Hiển thị các bài đăng có nhãn Thời thơ ấu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thời thơ ấu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 10 tháng 12, 2018

Tiếng còi tầu thời thơ ấu


“Những chiều nghỉ học, tôi hay tới,
Đón chuyến tầu đi, đến những ga.
Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt,
Lòng buồn đau xót nỗi chia xa”

(Tế Hanh)

Đó là tâm sự của nhà thơ Tế Hanh khi còn đi học. Tuổi thơ của tôi cũng có những gắn bó với tiếng còi tầu nhưng chắc chắn không thi vị như của nhà thơ thời tiền chiến.

Tôi cũng chẳng được trải qua “cái thú đau thương” khi nghe tiếng còi tầu trong bài hát “Five Hundred Miles” theo điệu dân ca của Mỹ. Đó là chuyện của một anh chàng nghèo “rớt mùng tơi” đi tha phương cầu thực trên một chuyến tầu xa nhà đến 500 dặm. Một bài hát buổn mà khi còn ở trung học tôi được thầy giáo tiếng Anh dậy hát:

“If you miss the train I’m on
You will know that I’m gone
You can hear the whistle blow
Five hundred miles” (1)

Có một bài thơ bằng tiếng Pháp, cũng lấy tựa đề “J'entends Siffler Le Train” nghe thật thống thiết:

“J'ai pensé qu'il valait mieux
Nous quitter sans un adieu
Je n'aurais pas eu le coeur de te revoir
Mais j'entends siffler le train
Que c'est triste un train qui siffle dans le soir”

(Anh nghĩ rằng lúc này
Là lúc mình chia tay
Không một lời từ biệt
Dẫu lòng buồn da diết
Tiếng còi tàu vang vang
Giữa bóng đêm bàng hoàng)

Nhạc Việt cũng có nhiều bài lấy chủ đề đường sắt. Chẳng hạn như bài “Chuyến tàu hoàng hôn” của Minh kỳ & Hoài Linh với những ca từ đi sâu vào lòng người:

“Chiều nao tiễn nhau đi khi bóng ngả xế tà.
Hoàng hôn đến đâu đây màu tím dâng trong hồn ta.
Muốn không gian đừng tan, níu đôi chân thời gian
ngừng trôi cho giây phút chia ly này kéo dài.
Trước khi phân kỳ, ước sao cho tàu đừng đi” (2)

Xe lửa & sân ga: Một đề tài phong phú

Năm 1953 gia đình tôi rời Hà Nội để vào Đà Lạt vì ông cụ thân sinh phục vụ trong Ngự Lâm Quân của vua Bảo Đại. Khi đó, Đà Lạt còn được gọi là “Hoàng triều Cương thổ”, đất của nhà vua! Gia đình chúng tôi mua một căn nhà trên lưng chừng đồi, rất gần với ga Đà Lạt.

Kiến trúc của ga Đà Lạt được xếp vào loại đẹp nhất Đông Dương với hình ảnh ba ngọn núi Lang Bian trên cao nguyên Lâm Viên. Hai kiến trúc sư người Pháp, Moncet và Reveron, đã xây dựng trong khoảng thời gian 6 năm, từ năm 1932 đến năm 1938.

Ga Đà Lạt (hình chụp năm 1948)

Toàn quyền Đông Dương, Paul Doumer, phê duyệt đường sắt từ Tháp Chàm (Tourcham) lên Đà Lạt vào năm 1908. Vì địa hình đồi núi phức tạp trên cao nguyên lắm dốc cao nên phải xây dựng thêm “đường răng cưa” (cog railway) ở giữa. Đây cũng là một trong những tuyến đường sắt răng cưa đầu tiên của thế giới.

Nhân công xây dựng đường sắt vào thời đó chỉ có người Thượng sinh sống trên cao nguyên. Ở Mỹ, những người đi làm đường sắt đầu tiên là người Á Đông, đa số là người Tầu. Dù ở Việt Nam hay ở Mỹ, công nhân đường sắt là những người chịu nhiều gian khổ nhất với đồng lương ít ỏi nhất.

