của sự việc.

Vấn đề ở đây là “công tâm” của người viết sử khi kể lại chuyện lịch sử. Mà đã là con người thì cái vòng “tham, sân, si” luôn luôn chi phối, đối sừ gia đó cũng không phải là ngoại lệ. Thế cho nên, hậu thế khi đọc sử cần có sự sáng suốt trong việc đánh giá một sử gia.

“Việt Nam Sử Lược” (bản in trước năm 1975)

Có điều chắc chắn, một người viết sử, không ít thì nhiều, luôn bị những tình cảm và chính kiến chi phối khi kể lại. Trần Trọng Kim nhận xét về lịch sử và trình độ hiểu biết về sử của người Việt ngày xưa:

“Sử của mình đã không hay, mà người mình lại không mấy người biết sử. Là vì cái cách học tập của mình làm cho người mình không có thể biết được sử nước mình. Bất kỳ lớn nhỏ, hễ ai cắp quyển sách đi học thì chỉ học sử Tàu,chứ không học sử nước nhà. Rồi thơ phú văn chương gì cũng lấy điển tích ở sử Tàu, chứ chuyện nước mình thì nhất thiết không nói đến. Người mình có ý lấy chuyện nước nhà làm nhỏ mọn không cần phải biết làm gì. Ấy cũng là vì xưa nay mình không có quốc văn, chung thân chỉ đi mượn tiếng người, chữ người mà học, việc gì cũng bị người ta cảm hóa, chứ tự mình thì không có cái gì là cái đặc sắc, thành ra thật rõ như câu phương ngôn: "Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng!" Cái sự học vấn của mình như thế, cái cảm tình của người trong nước như thế, bảo rằng lòng vì dân vì nước mở mang ra làm sao được?”

“Việt Nam Sử Lược” (bản in sau năm 1975)

Nếu “Việt Nam sử lược” được coi là “chính sử” thì tác phẩm thứ hai, “Một cơn gió bụi”, lại được nhiều người đọc gọi là “hồi ức lịch sử”. Khi nói đến “hồi ức” người ta liên tưởng đến những biến cố mà chính tác giả có dự phần.

Tác phẩm thứ hai của Trần Trọng Kim lấy bối cảnh là nước Việt Nam từ năm Quý Mùi (1943) đến năm Mậu Tý (1948). Tác giả kể lại những biến cố trong suốt thời gian được mô tả là “gió bụi” trong suốt cuộc đời của mình. Đó cũng là giai đoạn mà nước Việt trải qua một xung đột ý thức hệ chính trị mới, từ đó dẫn đến cuộc chiến tranh Việt Nam với sự tham gia của hai khối Tư Bản và Cộng Sản. Viết về Việt Minh, sử gia Trần Trọng Kim giải thích:

“Ðảng Việt Minh là gì và do đâu mà ra. Trước thì ít người biết rõ căn nguyên, sau đi đây đó xét hỏi kỹ càng mới biết rõ nguồn gốc. Thoạt đầu vào khoảng năm 1938 ở bắc việt đã nghe nói có đảng Việt Minh hành động ở mạn thượng du, nhưng lúc ấy ai cũng tưởng là một đảng cách mệnh mới nào đó nên không để ý đến mấy.

“Nguyên từ khoảng 1925-1926 trở đi, ở Việt Nam đã có người nói đến chủ nghĩa cộng sản. Lúc ấy có một thiếu niên tên Nguyễn Tất Thành, sinh năm 1894, con nhà thi lễ, quê làng Kim Liên huyện Nam Ðàn thuộc tỉnh Nghệ An. Trước học trường trung học ở Huế rồi bỏ sang Pháp theo Xã Hội Ðảng, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc.

“Sau lại sang Nga vào đảng Cộng Sản, đến khoảng 1929-1930 ông trở về gây phong trào cộng sản cách mệnh ở vùng Nghệ Tĩnh. Lúc ấy chính phủ bảo hộ Pháp dùng võ lực đàn áp một cách tàn nhẫn. Việc ấy thất bại, đảng cộng sản tuy phải im hơi lặng tiếng, nhưng vẫn ngấm ngầm tuyên truyền trong đám dân gian và thợ thuyền, theo đúng phương pháp đã định ở Mạc Tư Khoa bên Nga.

