Thứ Ba, 31 tháng 10, 2017

Tạp chí Bách Khoa được “số hóa” toàn bộ

* Chúng tôi vừa nhận được tin toàn bộ nội dung Tạp chí Bách Khoa (1957-1975) đã được “số hóa” bằng đĩa CD qua bài viết của Phạm Phú Minh.

***

Thời trước 1975 ở miền Nam báo chí tư nhân rất phong phú, nhất là từ sau năm 1963 thì nhật báo và các tạp chí xuất hiện rất nhiều. Nhưng những ai theo dõi tình hình báo chí cả hai thời kỳ Đệ nhất và Đệ nhị Cộng Hòa thì đều thấy tờ báo tồn tại lâu dài nhất của miền Nam Việt Nam chính là tờ bán nguyệt san BÁCH KHOA: số 1 ra đời vào ngày 15 tháng 01 năm 1957, số cuối cùng 426 ra ngày 19 tháng 4 năm 1975.

Hôm nay chúng tôi xin loan báo một tin vui, là sau nhiều năm cố gắng, một nhóm bạn bè của báo mạng Diễn Đàn Thế Kỷ đã sưu tầm đầy đủ toàn bộ báo Bách Khoa, chỉnh đốn lại để thành một bộ báo số hóa có thể phổ biến cho mọi người.

VCD Data toàn bộ tạp chí Bách Khoa đã được số hóa

Chúng ta đều biết sau biến cố năm 1975, tất cả sách vở báo chí của miền Nam đều là mục tiêu thiêu hủy của bên phía cộng sản thắng cuộc, nên dù trước kia các thư viện của Việt Nam Cộng Hòa đều có hầu như đầy đủ các loại sách báo của cả nước, chỉ một thời gian sau đều trở thành tan tác, rỗng tuếch để thay thế vào đó là các sách báo của phe cộng sản. Ngay các tủ sách gia đình của dân chúng miền Nam cũng luôn luôn bị đe dọa hoặc bị trực tiếp tịch thu đốt phá, bất kể là loại sách báo gì.

Việc chúng tôi nghĩ nên làm ngay sau khi hoàn tất việc sưu tầm là đến thăm ông Huỳnh Văn Lang, Chủ Nhiệm Sáng Lập tạp chí Bách Khoa để kính tặng ông đĩa DVD chứa đựng toàn bộ 426 số báo đã được điện tử hóa. Chiều ngày 16 tháng 10, 2017 vừa qua anh Trần Huy Bích và tôi đã tới thăm ông Huỳnh Văn Lang tại nhà ông trong thành phố Westminster, Nam California, rất mừng thấy ông tuy đã ở tuổi 96, vẫn tương đối mạnh khỏe, nhất là tinh thần còn rất sáng suốt.

Ông đã rất vui và cảm động nhận đĩa DVD chứa toàn bộ báo Bách Khoa do chúng tôi tặng, và nói: “Với công trình tìm tòi và lưu giữ như thế này, tạp chí Bách Khoa sẽ an toàn tồn tại nhiều trăm năm về sau”.

Và chúng tôi đã được vị sáng lập tờ Bách Khoa kể lại không biết bao nhiêu là “chuyện xưa tích cũ”, thời gian từ Mỹ mới về nước để giúp ông Ngô Đình Diệm xây dựng chính quyền, những ngày đám chuyên viên trẻ tuổi còn “ngủ ghế bố” trong dinh Gia Long cho đến khi Thủ Tướng dời vào dinh Độc Lập. Mỗi câu chuyện như thế đối với tôi là một mảng lịch sử, qua giọng kể Nam Kỳ hấp dẫn và chân thành của ông. Thú vị nhất là ý tưởng lập hệ thống các trường Bách Khoa Bình Dân, rồi hội Văn Hóa Bình Dân để sau cùng là tạp chí Bách Khoa chào đời.

Ông Huỳnh Văn Lang là người sáng lập, là Chủ nhiệm kiêm Chủ bút của Bách Khoa từ số ra mắt cho đến cuộc đảo chánh 1963 chấm dứt Đệ Nhất Cộng Hòa. Ông nói: “Ngay khi quyết định ra báo, 30 thành viên của hội Nghiên cứu Kinh tế Tài chánh mà tôi đứng đầu mỗi người góp 1000 đồng (trừ một vị chỉ góp 500) để làm vốn. Hồi đó 30,000 đồng là một số tiền lớn, nhưng khi bắt tay làm báo thì tiền in nó ngốn mau lắm, tôi phải xoay xở liên tục cho đến khi tờ báo ổn định...”

Qua buổi gặp gỡ và trò chuyện với ông Huỳnh Văn Lang, tôi hình dung ra hoạt động của một nhóm trí thức trẻ cách đây 60 năm, đồng lòng xắn tay áo lao vào những công việc cụ thể, trong buổi bình minh của một vận hội mới mẻ cho vùng phía Nam của đất nước.

Ông Huỳnh Văn Lang (bên phải), với DVD Bách Khoa trên tay, đang trò chuyện với Phạm Phú Minh.. (Ảnh Trần Huy Bích)

Cho tới nay, Bách Khoa là tờ báo tư nhân sống lâu nhất trong lịch sử báo chí Việt Nam. Tờ sống lâu thứ nhì là tạp chí Nam Phong của học giả Phạm Quỳnh, ra đời vào tháng Bảy năm 1917, đình bản ở số 210, ngày 10 tháng Mười Hai năm 1934. Trên Nam Phong số cuối này có dòng chữ Năm thứ mười tám, nhưng đó là chỉ mới bước vào năm thứ 18 thôi, trong thực tế Nam Phong thọ 17 năm 5 tháng.

Trong khi đó báo Bách Khoa xuất bản từ tháng 1 năm 1957, tính tới tháng 1 năm 1975 là đủ 18 tuổi, tới hết tháng 4-1975 nó được 18 năm 3 tháng. Đó là chưa kể số lượng các số báo, Bách Khoa xuất bản 426 số; Nam Phong tổng cộng 210 số, chỉ bằng một nửa. Dễ hiểu, Nam Phong là nguyệt san (mỗi tháng ra một số), Bách Khoa là bán nguyệt san (mỗi tháng ra hai số).

Do đời sống lâu dài của nó suốt gần 20 năm cộng với nội dung mà nó mang lại, Bách Khoa có thể coi là cái xương sống tinh thần của miền Nam từ khi đất nước chia cắt 1954 cho đến 1975. Cho đến nay, các bài viết về báo Bách Khoa trong và ngoài Việt Nam đã khá nhiều, từ các hồi ức của những người trực tiếp góp phần xây dựng tờ báo đến những nhà nghiên cứu về sau, chúng tôi chỉ xin tóm tắt một ít điểm chính để giới thiệu một cách tổng quát Bách Khoa với độc giả.

Bách Khoa do ai sáng lập?

Chủ nhiệm sáng lập là Huỳnh Văn Lang, “hợp tác cùng các bạn” gồm ba mươi người liệt kê ngay bên dưới. Tập thể này là những chuyên viên của Hội Kinh tế/ Tài chánh thành lập từ 1955, đứng đầu là ông Huỳnh Văn Lang. Họ là những người hầu hết còn trẻ tuổi vào thời điểm đó, một số du học ngoại quốc mới về nước, tham gia chính quyền miền Nam với lý tưởng xây dựng một quốc gia Việt Nam tự do và phú cường. Sinh hoạt của Hội là họp mỗi hai tuần một lần, thảo luận về những vấn đề kinh tế tài chánh Việt Nam đang phải giải quyết.