Công trình xây dựng đường sắt răng cưa với những công nhân người Thượng

Trên tuyến đường sắt Tháp Chàm - Đà Lạt có 3 vị trí phải làm hệ thống đường ray có móc răng cưa, cộng thêm 5 vị trí phải làm đường hầm xuyên qua núi. Tổng cộng công trình xây dựng này mất 30 năm để hoàn hoàn thành 84 cây số đường xe lửa từ Phan Rang lên Đà Lạt.

Khi tàu chạy đến gần đoạn răng cưa, lái tàu giảm tốc độ, khởi động giàn bánh răng ở đầu tàu, cho móc vào đường ray răng cưa nằm giữa 2 thanh ray rồi khóa hệ thống bánh răng. Bánh răng của đầu máy bám chặt vào răng cưa đường ray để tàu leo dốc hoặc xuống dốc một cách an toàn, không bị trơn trượt.

Tuyến đường sắt răng cưa Đà Lạt - Tháp Chàm xuyên qua đồi núi

Mới 8 tuổi tôi đã được nghe tiếng còi tầu rúc lên trong từng chuyến tầu Đà Lạt – Tháp Chàm đi và đến sân ga. Thật ra, từ vị trí căn nhà không thể nhìn thấy sân ga nhưng đoạn đường tầu dẫn vào ga chạy ngay trước mắt. Nhìn sang bên kia thung lũng là con đường sắt và gần đó còn thấy bóng dáng Biệt điện Mộng Điệp, thứ phi của Bảo Đại.

Mỗi sáng, khoảng 8 giờ là chuyến tầu rời ga để trực chỉ Tháp Chàm. Buổi chiều, độ 4 giờ, tầu từ Tháp Chàm về Đà Lạt. Tiếng còi tầu rúc lên tựa như chiếc đồng hồ báo sinh hoạt hằng ngày của mọi người. Riêng đối với bọn trẻ chúng tôi, tất cả đều ngưng mọi cuộc chơi đùa để ngắm nhìn con tầu xình xịch lướt qua bên kia thung lũng.  

Đôi khi chúng tôi dơ tay lên vẫy một cách bâng quơ và cũng có khi người trên tầu vẫy lại. Những chuyến tầu qua lại trở thành quen thuộc đến độ thân thương. Có những ngày tầu từ Tháp Chàm về trễ vì những trục trặc dọc đường… bỗng thấy lòng tự nhiên nôn nao như thiếu một cái gì đó.

Căn nhà thời thơ ấu đối diện với đường tầu phía bên kia thung lũng

Trục trặc kỹ thuật trên đường tầu không nhiều nhưng trục trặc vì phá hoại vẫn thường xảy ra. Chính phủ VNCH đã thành lập một tiểu đoàn mang tên “An ninh Thiết lộ” để bảo vệ đường sắt khi hoạt động phá hoại đường của “Mặt trận Giải phóng niền Nam” bắt đầu.

Toa xe đặc biệt được trang bị súng trung liên và đại liên, được tổ chức thành từng trung đội gồm 3 xe. Ba nhiệm vụ chính của các toa xe là: (1) tản thương; (2) cứu viện đoàn tầu bị phục kích; và (3) tuần tiễu trên thiết lộ vào ban đêm.

Sau 1975, đường sắt Đà Lạt – Tháp Chàm ngưng hoạt động. Các đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước được nhập từ Thụy Sĩ nằm hoang phế trên sân ga Đà Lạt và Tháp Chàm. Số phận của các đường ray cũng không kém phần bi đát: được tháo dỡ để trở thành sắt vụn.

Đầu máy xe lửa bỏ hoang trên sân ga Đà Lạt

Tất cả chỉ còn là hoài niệm về tiếng còi tầu của tuổi thơ. Gần đây, những ký ức đó lại trở thành một niềm nuối tiếc của cả đất nước khi Thụy Sĩ đề nghị mua lại những đầu máy xe lửa cũ để tân trang làm phương tiện phục vụ khách du lịch tại đèo Furka.