“Trong khoảng thời gian ấy, Nguyễn Ái Quốc lánh sang Hương Cảng, bị người Anh bắt. Người Pháp muốn đòi người Anh giao trả cho chính phủ Ðông Dương, song theo tục lệ Anh, người Anh không giao trả những người can phạm vào việc chính trị, vì vậy ông phải giam ít lâu rồi được tha và bị đuổi ra khỏi Hương Cảng.

“Ông Nguyễn Ái Quốc sang Quảng Châu và phao tin rằng ông đã chết trong ngục khi bị bắt ở Hương Cảng, và lại đổi tên là Lý Thụy rồi chen lẫn với những người cách mệnh Việt Nam ở bên Tàu. Vào khoảng 1936-1937 ông lập ra đảng cộng sản gọi là Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh, gọi tắt là Việt Minh, và cho người về hoạt động ở miền thượng du Bắc việt. Vì vậy thuở ấy người ta mới biết là có đảng Việt Minh.

“Ðến cuối năm 1940 nhân khi quân Nhật Bản ở Quảng Tây đánh vào Lạng Sơn, những người như bọn ông Trần Trung Lập trong đảng Việt Nam Quang Phục Hội của ông Phan Bội Châu lập ra khi trước, theo quân Nhật về đánh quân Pháp hồi tháng chín năm 1940. Sau vì người Nhật ký hiệp ước với người Pháp rồi trả lại thành Lạng Sơn cho người Pháp, ông Trần Trung Lập bị quân Pháp bắt được đem xử tử. Toán quân phục quốc vỡ tan, có một số độ 700 người, trong số ấy có độ 40 nữ đảng viên theo ông Hoàng Lương chạy sang Tàu.

“Vậy các đảng của người Việt Nam ở bên Tàu vào khoảng năm 1942 trở đi, có Việt Nam Phục Quốc Ðồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Ðảng và những người cách mệnh không có đảng phái v...v...

(hết trích)

“Một cơn gió bụi” (bản in sau và trước 1975)

Chính phủ Trung Hoa thấy những đảng viên Việt Minh có khuynh hướng theo chủ nghĩa cộng sản nên ra lệnh giải tán và bắt Lý Thụy giam trong hang đá ở Liễu Châu. Mặt khác, họ ra lệnh cho tướng Trương Phát Khuê tập hợp các đảng phái cách mệnh Việt Nam lập thành một đảng để hành động cho có hệ thống. Trương Phát Khuê giao cho ông Hoàng Lương trù liệu việc ấy.

Ngày 1/10/1942, tại Liễu Châu, ông Hoàng Lương tập họp các nhà cách mệnh để thành lập một đảng lấy tên “Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội”, gồm đại biểu các đảng
Việt Nam Phục Quốc Ðồng Minh Hội (Hoàng Lương và Hồ Học Lãm), Việt Nam Quốc Dân Ðảng ( Vũ Hồng Khanh và Nghiêm Kế Tổ). Bên cạnh đó còn các thành phần “không đảng phái” gồm các ông Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần, Trần Báo, Trương Trung Phụng. Số phận của Lý Thụy (người sau này có tên Hồ Chí Minh) được Trần Trọng Kim tiết lộ như sau:

“Lúc ấy Lý Thụy còn phải giam, ủy ban trừ bị đứng ra bảo đảm với chính phủ Trung Hoa, xin lĩnh ra để cùng làm việc. Theo lời một người Việt Nam có mặt trong hội nghị ấy đã nói: Lý Thụy có kết nghĩa với một người cộng sản Tàu tên là Hầu Chí Minh, làm chức thiếu tướng trong quân đội thuộc quyền chỉ huy của Trương Phát Khuê. Khi ở nhà ngục ra, ông muốn tỏ tình thân ái với bạn mới lấy tên là Hồ Chí Minh. Khi ông được tha ra, liền tuyên thệ xin hết lòng trung thành với Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội mà làm việc”.