Sau một thời gian hoạt động nhóm chuyên viên này nhận thấy cần phổ biến rộng rãi các nghiên cứu của họ, nên đã quyết định tổ chức một tờ báo như là một “diễn đàn chung của tất cả những người tha thiết đến các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội”: tờ BÁCH KHOA ra đời.

Số đầu tiên ra mắt ngày 15 tháng 01 năm 1957 và những số kế tiếp các bài nòng cốt là của các cây bút “cơ hữu” như Huỳnh Văn Lang, Phạm Ngọc Thảo, Hoàng Minh Tuynh, Nguiễn-Ngu-Í... Các cây bút có tên tuổi dần dần tham gia ngày một đông : Nguyễn Hiến Lê xuất hiện vào số 4, Mặc Thu, Vi Huyền Đắc số 5, Võ Phiến số 7, Bùi Giáng số 8...

Trong cuốn Hồi Ký của mình xuất bản sau 1975, học giả Nguyễn Hiến Lê, người bắt đầu viết cho Bách Khoa từ cuối tháng 2 năm 1957 và “dính” luôn với Bách Khoa cho đến số cuối ra ngày 19 tháng 4 năm 1975, đã viết:

Trong lịch sử báo chí nước nhà, tờ Bách Khoa có địa vị đặc biệt. Không nhận trợ cấp của chính quyền mà sống được mười tám năm từ 1957 đến 1975, bằng tờ Nam Phong, có uy tín, tập hợp được nhiều cây bút giá trị như Nam Phong, trước sau các cộng tác viên được khoảng một trăm.”

Nhà văn Võ Phiến, người cũng đã gắn bó với Bách Khoa suốt 18 năm, với các sáng tác truyện ngắn, truyện dài, tùy bút, tạp luận, ngoài ra ngày càng viết nhiều mục với các bút hiệu khác nhau như Tràng Thiên, Thu Thủy. Ông tuy không phải là người làm việc trực tiếp trong tòa soạn Bách Khoa nhưng có thể coi như là người quan trọng tạo nên linh hồn của tờ báo. Ông kể:

“Thoạt tiên là tờ báo của hai nhân vật trong chính quyền: các ông Huỳnh Văn Lang và Hoàng Minh Tuynh. Về sau các ông này rút lui ra khỏi chính quyền, rồi tờ Bách Khoa cũng dần dần chuyển về ông Lê Ngộ Châu.

“Các ông Huỳnh và Hoàng là những chuyên viên trong giới ngân hàng, rồi ngay ông Lê cũng không phải là một văn gia, ấy vậy mà Bách Khoa phải kể là một trong những tờ báo thành công nhất ở miền Nam trong ngót hai mươi năm. Đó là chỗ lý thú trong tình hình sinh hoạt của thời kỳ văn học này.”
(Văn Học Miền Nam - tổng quan, Võ Phiến, trang 238)

Đoạn này nhà văn Võ Phiến hình như cố tình viết không rõ về hai sự kiện ông Huỳnh Văn Lang và Hoàng Minh Tuynh “rút lui ra khỏi chính quyền” và việc “tờ Bách Khoa cũng dần dần chuyển về ông Lê Ngộ Châu”. Xem lại quyển Ký Ức Huỳnh Văn Lang (tập 1) do tác giả xuất bản năm 2011, có đoạn viết:

Sau 6 tháng hoạt động, 30 thành viên toàn là chuyên môn quyết định, mỗi người bỏ ra 1000 đồng (trừ ra một GS chỉ chịu hùn 500 đồng thôi, vì xem như là bố thí), để phổ biến những nghiên cứu của Hội trên một tạp chí.

“Và Bách Khoa Tạp chí đã ra đời. Số 1 phát hành ngày 15 tháng 1 năm 1957, người viết kiêm chủ nhiệm và chủ bút cho đến năm 1963 phải giao cho anh thư ký tòa soạn Lê Ngộ Châu, vì bị chế độ ‘người lính cai trị’ bắt đi bắt lại ba bốn lần giam giữ sau trước gần ba năm.”
(Ký Ức Huỳnh Văn Lang tập 1, trang 624)

Sự kiện người Thư ký Toà soạn Lê Ngộ Châu được giao toàn quyền điều hành tiếp tục tờ Bách Khoa trong một biến cố bất ngờ như thế đã cho chúng ta hiểu rằng vị Thư ký Tòa soạn này đã thực sự đóng một vai trò rất tích cực đối với tờ báo từ nhiều năm tháng trước đó. Về tài làm báo cùng kiến thức, tính tình của ông Lê Ngộ Châu, xem lại hồi ức của nhiều nhà văn cộng tác, thấy ai cũng yêu mến và kính phục ông.

Ý kiến của Nguyễn Hiến Lê, người cộng tác với Bách Khoa từ 1957 đến 1975:

“Ông Châu làm việc rất siêng, đọc hết mọi bài nhận được, đăng hay không ông đều báo cho tác giả biết. (...) Tôi mến ông vì ông có tinh thần trách nhiệm, làm việc đàng hoàng, biết cương quyết giữ vững chủ trương cả khi báo suy, biết xét người, xét văn và có tình với người cộng tác: ai gặp nạn gì ông lại nhà thăm, tìm mọi cách giúp đỡ; nhất là sau vụ Mậu Thân, ông rất băn khoăn lo lắng về các anh em bị kẹt trong vòng máu lửa.”
(Trích từ “Đời viết văn của tôi” của Nguyễn Hiến Lê)

Nhà phê bình văn học Đặng Tiến, trong bài viết tưởng niệm khi nghe tin ông Lê Ngộ Châu qua đời (vào ngày 24 tháng 9 năm 2006), có đoạn đánh giá Lê Châu - như cách gọi của anh em văn nghệ - như sau:

“Nhờ đức tính kín đáo, hòa nhã, Lê Châu đã tập hợp không những trên mặt báo nhiều khuôn mặt khác biệt, thậm chí trái ngược về hoàn cảnh, tính tình lẫn chính kiến, mà còn quy nạp được nhiều bè bạn đến từ những chân trời khác nhau, trong đời sống cụ thể hằng ngày. Chưa kể những tác giả sinh sống ở ngoài nước thường xuyên gửi bài về cộng tác.

“Lê Châu kiến thức rộng, thường xuyên giao tiếp với quan chức hay các nhà văn hóa danh vọng, nhưng luôn luôn từ tốn, trong cách ứng xử hàng ngày, với những người viết trẻ tuổi. Ông đặc biệt lưu tâm đến những người viết mới, viết từ các tỉnh nhỏ, đặc biệt là từ Miền Trung. Bách Khoa là một tờ báo phổ thông, chủ tâm vào những đề tài chính trị, quốc tế, kinh tế, khoa học, chỉ dành một phần cho văn học nghệ thuật, nhưng về lâu về dài đã có những đóng góp lớn lao cho bộ môn văn nghệ. Về sau, phần văn nghệ này lại là khối tài liệu quý giá.