Các kỹ sư Thụy Sĩ đã đến tận nơi hoang phế để khảo sát những “phế tích”. Họ cẩn thận, hay đúng hơn là “nâng niu”… đống sắt vụn lâu nay vẫn nằm trơ gan cùng tuế nguyệt. Đầu máy xe lửa được di chuyển về trạm Sóng Thần, rồi ra Cảng Sài Gòn để vượt đại dương “tái hồi Thụy Sĩ” trong chiến dịch được mệnh danh là “Back to Switzerland”

Trên xe tải có cờ Việt Nam & Thụy Sĩ với tấm badrole “Back to Switzerland”

Tại Thụy Sĩ, từng chi tiết được các kỹ sư và công nhân tái tạo để bảo đảm đúng nguyên mẫu ban đầu. Và câu chuyện cũng đi đến đoạn kết “có hậu”: những đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước đã hoạt động trở lại để phục vụ khách du lịch.

Dĩ nhiên đầu máy xe lửa “trông bắt mắt” hơn hẳn những ngày nằm lăn lóc như những đống sắt vụn phế thải tại Việt Nam. Khách du lịch chắc ít người biết được chúng đã từng tung hoành trên đường sắt tại Việt Nam.

Đối với những người (tạm coi như đã gắn bó với tiếng còi tầu thời thơ ấu như tôi), chuyện đường xe lửa Tháp Chàm – Đà Lạt lại có một đoạn kết “vô hậu” chứ không phải là… có hậu!

Biết trách ai bây giờ?

Đầu máy xe lửa chuẩn bị vượt đèo Furka sau nhiều năm lưu lạc tại Việt Nam

***

--> Read more..

Thứ Ba, 23 tháng 5, 2017

Những sự kiện đầu tiên trong đời

Điều mà người ta thường gọi là “những cái đầu tiên trong đời” bao hàm một phạm vi rộng lớn và cả một không gian trải dài. Riêng đối với tôi, giờ chỉ còn thu gọn với vài cột mốc biến cố được coi là “trọng đại” trong đời.

Có những sự kiện tưởng chừng như tầm thường dưới mắt người này nhưng lại vô cùng ý nghĩa với những người khác. Đó cũng là điều dễ hiểu vì mỗi người chúng ta đều có những hoàn cảnh riêng mà chỉ người trong cuộc mới cảm thấy quan trọng.  


Mời các bạn đi ngược về quá khứ để nhìn lại những cái đầu tiên trong đời tôi.

Tấm hình đầu tiên: Ba anh em tôi tại Hà Nội trong đó có một người em trai đã mất khi hãy còn nhỏ. Mẹ tôi ngày xưa thường nói về cậu trai cưng đã khuất... Giá mà Quang (đứng bên phải) còn sống thì sẽ có một tương lai sáng sủa nhất trong số anh em chúng tôi!

Hình bốn mẹ con tôi chụp trên đường Trần Xuân Soạn, gần hồ Halais (ngày nay gọi là Hồ Thiền Quang), Hà Nội, năm 1949.

Tôi có chiếc xe hơi đầu tiên… chụp năm 1952 tại Hà Nội. Dĩ nhiên đây chỉ là chiếc xe hơi đồ chơi nhưng cũng có đủ: volant để lái và phía dưới có hai bàn đạp để chạy!. Dàng đứng chắc do ông phó nhòm đạo diễn! 

Em gái tôi có con ngựa gỗ… Đế của con ngựa hình vòng cung nên khi ngồi, tay nắm hai bên tai ngựa và cứ thế là nhún nhảy với cảm giác… ngựa phi đường xa. 
Các bạn có để ý không? Phía sau bức hình là chiếc Velo Solex!

Ngôi trường đầu tiên của tôi: Năm 1952, Trường Puginier Hà Nội. 
Puginier là tên của Giám mục Paul Puginier, giám mục địa phân Tây Đàng Ngoài (1868 – 1892), đặt Tòa Giám Mục ở Kẻ Sở. Trường Puginier chính thức thành lập từ năm 1895 và đóng cửa ngày 15/09/1954 sau Hiệp định Geneve. Danh tiếng của trường cũng lùi lại trong quá khứ chỉ còn vọng lại đâu đó với những lời tri ân của các cựu học sinh La San tại Hà Nội như là những tiếng thì thầm trong cõi lòng đôi khi chỉ đủ một người nghe.