Nhật báo Điện tín loan tin Đế quốc Việt Nam độc lập năm 1945

Thời điểm nổi bật trong cuộc đời “chính trị bất đắc dĩ” của nhà viết sử họ Trần là lúc ông đứng ra thành lập chính phủ năm 1945 trong tình trạng Pháp và Nhật đang tranh dành ảnh hưởng tại Việt Nam. Trước đó, tiên sinh đã rời đất nước để sang “tị nạn” tại “Chiêu Nam Đảo” mà ngày nay là đất nước Singapore. Từ Singapore ông lại đi xe lửa về Bangkok, Thái Lan,  và cuối cùng là về Huế để thành lập chính phủ theo yêu cầu của Vua Bảo Đại với sự hỗ trợ của người Nhật.

“Một cơn gió bụi” ghi lại những cảm tưởng về Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, qua cuộc hội kiến lần đẩu tiên tại Huế:

“Từ trước tôi không biết vua Bảo Ðại là người như thế nào. Vì trong thời bảo hộ của nước Pháp, hình như ngài chán nản không làm gì cả, chỉ săn bắn và tập thể thao. Hôm mùng 7 tháng tư tôi vào yết kiến thấy có vẻ trang nghiêm và nói những điều rất đúng đắn.

“Ngài nói: “Trước kia nước Pháp giữ quyền bảo hộ nước ta, nay đã không giữ được nước cho ta, để quân Nhật đánh đổ, vậy những điều trong hiệp ước năm 1884 không có hiệu quả nữa, nên bộ thượng thư đã tuyên hủy hiệp ước ấy. Trẫm phải đứng vai chủ trương việc nước và lập chính phủ để đối phó với mọi việc.“

“Tôi tâu rằng: “Việc lập chính phủ, ngài nên dùng những người đã dự định từ trước, như Ngô Ðình Diệm chẳng hạn, để có tổ chức sẵn sàng. Tôi nay thì phần già yếu bệnh tật, phần thì không có đảng phái và không hoạt động về chính trị, tôi xin ngài cho tôi về nghỉ.“

“Ngài nói: “Trẫm có điện thoại gọi cả Ngô Ðình Diệm về, sao không thấy về.“

“Tôi tâu: “Khi tôi qua Sài gòn, có gặp Ngô Ðình Diệm và ông ấy bảo không thấy người Nhật nói gì cả. Vậy hoặc có sự gì sai lạc chăng. Ngài cho điện lần nữa gọi ông ấy về. Còn tôi thì xin ngài cho ra Bắc”.

“Ngài nói: “Vậy ông hãy ở đây nghỉ ít lâu, xem thế nào rồi hãy ra Bắc.“

“Lúc ấy tôi mệt nhọc lắm, và có mấy người như bọn ông Hoàng Xuân Hãn đều bảo tôi trở lại. Tôi chờ đến gần mười ngày. Cách độ ba bốn hôm tôi lại đi hỏi ông tối cao cố vấn Nhật xem có tin gì về ông Diệm chưa. Trước thì cố vấn Nhật nói chưa biết ông Diệm ở đâu, sau nói ông Diệm đau chưa về được. Ðó là lời tối cao cố vấn, chứ tự ông Diệm không có điện riêng xác định lại.

“Vua Bảo Ðại thấy tình thế kéo dài mãi cũng sốt ruột, triệu tôi vào bảo tôi chịu khó lập chính phủ mới. Ngài nói: “Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.“

“Tôi thấy vua Bảo Ðại thông minh và am hiểu tình thế, liền tâu rằng: “Nếu vì quyền lợi riêng tôi không dám nhận chức gì cả, xong ngài nói vì nghĩa vụ đối với nước, thì dù sao tôi cũng cố hết sức. Vậy xin ngài cho tôi vài ngày để tôi tìm người, hễ có thể được tôi xin tâu lại.“

“Tôi ra bàn với ông Hoàng Xuân Hãn để tìm người xứng đáng làm bộ trưởng. Nguyên tắc của tôi định trước là lựa chọn những người có đủ hai điều kiện. Một: phải có đủ học thức và tư tưởng về mặt chính trị, hai: phải có đức hạnh chắc chắn để dân chúng kính phục”.