“Lê Châu còn là gương sáng về đức khiêm tốn trí thức. Hai chữ Bách Khoa bình thường được dịch ra tiếng Pháp là Encyclopédie theo nghĩa từ điển bách khoa, hoặc tư trào Bách Khoa trong văn học Pháp thế kỷ XVIII ; nhưng Lê Châu không nhận từ này, cho rằng quá to tát so với tờ báo. Ông dịch Bách Khoa là Variétés, sát nghĩa là « tạp chí ». (...)

“Lê Châu là kẻ sĩ theo truyền thống, luôn luôn mực thước, trong nếp trung dung của cửa Khổng sân Trình và theo nếp mực thước, juste mesure của bực trí thức tân học. Trong đời sống, ông là người bảo thủ ; trên cương vị chủ báo, ngược lại, ông khuyến khích văn chương trẻ và tư tưởng mới, nhưng chừng mực thôi.”
(Tạp văn: Lê Ngộ Châu, 160 Phan Đình Phùng - Đặng Tiến)

Trong cuốn Văn Học Miền Nam tổng quan, nhà văn Võ Phiến đã ghi lại một nhận xét của nhà văn Nguyễn Hiến Lê mà chắc ông cũng đồng ý: “Tuy vậy kể là cây bút chủ yếu của Bách Khoa từ trước đến sau vẫn là hai người: Võ Phiến và Nguyễn Hiến Lê (xem Hồi ký Đời viết văn của tôi của Nguyễn Hiến Lê)”.

Lê Ngộ Châu (trái) gặp lại Võ Phiến trong chuyến đi Mỹ năm 1994

Thế nào là cây bút chủ yếu của một tờ báo? Có cần đó là Chủ bút hay Chủ nhiệm không? Có cần là Thư ký toà soạn không? Không cần, vì những chức vụ ấy có những trách nhiệm khác phải lo, không đương nhiên phải viết lách gì cả ngoài những lá thư nhắc nhở nọ kia về việc điều hành, đường lối. Vậy có phải là người viết thường xuyên trong một thời gian dài cho tờ báo ấy? Có thể đó cũng là một điều kiện, nhưng số lượng các bài viết cũng không đương nhiên khiến cho một tác giả trở nên một cây bút chủ yếu, vì không ai đếm số bài để định giá mức độ ảnh hưởng của một cây bút.

Theo chúng tôi, một cây bút gọi là chủ yếu của một tờ báo là một người thường xuyên, qua bài vở của mình, đem đến cho độc giả một ích lợi và ảnh hưởng tinh thần nhất định, được đa số độc giả biết giá trị và ham thích đón nhận. Hai vị Nguyễn Hiến Lê và Võ Phiến quả thật là những người như thế, có thể nói những đóng góp dài lâu của họ đã góp phần quan trọng tạo nên linh hồn của tờ báo.

Thứ nhất, về phương diện bài vở, hai vị là những người đóng góp dài hơi nhất. Như trên đã nói, Nguyễn Hiến Lê gửi bài đầu tiên cho Bách Khoa ở số 4, ra ngày 1 tháng 3 năm 1957; Võ Phiến số 7, ra ngày 15 tháng 4, 1957. Từ thời điểm ban đầu đó, hai vị liên tục tham dự xây dựng nội dung tờ báo cho đến số cuối cùng, ra ngày 19 tháng 4, 1975.

Về số lượng bài vở đã đăng trên Bách Khoa trong suốt 18 năm thì chắc chắn hai ông chia nhau ngôi thứ một/hai, có thể Võ Phiến nhiều hơn Nguyễn Hiến Lê, vì không những đóng góp phần sáng tác phong phú gồm truyện ngắn, truyện dài, tùy bút, tạp bút..., ông còn viết các mục khác (Thời sự Văn nghệ, Thời sự Chính trị...) và dịch các tác giả Tây phương, dưới các bút danh Tràng Thiên, Thu Thủy.

Báo Bách Khoa ,tại 160 Phan Đình Phùng, Sài Gòn, càng về các năm sau càng biến thành một địa chỉ thân mật cho mọi người cộng tác, với tình thân như gia đình. Theo lời kể của bà Võ Phiến (vào tháng 10, 2017), năm 1960 khi Võ Phiến từ Qui Nhơn dời vào Sài Gòn để làm việc với bộ Thông Tin, chính Lê Ngộ Châu là người lo đi tìm nhà để thuê cho bạn, yểm trợ ngay các nhu cầu cần thiết cho một gia đình từ tỉnh mới về nơi đô thị. Các văn thi sĩ cộng tác đều coi báo quán là nơi gần gũi, tin cậy; những người đóng góp bài vở từ khắp mọi miền đất nước, khi có dịp về Sài Gòn đều ghé thăm Bách Khoa, như về một loại “nhà tinh thần” của mình.

Chính trong loại tình thân và tin cậy có tính chất đại gia đình ấy, những người như Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, với uy tín và năng lực của mình, đã biến thành những “cây bút chủ yếu” của tạp chí Bách Khoa. Trước sau họ vẫn chỉ là người “cộng tác” thôi, không bao giờ giữ một chức vụ nào của tổ chức tòa báo. Nhưng họ vẫn là những “cây bút chủ yếu” đúng nghĩa.

Bách Khoa số ra mắt (15/01/1957)

Trong số những người tham gia vào Bách Khoa sớm nhất, phải kể đến Nguiễn-Ngu-Í (1921-1979, tên thật Nguyễn Hữu Ngư, còn có các bút hiệu Trần Hồng Hừng, Tân-Fong-Hiệb, Ngê-Bá-Lí v.v...). Ông là người đã thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn với giới viết lách, từ những nhà văn lớp trước như Nhất Linh, Đông Hồ, Lê Văn Trương, Đỗ Đức Thu, Nguyễn Vỹ.... đến lớp sau như Bình Nguyên Lộc, Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Võ Phiến, Nguyễn Văn Trung... Nhà văn Nguyễn Hiến Lê đã viết : “Ngu Í chuyên nghề phỏng vấn, từng trải, có nhiều nhiệt tâm, văn có duyên”. Các đề tài phỏng vấn của ông và câu trả lời của giới cầm bút thời ấy vẫn còn giá trị cho người nghiên cứu văn học ngày nay lẫn mai sau.

Ngoài tài phỏng vấn, Nguiễn-Ngu-Í cũng viết nhiều bài báo có giá trị, ví dụ bài Nhớ và Nghĩ về bài Quốc Ca Việt là một bài nghiên cứu tường tận về tác giả, trường hợp sáng tác, vai trò của bài hát đó trong xã hội từ năm 1942 trở về sau: đã được những ai đặt bao nhiêu nhan đề và lời ca, những ai đã sử dụng nó, với mục đích gì v.v... Thiết tưởng cộng đồng người Việt lưu vong vẫn dùng bản quốc ca Việt Nam Cộng Hòa trong bao nhiêu lễ lạc, biến cố của mình, cần hiểu biết rõ hơn về tiếng hát “Này công dân ơi!” ấy qua bài nghiên cứu này.