Hình chụp tại Vĩnh Yên, 1953 trước khi vào Nam.
Nhà cô tôi ở Vĩnh Yên, cô chú mở tiệm chụp hình nên chụp thoải mái. Ngày xưa trong phòng chụp có "phông" vẽ phong cảnh để hình chụp thêm sống động.

Hình chụp với người em họ tại Vĩnh Yên, 1953, trước khi vào Nam.

Tấm hình đầu tiên chụp tại Đà Lạt… 
Năm 1953 gia đình tôi vào Đà Lạt  và chụp tấm hình này năm 1954. Chú bé đầu đội mũ berret, mặc chiếc áo len “cổ lọ” và trên ngực có những giòng nhạc…. trên tay chú là tấm “Bảng danh dự” của trường Nam tiểu học Đà Lạt.

Tấm hình chụp chân dung đầu tiên để làm “Thẻ Học Sinh” năm 1956 tại Đà Lạt.

***






--> Read more..

Thứ Hai, 10 tháng 9, 2012

Thời thơ ấu: từ Vĩnh Yên đến Hà Nội (2)

(Tiếp theo)

Hà Nội đối với tôi cũng chỉ là những bức tranh mờ nhạt trong ký ức của một chú bé con. Tôi còn giữ được tấm hình chụp năm 1949 tại Hà Nội: mẹ tôi bồng em Nguyễn Thị Dung, tôi đứng nhìn về một hướng khác bên cạnh Nguyễn Ngọc Quang, đứa em trai sau này đã qua đời.


Theo lời kể của mẹ tôi, Quang là đứa con ‘xinh đẹp, bụ bẫm nhất nhà’ nhưng chỉ tiếc một điều là em vắn số. Cũng có thể vì em vắn số nên mẹ tôi luôn luôn sụt sùi kể lại những kỷ niệm về Quang, nhất là trong mỗi dịp giỗ vào ngày 20 tháng giêng Âm lịch.

Theo như những gì mẹ kể, Quang chắc chắn sẽ có một tương lai rực rỡ, hơn hẳn tôi, nếu như em không sớm lìa đời. Đây cũng là chuyện thường tình, người ta luôn dành những tình cảm tốt đẹp nhất cho những người đã khuất, nhất là những người chết trẻ khi mới 2 hoặc 3 tuổi.

Cho đến nay, những kỷ niệm về Quang qúa mờ nhạt trong ký ức của một chú bé con như tôi. Có lẽ vì Quang từ giã cõi đời khi còn quá nhỏ. Tôi còn mất một đứa em gái út tên Nguyễn Thị Ngọc Châu tại Ban Mê Thuột.

Em Châu mất đi khi hãy còn ẵm ngửa, mẹ tôi khóc sụt sùi cả mấy tháng trời sau khi em mất. Não nùng nhất khi phải nghe những câu mẹ than khóc: “Châu ơi, giờ này con nằm một mình ngoài đó, không ai chăm sóc cho con…”.

Tôi nghĩ, những người chết khi còn quá trẻ như Quang, như Châu, đều có một cuộc đời của những thiên thần. Trong sạch và thánh thiện trước những diễn biến của muôn hình vạn trạng cuộc đời. Nhân chi sơ, tính bổn thiện. Nói như vậy có nghĩa là ta gián tiếp thừa nhận những người tuổi thọ càng cao thì càng nhiều tội lỗi do cuộc sống áp đặt. Vấn đề tùy thuộc vào cá tính và đạo đức của mỗi con người để có thể tiết giảm được những tội lỗi do cuộc đời đem lại.
   

Những tấm hình chụp năm 1952 tại Hà Nội cho thấy sinh hoạt của gia đình tôi. Tôi có chiếc xe hơi có thể nói là rất ‘hiện đại’ vào thời bấy giờ. Trên tay lại có một chiếc đồng hồ, dù là đồ chơi, cũng là một niềm đáng tự hào với một chú bé có lẽ chưa biết xem giờ! Thế đứng trong hình có thể do người chụp tạo dáng chứ tôi không thể nào tin được một chú bé có kiểu đứng chống nạnh, hai tay bên hông như vậy!