(hết trích)

Vua Bảo Đại ở Hồng Kông năm 1948 sau khi chấp nhận sống lưu vong

Cuối cùng, nội các Trần Trọng Kim cũng ra mắt đồng bào ngày 17/04/1945 với thành phần gồm một giáo sư, hai kỹ sư, bốn bác sĩ và bốn luật sư. Nhà sử học, nhà giáo và là “nhà chính trị bất đắc dĩ” Trần Trọng Kim tiết lộ trong hồi ức của mình:

“Có một điều nên nói cho rõ, là trong khi tôi chọn người lập chính phủ lúc ấy, người Nhật Bản không bao giờ hỏi tôi chọn người này người kia. Tôi được hoàn toàn tự chủ tìm lấy người mà làm việc. Và tôi đã định từ trước rằng nếu người Nhật can thiệp vào việc trong nước thì tôi thôi ngay, không làm nữa”.

Nội các Trần Trọng Kim có danh sách cụ thể như sau:
-       Nội các Tổng trưởng: giáo sư Trần Trọng Kim;
-       Nội vụ Bộ trưởng: y sĩ Trần Ðình Nam;
-       Ngoại giao Bộ trưởng: luật sư Trần Văn Chương;
-       Tư pháp Bộ trưởng: luật sư Trịnh Ðình Thảo;
-       Giáo Dục và Mỹ Nghệ Bộ Trưởng: toán học thạc sĩ Hoàng Xuân Hãn;
-       Tài Chánh Bộ Trưởng: luật sư Vũ Văn Hiền;
-       Thanh Niên Bộ Trưởng: luật sư Phan Anh;
-       Công Chính Bộ Trưởng: kỹ sư Lưu Văn Lang;
-       Y tế Bộ trưởng: y khoa bác sĩ Vũ Ngọc Anh;
-       Kinh tế Bộ trưởng: y khoa bác sĩ Hồ Bá Khanh;
-       Tiếp tế Bộ trưởng: cựu y sĩ Nguyễn Hữu Thi.

Tiếc thay, nội các “Đế quốc Việt Nam” của học giả Trần Trọng Kim chỉ tồn tại hơn 4 tháng, từ ngày 17/04 đến 25/08/1945. Tuy nhiên, có 4 điều đặc biệt mà nội các này đã thực hiện: (1) Lập lại quốc hiệu Việt Nam; (2) Dùng tiếng Việt làm quốc ngữ và Việt hóa giáo dục; (3) Đòi lại Nam kỳ (Cochinchine) để thống nhất lãnh thổ; và (4) Soạn hiến pháp nhấn mạnh tự do và độc lập.

Điểm yếu của nội các là chưa có đủ thời gian cần thiết để thành lập Quốc hội, chưa có quân đội và chưa được nước nào công nhận ngoài Đế quốc Nhật Bản. Nội các này, sau hơn 4 tháng đã tan rã khi bị Việt Minh “cướp chính quyền”. Đây là cụm từ không mang tính miệt thị, mà trái lại Việt Minh rất tự hào khi thừa nhận họ đã “cướp chính quyền”!  

Nội các Trần Trọng Kim

“Một cơn gió bụi” có đoạn viết về đảng Việt Minh thời 1945, khi đó đang hoạt động mạnh, trong khi lính bảo an ở các địa phương bị Việt Minh tuyên truyền, tuy chưa theo hẳn, nhưng không chống cự nữa. Trần Trọng Kim viết:

“Dân gian bấy giờ rất hoang mang, một đường có chính phủ quốc gia, nhưng vì thời gian eo hẹp, chưa kịp sắp đặt gì cả. Công việc thấy có nhiều sự khốn khó mà thường nghe sự tuyên truyền của Việt Minh, nói họ đã có các nước Ðồng Minh giúp đỡ cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập. Dân ta từ khi bị người Pháp sang cai trị, cứ khao khát độc lập, nay nghe Việt Minh nói thế, lại nghe nói đảng Việt Minh lên cầm quyền, dân không phải đóng thuế nữa, được hoàn toàn tự do và có nhiều hạnh phúc, thành ra ai cũng tin theo. Ngay những đạo thanh niên tiền tuyến do bộ Thanh Niên lập ra, cũng có ý ngã về Việt Minh”.