Sau cùng, nên nói đến một vấn đề tế nhị liên quan đến tờ báo Bách Khoa, là tên gọi của nó qua những năm tháng thăng trầm. Chúng ta vẫn gọi chung tờ báo là Bách Khoa từ số đầu đến số cuối, nhưng cũng nên biết rằng để giữ được hai tiếng Bách Khoa vững chắc và thân yêu ấy, nó phải theo thời mà có những biệt danh đi kèm. Đây là những cái mốc cho những biến thiên ấy:

1. BÁCH KHOA : Số 1 (ngày 15-1-1957) đến số 193-194 (15-1-1965)
2. BÁCH KHOA THỜI ĐẠI : số 195 (15-2-1965) đến số 312 (1-1-1970)
3. trở lại tên BÁCH KHOA : số 313-314 (Xuân Canh Tuất) (15/1 và 1/2/1970) đến số 377 (15-9-1972)
4. ĐẶC SAN BÁCH KHOA : số 378 (1-10-1972) - đến số 379 (15-10-1972)
5. GIAI PHẨM BÁCH KHOA : số 380 (1-11-1972) đến số chót 426 (19-4-1975)

Bìa sau Bách Khoa số ra mắt

Tất cả những việc vẽ vời “làm cho khác” tên gọi như thế thì hoặc là vì lý do chính trị (cho khác với tên gọi từ “chế độ cũ”), hoặc để thích ứng với chế độ kiểm duyệt hoặc luật báo chí về sau. Thời gian qua, những cái đó được hiểu chỉ là những thủ thuật né tránh để sống còn, và sống còn luôn luôn với cái tên khai sanh của nó: Bách Khoa. Vậy chúng ta trước sau chỉ nên gọi nó là BÁCH KHOA.

22 tháng Mười, 2017.
Phạm Phú Minh

***

BẠN ĐỌC CÓ THỂ TÌM THẤY MỘT SỐ TẠP CHÍ (ĐỒNG THỜI VỚI BÁCH KHOA) ĐƯỢC SỐ HÓA TRÊN NHẬT BÁO NGƯỜI VIỆT ONLINE. TẠI ĐÂY :

THƯ VIỆN NGƯỜI VIỆT
https://www.nguoi-viet.com/ThuVienNguoiViet/thuvien-NV.php

- Nam Phong
- Thanh Nghị
- Tập San Sử Địa
- Phong Hóa
- Ngày Nay

***

* Các bạn có thể tham khảo thêm bài viết “Báo chí Sài Gòn thời VNCH (2)” tại http://chinhhoiuc.blogspot.com/2012/10/bao-chi-thoi-vnch-2.html


***
--> Read more..

Thứ Ba, 24 tháng 10, 2017

Bất đáo Chí Hòa phi hảo hán

Người Trung Hoa rất tự hào về Vạn Lý Trường Thành. Đó là một bức tường thành được xây dựng bằng đất và đá từ thế kỷ thứ 5 trước công nguyên đến thế kỷ 16. Tường thành bảo vệ Trung Hoa khỏi những cuộc tấn công của người Hung Nô, Mông Cổ và rất nhiều bộ tộc du mục khác.

Tần Thủy Hoàng, vị Hoàng đế đầu tiên của Trung Hoa, đã có sáng kiến xây Vạn lý Trường thành từ năm 220 trước công nguyên nhưng phần tường này chỉ còn sót lại một vài di tích. Vạn Lý Trường Thành ngày nay, với chiều dài khoảng hơn 6.000 km, cao 7 m, được xây dưới thời nhà Minh và người Trung Hoa rất tự hào về nó.

Vạn lý Trường thành

Thế cho nên con cháu Thiên Tử mới có câu “Bất đáo Trường thành phi hảo hán”, hàm ý chưa đến Trường Thành chưa phải là hảo hán. Sang đến Việt Nam, giới giang hồ “số má” lại đổi tên Trường Thành bằng Chí Hòa: “Bất đáo Chí Hòa phi hảo hán”.

Chí Hòa là nhà tù được xây dựng năm 1943 thời thuộc địa Pháp nằm tại Số 1 đường Hòa Hưng (Q. 10), Sài Gòn. Vào thời đó, đây là nơi giam giữ tù chính trị. Sang đến thời VNCH cũng là nơi giam những người chống đối chính quyền và tội phạm hình sự. Sau năm 1975, Chí Hòa là nơi “nghỉ mát” hay “gỡ lịch” của giới giang hồ cũng như tù chính trị.     

Có nhà văn nào đó đã từng viết: “Đối với người tù Sài Gòn, khám Chí Hòa được ví như trường đại học Harvard của Mỹ, Eton của Anh và Sorbonne của Pháp”. Nếu ở Mỹ có Ngũ Giác Đài (còn gọi là Lầu Năm Góc) thì ở Việt Nam có Chí Hòa là một công trình xây dựng hình bát giác khép kín với một tầng trệt và 3 tầng lầu.

Ngày nay, mỗi cạnh của hình bát giác là một ô, được đánh số thứ tự từ A đến H. Toàn bộ nhà tù được chia thành 6 khu, trong đó khu ED dành cho tù chính trị, AH dành cho tù vượt biên và các khu còn lại dành cho tù hình sự, trong khu FG còn có cả các phòng tù nữ.

Trên một khu đất rộng khoảng 7 hécta, hơn 200 phòng giam đều hướng về tâm của hình bát giác, nơi có một tháp nước với lỗ châu mai hướng về các phòng giam với 4 loa phóng thanh và trên đỉnh là một cột cờ. Tháp mước mang hình tượng một thanh gươm lớn, yểm âm dương, phong thủy, càn khôn, vũ trụ. Thanh gươm cắm mũi xuống đất nhắc nhở một khi đã lọt vào vòng bát quái rất khó tìm được lối ra.

Mô hình “lò bát quái” Chí Hòa


Thanh gươm cắm xuống đất để… yểm bùa!

Chí Hòa là vùng đất “linh thiêng” vẫn thường xảy ra sấm sét mỗi khi giông bão. Có đến ngàn lẻ một huyền thoại về khám Chí Hòa, điển hình như “con-ma-vú-dài” thỉnh thoảng vẫn chọc phá tù nhân.

Tại đây còn lưu lại máy chém có từ thời Pháp thuộc được chuyển từ khám Catinat sang và do Đội Phước phụ trách. Người cuối cùng chết dưới máy chém này là Ba Cụt, tức Lê Quang Vinh, tướng Hòa Hảo, dưới thời Ngô Đình Diệm. Chính ông Ngô Đình Cẩn, bào đệ của Tổng thống Ngô Đình Diệm, cũng bị xử bắn sau một thời gian bị giam giữ tại Khám Chí Hòa.

Chuyện “con ma vú dài” trên báo Trắng Đen năm 1969

Cơ duyên nào đã gắn cuộc đời tôi với Khám Chí Hòa?

Hồi đó cuối là đầu thập niên 80, người Sài Gòn âm thầm vượt biên. Bạn bè chừng một tuần không thấy mặt là người ta nghĩ ngay đến những chuyến vượt biển. Gặp lại người quen với cái đầu trọc lóc ta nghĩ ngay đến chuyện ra khơi nhưng không gặp may nên bị cạo đầu ngồi tù. Cửa nhà bỗng nhiên khóa im ỉm sẽ được suy diễn là cả gia đình đã ra ra đi. 

Cơn sốt bỏ nước ra đi diễn ra ngày càng tăng, kéo theo phong trào học tiếng Anh “chui”, tức là lén lút. Gia đình khá giả thì mời thầy đến tận nhà kèm riêng hoặc một nhóm góp chung tiền mời thầy đến để luyện tiếng Anh.

Cái nghề giảng viên Anh ngữ của tôi tưởng chừng như đã hết đất dung thân nay bỗng nhiên sống lại. Thế là một cuộc “đổi đời lần 2” lại bắt đầu sau thời cải tạo. Đang từ anh “lao động phổ thông” trong một tổ hợp xây dựng, anh trông hàng ngoài chợ Bình Tây rồi chuyển sang nghề bỏ mối lò dầu hôi.. cuối cùng nhảy lên làm… thầy.

Năm 1971, tôi được đào tạo giảng viên Anh ngữ ở Hoa Kỳ, sau đó lại được Trường Sinh ngữ Quân đội gửi đi tu nghiệp một lần nữa năm 1974. Với trình độ tiếng Anh và kinh nghiệm giảng dậy, “anh bán lò” trở thành một người thầy đáng tin cậy của những người ôm mộng vượt biên.

Tôi đã từng mất rất nhiều học trò chỉ vì họ ra đi vội vã không kịp từ giã thầy. Chẳng biết họ có đến được đảo hay lại bỏ mình giữa biển khơi. Người Sài Gòn thường nói “Nếu con đi thoát thì con nuôi má nhưng nếu con chết thì... con nuôi cá”.

Học trò ra đi nhiều, chỉ mỗi ông thầy là ở lại vì... thiếu “cây” để lên tầu. Người Sài Gòn khi đó có thói quen gọi 1 lượng vàng là “một cây”. Tôi lo phải chạy ăn từng bữa cũng đã thấy bở hơi tai thì “cây” đâu để tính chuyện vượt biên?

Nhưng có lẽ “thánh nhân đãi kẻ khù khờ” nên có một gia đình học trò người Hoa khá giả, đăng ký cho một xuất “vượt-biên-bán-chính-thức”. Điều kiện khá dễ dãi: “Đi trước, trả sau”! Có lẽ họ cũng tin tưởng vào trình độ Anh văn của thầy giáo sẽ hỗ trợ gia đình họ trong những bước đầu chăng?

Sài Gòn rầm rì bàn tán về chính sách “vượt-biên-bán-chính-thức” của nhà nước dành cho các “xì thẩu” Hoa kiều. Đơn giản vì họ là những người giàu nhất nước, tha hồ mà thu hàng đống “cây vàng”. Người ta còn đồn họ vượt biên bán chính thức bằng cả tàu sắt nhưng lại cũng có tin nhiều chuyến đi đã bị lừa.

Sau một đêm suy nghĩ, đắn đo, tôi quyết định phải chụp lấy cơ hội để thoát, lại còn xin thêm một “nửa vé” cho cậu con trai đầu lòng. Không đất dung thân ở nơi này. Không hộ khẩu, không việc làm ổn định, không tương lai nếu cứ tiếp tục cuộc sống bên lề xã hội.

Ra đi cũng đồng nghĩa là đương đầu với những bất trắc nhưng ít ra cũng còn một chút ánh sáng nơi cuối đường hầm với hy vọng cứu được gia đình. Ở lại là tiếp tục mò mẫm trong một đường hầm tăm tối, hoàn toàn không có lối ra.

Chiếc tàu vượt biên “bán chính thức” đón khách ngay tại chân cầu Cát Lái thuộc địa phận quận Thủ Đức. Người ta lên tàu vào buổi chiều, có cả một số thân nhân đưa tiễn! Tàu bằng gỗ, chỉ dài hơn 10m, khoang bên dưới đàn ông ngồi bó gối, xếp lớp như cá mòi, phía trên là trẻ em và phụ nữ.

Dù mang tiếng là đi “bán chính thức” nhưng mọi người vẫn căng thẳng trước những bất trắc của cuộc hành trình hứa hẹn nhiều sóng gió…

Sóng gió đâu chưa thấy mà chỉ nghe tiếng súng AK đồng loạt nổi lên cả ở hai bên bờ. Lực lượng vũ trang quận Thủ Đức lên tàu, ra lệnh cho tài công lái tàu về... bến Bạch Đằng. Tại đây có hai chiếc Molotova chờ sẵn để đưa những người vượt biên về thẳng... Khám Chí Hòa. Mọi chuyện diễn ra hoàn hảo như một kịch bản phim!

Thủ tục nhập trại giam tiến hành một cách nhanh chóng: phụ nữ và trẻ em được thả ngay, trong đó có con tôi. Đàn ông sau khi khai báo họ, tên, địa chỉ được đưa vào 2 phòng giam thuộc khu AH trong lò bát quái Chí Hòa. Duyên may của tôi với Chí Hòa là vậy! 

Toàn cảnh Chí Hòa

Chí Hòa là nơi có những đêm khuya thanh vắng tù đang ngủ phải giật mình thức giấc vì tiếng hét lanh lảnh của phạm nhân: “Báo cáo cán bộ, phòng... có người cần cấp cứu!”. Hai chữ “cấp cứu” dội lại trong lò bát quái nghe như tiếng gọi của tử thần từ một nơi xa xăm nào đó.

Chí Hòa là nơi có “những đêm giã từ” của những phạm nhân vừa ra tòa nhận án để lên đường đến các trại cải tạo lao động. Họ tổ chức đêm “nhạc sống” từ phòng giam. Họ hát từ nhạc vàng đến vọng cổ, từ blue đến rock để các bạn tù ở phòng khác cùng thưởng thức. Họ bất cần vì đã nhận án và sẽ sớm từ giã Chí Hòa. Xen lẫn với giọng nam có cả những giọng nữ cũng tham gia văn nghệ “live show” bỏ túi...

Cuộc sống tại Chí Hòa khác hẳn với sinh hoạt ở trại cải tạo. Ở Chí Hòa chỉ quanh quẩn với 3 bức tường và 1 hàng chấn song sắt. Ngày hai bữa cơm, tuần được phép xuống sân tắm rửa, giặt giũ một lần trong vòng 20 phút.

Ở trại cải tạo, dù cũng mang tiếng là ở tù, nhưng không gian rộng rãi hơn để sinh họat. Quan trọng hơn cả, Chí Hòa gom đủ thành phần xã hội phức tạp trong khi tại trại cải tạo chỉ chung một thành phần sĩ quan “ngụy”.

Tiếng là khu tù vượt biên nhưng trong phòng cũng xen lẫn một số tù hình sự chưa bị kết án. Đám thiểu số này lại nổi bật giữ đám tù vượt biên, nắm trọn quyền sinh sát. Họ giữ từ chức Trưởng phòng, Phó phòng đến Trật tự viên, Thư ký, Tổ trưởng.

Trong phòng luôn xảy ra chuyện “đi-chợ-đêm”, nhất là sau những ngày thăm nuôi. Kẻ trộm thường là những tay tù hình sự, không thăm nuôi, hay còn gọi là “Con Bà Phước”. Bọn chúng “đi chợ” vào ban đêm khi những người tù ngủ say. Chúng lục giỏ cói để tìm thức ăn khô và thường thanh toán “chiến lợi phẩn” ngay tại chỗ để phi tang. Người nằm bên cạnh “khổ chủ”, dù có thấy nhưng vẫn phải làm ngơ vì sợ trả thù.