Trong một lần tiếp xúc với một cán bộ Việt Minh, người này đã khẳng định với Thủ tướng Trần Trọng Kim: “Chúng tôi sẽ cướp lấy quyền để tỏ cho các nước Ðồng Minh biết chúng tôi mạnh, chứ không chịu để ai nhường”. Cụm từ “cướp chính quyền” đã trở thành sự thật khi Nhật Bản đầu hàng vì hai quả bom nguyên tử. Diễn biến lịch sử được nhà sử học thuật lại như sau:

“Vua Bảo Ðại gọi tôi vào nói: "Trong lúc rối loạn như thế này, các ông hãy lập ra lâm thời chính phủ để đợi xem tình thế biến đổi ra sao đã". Tôi bất đắc dĩ phải tạm ở lại. Lâm thời chính phủ vừa làm việc mấy ngày, ông Phan Kế Toại điện vào xin từ chức. Lúc ấy bọn ông Nguyễn Xuân Chữ, Trần Văn Lai xin lập Ủy Ban Cứu Quốc. Chính phủ nhận lời.

“Cách hai ngày sau, ngày 19/8, các công chức ở Hà Nội nghe bọn Việt Minh xúi tổ chức cuộc biểu tình. Ðảng Việt Minh nhân cơ hội ấy chiếm lấy Bắc Bộ. Ðược mấy ngày ông Hồ Chí Minh về làm chủ tịch chính phủ lâm thời. Các đoàn thể thanh niên và các người trí thức ở bắc bộ điện vào Huế xin vua Bảo Ðại thoái vị và nhường cho Hồ Chí Minh.

“Trong tình thế nguy ngập như thế, ở Huế còn có người bàn sự chống cự. Tôi muốn biết rõ sự thực, liền gọi trung úy Phan Tử Lăng người đứng coi đoàn thanh niên tiền tuyến ở Huế, hỏi xem có thể trông cậy bọn ấy được không. Trung úy Trương Tử Lăng nói: "Tôi có thể nói riêng về phần tôi thì được. Còn về phần các thanh niên tôi không dám chắc".

“Bọn thanh niên tiền tuyến trước rất nhiệt thành nay còn thế, huống chi những lính bảo an và lính hộ thành tất cả độ vài trăm người; những lính để canh giữ công sở, súng ống không ra gì, đạn dược không đủ, còn làm gì được, cũng bị Việt Minh tuyên truyền xiêu lòng hết cả rồi. Lúc ấy chỉ còn cách lui đi là phải hơn cả.

“Tôi vào tâu vua Bảo Ðại: "Xin ngài đừng nghe người ta bàn ra bàn vào. Việc đã nguy cấp lắm rồi, ngài nên xem lịch sử của vua Louis XVI bên Pháp và vua Nicholas II bên Nga mà thoái vị ngay là phải hơn cả. Vì dân ta đã bị bọn Việt Minh tuyên truyền và đang hăng hái về việc cách mệnh như nước đang lên mạnh, mình ngăn lại thì vỡ lở hết cả. Mình thế lực đã không có, bọn Việt Minh lại có dân chúng ủng hộ, nên để cho họ nhận lấy trách nhiệm bảo vệ nền độc lập của nước".

“Vua Bảo Ðại là ông vua thông minh, hiểu ngay và nói: "Trẫm có thiết gì ngôi vua đâu, miễn là bọn Việt Minh giữ được nền tự chủ của nước nhà là đủ. Trẫm muốn là người dân của một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ".

“Nhờ ngài có tư tưởng quảng đại nên có tờ chiếu thoái vị. Khi tờ chiếu ấy tuyên bố ra, nhân dân có nhiều người ngậm ngùi cảm động, nhưng lúc ấy phần tình thế nguy ngập, phần sợ hãi, còn ai dám nói năng gì nữa. Ðến bọn thanh niên tiền tuyến, người chính phủ tin cậy cũng bỏ theo Việt Minh, bọn lính hộ thành của nhà vua cũng không nghĩ đến nữa. Còn các quan cũ lẫn nấp đâu mất cả. Thật là tình cảnh rất tiều tụy. Nếu không mau tay lui đi, tính mệnh nhà vua và hoàng gia chưa biết ra thế nào.