Hình thức trả thù kinh sợ nhất là màn “hỏa tốc”, có nghĩa là đốt bao nylon cho chảy thành nhựa rồi quăng vào nạn nhân. Nhựa nylon nóng hổi bám chắc vào da thịt với âm thanh xèo xèo nghe rợn tóc gáy.

Nhựa nylon cũng còn được tận dụng trong việc chế tác những vật dụng giải trí như đổ quân cờ domino và cờ tướng. Trong phòng tôi có một cao thủ cờ tướng, cựu đại úy không quân “ngụy”, chuyên đánh “cờ mù”.

Anh chỉ nằm vắt tay lên trán trong khi những tù khác quây quần quanh bàn cờ, “bề-hội-đồng” mà vẫn không sao thắng nổi kẻ nằm thảnh thơi không nhìn bàn cờ! Có lẽ đó là kỷ niệm “vui” nhất trong suốt thời gian 9 tháng nằm khám Chí Hòa.

Kỷ niệm buồn nhất là căn bệnh ghẻ phổ biến ở đây. Thoạt đầu ghẻ chỉ xuất hiện một cách âm thầm và nhẹ nhàng. Khởi đầu thấy ngứa giữa những kẽ tay, sau đó hình thành những mụn nước, rồi mụn mủ sưng tấy và ngứa ngáy khắp thân thể, nhất là vào ban đêm.

Vi trùng ghẻ, còn được gọi là “cái ghẻ”, lây từ người này sang người khác trong điều kiện tắm giặt hạn chế và vệ sinh thiếu thốn. Phòng tù lúc nào cũng có mùi tanh tanh khó chịu. Tuy nhiên, gãi ghẻ cũng có cái “thú-đau-thương” của nó mà tôi nghĩ đó là một “bản đàn”.

Khởi đầu là “bản đàn” du dương, rần rần vì... “gãi-đúng-chỗ-ngứa”. Khi cơn sướng đạt đỉnh điểm, ngón đàn mang lại sự đau đớn, tê rát lúc mụn ghẻ tóe máu. Sự nhức nhối biến thành một cực hình, nhất là vào ban đêm. Đó là thời gian lý tưởng nhất để những con cái ghẻ đục khoét dưới da và mò sâu vào thịt.        

Cứ như thế tôi và những người “đồng hội đồng thuyền” sống chung với ghẻ đúng 9 tháng, tương đương với 3 lệnh tạm giam, mà không hề trải qua một cuộc “chấp pháp” tức thẩm vấn điều tra. Nghĩ cũng lạ: Mất tiền để vào tù!

Tất cả chúng tôi đều khai trong lần làm thủ tục vào Chí Hòa là ra đi “bán-chính-thức” sau khi đã đóng “nghĩa vụ” với nhà nước. Đó là lần “làm việc” duy nhất trong suốt 9 tháng.

Mà chắc các cán bộ cũng chẳng có gì cần khai thác trong đám khách vượt biên. Nghe đâu chỉ những người đứng ra tổ chức mới được “chiếu cố”, thỉnh thoảng vẫn phải lên làm việc với cán bộ điều tra. 

Khám Chí Hòa nhìn từ trên cao

Ngày ra khỏi lò bát quái, những người đi cùng chuyến tàu được tập họp điểm danh rồi được dẫn ra đến cửa khám, hoàn toàn không một mảnh giấy lận lưng. Cái duyên “đáo” Chí Hòa của tôi là thế đó. Dù sao cũng phải tự hào “ké” với giới giang hồ:

“Bất đáo Chí Hòa phi hảo hán”!

Qua khỏi chiếc cổng này là… tự do!


***
--> Read more..

Thứ Hai, 16 tháng 10, 2017

Đọc “Papillon – Người tù khổ sai”

Tôi còn nhớ mãi thời gian cải tạo tại Trảng Lớn (Tây Ninh) có một bạn tù với “trí nhớ phi thường” đã kể lại truyện “vượt ngục” của Papillon. Papillon (gọi tắt là Papi) trong tiếng Pháp là “Bươm Bướm” vì Papi có sâm trên ngực một chú bướm, trông thật… đa tình. Đó là biệt danh của Henri Charrière, tác giả cuốn tự truyện “Papillon – Người tù khổ sai”.

Papillon và hình xăm bươm bướm trên ngực

Từ ngữ “vượt ngục” đã có từ lâu nhưng sau 1975 được thay thế bằng “trốn trại”, một từ hoàn toàn mới. Cũng tại Trảng Lớn có câu chuyện “trốn trại” của Ngô Nghĩa, một sĩ quan pháo binh. Anh đã “đơn thương độc mã” trốn trại nhưng bất thành. Kết quả là nhận bản án tử hình bằng một loạt đạn AK trước sự chứng kiến của những đại diện bạn tù đến từ các đội.

Sau này, trong “Hồi ức một đời người”, tôi có viết một truyện ngắn mang tính cách “hư cấu” nhưng dựa vào chuyện có thật của Ngô Nghĩa. Truyện “Năm tháng khó quên” lấy bối cảnh là những sinh hoạt tại trại cải tạo Trảng Lớn và dĩ nhiên, nhân vật chính là Ngô Nghĩa ngoài đời và mang tên Phong, Biệt kích 81, trong chuyện. (Xem truyện tại http://chinhhoiuc.blogspot.com/2012/08/nam-thang-kho-quen.html)

“Trốn trại” hay “vượt ngục” chỉ khác nhau ở cách sử dụng từ ngữ theo từng thời kỳ nhưng tựu chung vẫn mang ý nghĩa của một người tìm cách thay đổi số phận của “người tù” để trở thành “người bình thường” trong xã hội.

Papillon, là người tù khổ sai nhưng quan trọng hơn cả, anh là “nạn nhân” của một oan sai và quyết tìm tự do sau 9 lần vượt ngục. Con số 9 thật nhiều ấn tượng, cho thấy lòng khao khát tự do của một người đã bị đẩy ra bên lề của xã hội.

Tài tử Steve McQueen trong vai Papillon

Henri Charrière (1906 – 1973) viết tự truyện (hay còn gọi là hồi ký) dài 45 Chương về thời gian ông bị bỏ tù trên một nhà tù thuộc địa tại Guiana thuộc Pháp. Ông là một nhà văn “bất đắc dĩ” vì khi viết Papillon ông chỉ kể lại và nhờ bạn bè đánh máy. Sau đó ông gửi 13 tập bản thảo cho nhà văn  J. P. Castelnau với hy vọng Castelnau viết lại để có thể xuất bản.

Sau khi đọc, Castelnau chỉ sửa những lỗi chính tả và giữ nguyên bản thảo để xuất bản. Điều đó cho thấy sự mộc mạc và chân thật của Henri Charrière trong truyện đã hấp dẫn người đọc. Đây cũng là một trường hợp ngoại lệ trong văn học: từ một tên tù vượt ngục Charrière đã trờ thành nhà văn được mọi người ưa thích.

Papillon bị “chung thân khổ sai” trong một vụ mà tòa án khẳng định anh đã giết tên “ma cô” tên Roland le Petit, một tên dắt gái của giới ăn chơi Montmartre. Đó là theo điều tra của cảnh sát, mà “bọn cớm” cứ mỗi lần tìm được thủ phạm là một lần lên lon. Tại Paris, ngày 26/10/1931, tòa kết thúc vụ án được Charrière mô tả như một cái tát:

“Cái tát mạnh đến nỗi mãi mười ba năm sau tôi mới gượng dậy được. Quả nhiên đó không phải là một cái bợp tai bình thường, và để giáng nó vào mặt tôi, họ đã xúm lại khá đông”.

Họ là ai? Đó là viên chánh án, có đôi má phính với vẻ mặt khắc nghiệt của một quan tòa chuyên nghiệp. Ông ta không có phần trách nhiệm nào trong “cái tát”, việc của ông chỉ đơn giản là chuẩn bị dọn sẵn để bị cáo.. “ăn tát”!

Đó là công tố viên mà các luật sư bào chữa rất sợ. Papillon nhận xét: “Ông ta nổi tiếng là người cung cấp đắc lực nhất cho máy chém và cho các nhà lao trong nước cũng như hải ngoại… Ông đại diện cho pháp luật, cho cán cân công lý, chính ông cầm cái cân ấy và ông sẽ đem hết sức mình ra để làm cho nó nghiêng về phía ông”.

Đó là bồi thẩm đoàn 12 người thật thảm hại đáng thương hơn là đáng ghét. Họ có được đào tạo, huấn luyện gì đâu để mà làm quan tòa? Thật đúng là trò hề lố bịch của một bầy lũ chỉ biết tiến thân, tiến lên thêm thật nhiều bậc trên cái thang chức nghiệp đáng ghê tởm của chúng.

Cảnh chém đầu phạm nhân tại trại tù

Xã hội Pháp thời thập niên 30 đã loại bỏ vĩnh viễn Papillon, một thanh niên hai mươi lăm tuổi và tuyệt nhiên chẳng một chút hy vọng giảm án! Món ăn sang trọng này đã được những người nhân danh công lý “nấu nướng” một cách bài bản.

Papi không căm thù xã hội mà chỉ tâm huyết trả thù những người đã đưa anh vào một cuộc đời “trôi sông lạc chợ”. “Phải cắt lưỡi chúng. Cái lưỡi không xương nên… nhiều đường lắt léo. Phải giam chúng, bỏ đói chúng trong hầm của một tòa lâu đài như Alexandre Dumas đã làm trong truyện Bá tước Monte-Christo”.

Papillon nghĩ:

“Bộ máy trừng phạt do nền Cộng hòa Pháp sáng chế ra đã hoạt động một cách tuyệt diệu. Ở giai đoạn thứ nhất, người nào có thể gây phiền phức cho nó thì nó tiêu diệt đi. Nhưng như thế chưa đủ. Không thể để cho người ấy chết quá nhanh, cũng không thể để cho người ấy thoát thân bằng cách tự tử. Người ấy rất cần cho bộ máy. Cục Quản lý các cơ quan cải huấn còn có việc gì mà làm nếu không có tù nhân? Lúc bấy giờ thì thật là đẹp mặt, cho nên phải giám sát nó. Phải đưa nó đi làm khổ sai: nhiều công chức của nhà nước sẽ nhờ nó mà có kế sinh nhai”.

Tù nhân trần truồng tập trung tại nhà lao Conciergerie trước khi  lên đường ra Đảo Guiana

Bước đầu tiên là nhà lao Conciergerie nơi mà quản tù nhân hậu hỏi anh: “Chúng nó xử anh mấy năm?”, “Chung thân”, “Chà, cái quân đểu cáng! Chúng nó điên hết rồi hay sao?”. “Cám ơn sếp. Ông cứ yên chí, tôi sẽ có đủ can đảm, và tôi hy vọng rằng họ sẽ không nuốt trôi được cái án chung thân này đâu”.

Tại đây, anh kết thân với Louis Dega, một tù nhân người Marseille và cũng là tay làm bạc giả khét tiếng. Bài học đầu tiên trong tù của Papillon là qua đường dây của Dega ngoài đời Papi nhận được một số tiền 5.600 francs của vợ chuyển “lậu” vào. Thật ly kỳ và có phần “hư cấu” vì tiền được để trong một cái ống bằng nhôm, mài nhẵn thín, có thể tháo ra bằng cách vặn ở giữa. Nửa này xoắn ốc vào nửa kia.

“Khi nhận được nó, tôi đưa lên môi hôn cái ống dài sáu phân, to bằng ngón tay cái này; vâng, tôi đã hôn nó trước khi nhét vào hậu môn. Tôi thở thật mạnh để hút nó vào sâu trong đại tràng. Nó là cái tủ két của tôi”.

Cách dấu tiền trong hậu môn của tù

Tháng 11/1933, Charrière đã trốn thoát từ trạm xá tại Saint Laurent cùng hai bạn tù, Clousiot và Maturette, bơi thuyền dọc theo bờ biển qua Trinidad và Curaçao tới Riohacha, Colombia. Dọc đường họ được một nhóm người hủi, cũng là những tù nhân, trên Đảo Pigeon, giúp đỡ. Trong thời gian này, ba kẻ tù trốn trại khác gia nhập cùng với họ trong chuyến đi tới Colombia.

Nhà tù Saint Laurant

Thời tiết xấu khiến họ không thể rời bờ biển Colombia và đã bị bắt lại và tống vào tù tiếp! Papillon tìm cách bỏ trốn với sự giúp đỡ của một người tù già. Papi lập tức quay về vùng Guajira, tại đây anh sống nhiều tháng trong một ngôi làng của những người bản xứ làm nghề mò ngọc trai.

Papi kết thân với một phụ nữ trẻ và em gái của cô ta, cả hai sau này đều trở thành vợ của anh và đều có con với anh. Chính ở đây anh đã sống nhiều tháng sung sướng qua… "hình thức thanh khiết nhất của tình yêu và của sự tuyệt mỹ.". Tuy nhiên, anh vẫn tiếp tục bước đường vượt ngục.

Một lần nữa, Papi bị bắt và bị nhốt tại Santa Marta, và sau đó chuyển sang Barranquilla. Dù đã nhiều lần gắng vượt ngục với một vết thương nơi mu bàn chân Papi vẫn không thể thoát khỏi các nhà tù và bị đưa trả về Guiana thuộc Pháp năm 1934.

Papi bị kết án hai năm biệt giam, hình phạt được tù nhân gọi bằng tên "Kẻ nuốt tù nhân", tại St. Joseph trên đào “Salut” hay Đảo Cứu Rỗi (Salvation Islands) vì tội vượt ngục. Mãn hạn “biệt giam”, Papi được đưa về đảo Royale....

Papi còn bị kết án tám năm biệt giam nữa sau một âm mưu vượt ngục và tội giết một bạn tù vì người này đã ngầm báo âm mưu của anh. Tuy nhiên, anh được thả ra chỉ chín tháng sau đó, sau khi liều mình cứu một bé gái đang sắp chết đuối khỏi vùng biển có cá mập.