“Lúc bấy giờ người Nhật có đến bảo tôi: "Quân đội Nhật còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân Ðồng Minh đến thay. Nếu chính phủ Việt Nam công nhiên có lời mời quân Nhật giúp, quân Nhật còn có thể giữ trật tự". Tôi nghĩ quân Nhật đã đầu hàng, quân Ðồng Minh sắp đến, mình nhờ quân Nhật đánh người mình còn nghĩa lý gì nữa, và lại mang tiếng "cõng rắn cắn gà nhà". Tôi từ chối không nhận.

“Sau thấy những người ở ngoài không biết rõ tình thế nói: lúc ấy giá chính phủ không lui vội, tìm cách chống cự lại, Việt Minh không làm gì được, vì họ không có binh lực gì cả. Về đường binh lực, lúc ấy Việt Minh không không có gì thật. Nhưng cái phương lược của họ đánh bằng tuyên truyền, bằng lối quỉ quyệt lừa dối để lôi kéo dân chúng đi theo, chứ không đánh bằng binh khí. Sự tuyên truyền của họ đã có ngấm ngầm từ lâu trước khi quân Nhật đảo chính chứ không phải bây giờ mới có. Mình đem một vài trăm người trông cậy được ra chống với mấy vạn người toàn thanh niên thuyền thợ và đàn bà trẻ con, lại có những người Việt Minh táo tợn đứng sau lưng xui khiến, chống sao được? Chẳng qua chỉ gây một cuộc đổ máu vô ích, cốt chỉ bảo cho Việt Minh chớ có cướp phá. Mình đã mở cửa mời họ còn đánh phá gì nữa. Lúc bấy giờ chúng tôi nghĩ: họ đã thắng thế, dù sao họ cũng lo đến sự kiến thiết của nước nhà, nên chúng tôi mong ít có sự phá hại.

(hết trích)

Thế là Việt Minh “cướp chính quyền”, vua Bảo Ðại thoái vị, và ông Trần Trọng Kim ra ở nhà đã thuê từ trước tại làng Vĩ Dạ gần Huế. Ðược mấy ngày, Việt Minh vào đưa vua Bảo Ðại, bấy giờ gọi là công dân Vĩnh Thụy, ra làm Tối Cao Cố Vấn ở Hà Nội để dễ quản thúc.

Người dân một phần vì tuyên truyền của Việt Minh, một phần vì không nắm rõ tình hình nên có thái độ coi chính phủ non trẻ của ông Trần Trọng Kim là “bù nhìn” do người Nhật sai khiến.

Chính vua Bảo Ðại khi “lưu vong” ở Hồng Kông có nói chuyện với một phóng viên của một tờ báo bên Pháp: "Người Nhật thấy chúng tôi cương ngạnh quá, tỏ ý tiếc đã để chúng tôi làm việc".

Về sau, khi vua Bảo Đại gặp lại Trần Trọng Kim tại Hồng Kông, vị vua cuối cùng của triều Nguyễn đã nói một câu chua chát: “Chúng mình một già một trẻ mắc lừa bọn du côn” với hàm ý đã nghe lời tuyên truyền của Việt Minh.   

Hồ Chí Minh và “công dân” Vĩnh Thụy

Để kết thúc bài viết này về sử gia Trần Trọng Kim, chúng tôi xin trích một đoạn nói lên nỗi lòng của ông:

“Cuộc đời của tôi đi đến đấy đối với người ngoài cho là thật hiu quạnh, song tự tôi lại thấy có nhiều thú vị hơn là những lúc phải lo toan làm công việc nọ kia, giống như người đóng tuồng ra sân khấu, nhảy múa nhọc mệt rồi hết trò, đâu lại vào đấy. Ðàng này ngồi yên một chỗ, ngắm rõ trò đời và tự mình tỉnh sát để biết cái tâm tình của mình. Tôi nhớ lại câu cổ nhân đã nói:

"Hiếu danh bất như đào danh, đào danh bất như vô danh". Muốn có danh không bằng trốn danh, trốn danh không bằng không có danh”.

***

Tham khảo:



***
--> Read more..

Popular posts