Sau đó, Papi giả điên trong một nỗ lực trốn khỏi bệnh viện tâm thần trên đảo. Đây là thời điểm lý tưởng để bỏ trốn khỏi bệnh viện tâm thần bởi sau khi Thế chiến II bắt đầu, hình phạt cho những người tù bỏ trốn đã được nâng lên thành tử hình với án phản bội. Nhưng một người điên được coi là người không kiểm soát được các hành vi của mình, vì thế sẽ không thể bị trừng phạt vì bất kỳ điều gì - kể cả việc vượt ngục.

Dega (trái) và Papillon (phải)

Papi trở về đảo Royale và một thời gian sau anh xin chuyển đến Đảo Quỷ (Devil's Island). Sau một thời gian sống ở đây, Charrière quen với Chang, một tù chính trị người Hoa, anh đã nghiên cứu về các cơn sóng thủy triều và nhận ra mỗi ngày đều có một cơn sóng đủ lớn để có thể đưa anh ra xa đảo và về đất liền.

Sau nhiều lần thử nghiệm với các bao tải chứa dừa, anh đã vượt ngục chung với 1 bạn tù tên Sylvain, cả hai đều dùng những bao tải chứa dừa như một cái phao và cưỡi trên sóng để ra ngoài đại dương. Sau nhiều ngày trên biển, cả hai cập vào bờ nhưng Sylvain bị chìm trong cát lún và chết.

Trên đất liền, Papi gặp Cuic Cuic anh trai của Chang, họ cùng nhau đi đến Georgetown, British Guiana, bằng thuyền. Sau một thời gian ngắn sống ở đây, Charrière đã đi đến Venezuela với 5 tù nhân khác. Họ bị bắt và tạm giam ở một trại tù gần El Dorado. Sau đó một thời gian, Charrière được thả ra. Cuối cùng Papillon được nhập quốc tịch Venezuela. Anh đã trở thành… “người tự do”.

Cảnh lao động khổ sai của tù nhân

Cuốn sách “Papillon – Người tù khổ sai” trở thành “bestseller”  năm 1970. Charrière, đã ghi lại chi tiết các vụ vượt ngục, những âm mưu vượt ngục, những chuyến ra đi… ngoại trừ có một vài sai sót nhỏ do trí nhớ. Charrière khẳng định tất cả đều là sự thực.

Một số nhà nghiên cứu tin rằng Charrière đã lấy phần lớn tư liệu cho cuốn sách từ các bạn tù khác, và coi tác phẩm này mang nhiều tính tưởng tượng hơn là một cuốn hồi ký chân thực.

Năm 2005, một người ở Paris khi ấy đã 104 tuổi, tên là Charles Brunier, tuyên bố rằng mình mới là Papillon đích thực. Mốt số các nhà phê bình hiện đại có xu hướng đồng ý rằng câu chuyện của Charrière “có các sự kiện xảy ra với những người khác”, và rằng “Brunier quả thực ở tù cùng thời gian với Papillon”.

Chuyện hư thực ra sao về Papillon cho đến nay vẫn chưa đi đến kết luận cuối cùng. Có điều chắc chắn là sẽ chẳng bao giờ có được kết luận vì Charrière cũng như Papillon hay Brunier đã chết. Tuy nhiên, họ đã để lại cho chúng ta, những kẻ hậu sinh, một bài học quý giá của những người đi tìm lại “tự do”, mà xã hội đã cướp mất.

Papillon ăn uống trong xiềng xích

Tôi lại nghĩ, Ngô Nghĩa ở Trảng Lớn cũng như Papillon ở Pháp chính là những nhân chứng sống (dù họ đã chết). Họ vẫn sống trong lòng của những người tù đã mất hết tự do nhưng vẫn quyết đi tìm nó… cho đến hơi thở cuối cùng.

***

* Hình ảnh trong bài viết này được trích từ phim “Papillon” của Warner Bros. Pictures.

* Xem phim “Papillon”, với các tài tử Steve McQueen và Dustin Hoffman tại:


***
--> Read more..

Thứ Năm, 12 tháng 10, 2017

Con người có thể là… “Di sản Sài Gòn”?

Lang thang trên trang Facebook của nhóm “Đài Quan sát Di sản Sài Gòn - Saigon Heritage Observatory” tôi tình cờ gặp một status khá thú vị của Candy Nguyen, viết về Michael Burr. Bài viết ngắn có tựa đề “Michael Burr - American Veteran in Saigon”.

Michael đã ở Việt Nam từ 1969-1970. Theo lời Candy Nguyen, Michael là giảng viên Anh ngữ tại Trường Sinh ngữ Quân đội (Armed Forces Language School – AFLS) và được bổ nhiệm dạy trong Tổng Tham Mưu (Joint General Staff – JGS), đó là trụ sở chính của trường Sinh ngữ Quân đội.



“Michael Burr - American Veteran in Saigon”
(Hình FB Candy Nguyen)

Cũng vào năm 1969, tôi về AFLS từ Thủ Đức và được phái sang chi nhánh Nguyễn Văn Tráng (Q. 1) nơi có khóa sinh sĩ quan Không quân theo học. Đó là lý do “đồng nghiệp” nhưng chưa hề gặp nhau.


Trong bài viết này, Candy Nguyen có đăng 3 tấm ảnh: một tấm ảnh mới nhất của Michael chụp gần đây tại Sài Gòn, một tấm chụp lại “Bằng lái xe tự động” do Bộ Giao thông Vận tải VNCH cấp năm 1970 và một bức ảnh thứ ba đối với tôi là quan trọng hơn cả.


“Bằng lái xe tự động” của Michael Burr
(Hình FB Candy Nguyen)

Đó là tấm “Thẻ ra vào Trường Sinh ngữ Quân đội”, cấp cho “AMN” (Airman – lính không quân) Michael Burr. Thẻ do Trung Tá Huỳnh Vĩnh Lại, Chỉ huy trưởng trường Sinh ngữ Quân đội (KBC 3095) ký ngày 18/10/1969. Mặt sau của thẻ cũng xác định ngày hết hiệu lực là “Mars. 30. 1970” và cũng in thêm một số quy định cho người dùng thẻ mà các bạn có thể thấy trong hình.


Đối với tôi, người đã giảng dạy tại trường từ năm 1969 đến ngày Sài Gòn sụp đổ, thì đây là lần đầu tiên tôi được thấy loại thẻ này. Điều dễ hiểu vì những nhân viên cơ hữu không dùng thẻ này, mà chỉ những người ngoài quân số chính thức của trường mới được cấp thẻ để ra vào Tổng Tham Mưu.


“Thẻ ra vào” trường Sinh ngữ Quân đội
(Hình FB Candy Nguyen)


Đời có nhiều bất ngờ thú vị. Tôi tự hỏi: Con người (nhất là người ngoại quốc) có thể là… “Di sản Sài Gòn”?. Câu hỏi này Candy Nguyen cũng đã đặt ra trong bài viết. Tôi khẳng định là “Có”. Di sản Sài Gòn nằm đâu đó trong con người Michael Burr, nó cũng nằm trong ba tấm hình mà tôi vừa đề cập đến. Bạn có đồng ý không?


Hy vọng sẽ có một bài viết về Michael Burr. Tuy không rầm rộ như bộ phim tốn nhiều giấy mực và tranh cãi “The Vietnam War” nhưng Michael sẽ cho ta một mảnh ghép nhỏ trong bức tranh toàn cảnh “jigsaw puzzle” của Sài Gòn ngày nào.


***
--> Read more..

Popular posts