Em Dung có một con ngựa gỗ, hai tai ngựa là tay cầm để lắc lư như cưỡi ngựa vì chân đế chuyển động theo hình vòng cung. Những loại đồ chơi như vậy ngày nay đã biến mất, thay vào đó người ta sử dụng plastic để sản xuất các mặt hàng đồ chơi đa dạng cho trẻ con. Hình chụp từ năm 1952 nhưng nếu quan sát kỹ ta có thể thấy chiếc Velo Solex màu đen đã xuất hiện tại Hà Nội vào thời điểm đó bên cạnh chiếc xe đạp và chiếc xe đẩy của trẻ con.


Qua tấm hình dưới đây, mẹ tôi đúng là một phụ nữ tiêu biểu thời tiền chiến: tóc vấn, răng đen, cổ đeo chuỗi hạt ngọc bên cạnh bố tôi... một mẫu người phải nói là ‘nghiêm nghị’ nhưng không kém phần... điểm trai!
 
Bố Mẹ tôi, hình chụp tại Hà Nội, không rõ ngày tháng
  
Ký ức về Hà Nội qúa mờ nhạt. Tôi nhớ mang máng nhà tôi ở phố Lê Lợi, sau đó dọn về phố Trần Xuân Soạn, gần chợ Hôm. Trước ngày di cư vào Nam, gia đình tôi tạm trú tại một villa của một người bạn của bố ở phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, lúc đó bố tôi đã di chuyển trước vào Đà Lạt theo Ngự Lâm Quân của Vua Bảo Đại.

Bố tôi trong quân phục Ngự Lâm Quân

Hàng Bông Thợ Nhuộm là một con đường xanh rợp bóng cây, đặc biệt có những cây sấu thân to đến một người ôm không hết. Trưa hè lúc nào cũng có tiếng ve kêu đến nhức óc trong khi trẻ con từ nơi khác đến leo trèo hái sấu về nhà làm món sấu dầm nước mắm ớt hoặc nấu một nồi canh sấu với thịt nạc dăm, một lọai canh giải nhiệt trong những ngày hè oi bức. Sau này khi vào Nam, thỉnh thoảng được ăn canh sấu khiến tôi liên tưởng đến hương vị của những ngày ấu thơ.

Ấn tượng thời thơ ấu của tôi về các món ăn Hà Nội chỉ bàng bạc vì lý do dễ hiểu là tôi còn qúa nhỏ để thưởng thức. Tuy nhiên, cũng còn đâu đó những kỷ niệm được bố mẹ cho đi ăn kem Tràng Tiền để ‘giải nhiệt’ vào những tối mùa hè oi ả. Mùa đông thì ăn ‘phá xa’ (đậu phọng) rang với húng lìu của ông Tàu già bên hồ Hoàn Kiếm. Tôi còn nhớ món đậu phụng rang nóng, dòn của ông được để trong một cái bao giấy có dạng hình chóp nón, đựng trong thùng có quai đeo ngang vai. Tiếng rao "Phá Xa" của ông cũng rất đặc biệt, không thể nào lẫn lộn được.

Hàng bánh tôm cũng thường ghé ngang khu phố tôi ở. Người bán bánh tôm gánh một đầu là khung gỗ có chảo dầu để chiên bánh, phần sau đựng các vật liệu như bột, khoai tây, tôm… Người bán chiên bánh bằng cái khuôn có quai thẳng góc với khuôn để dễ cầm khi chảo dầu sôi. Bột bánh tôm màu vàng nghệ trộn với khoai tây xắt lát hình que. Khi bỏ vào chảo dầu, bánh chín rất nhanh và sau cùng người bán mới thêm một con tôm tươi. Thế là món bánh tôm đã sẵn sàng để ăn với rau và chấm với nước mắm pha. Món bánh tôm nóng ăn vào mùa đông Hà Nội thật tuyệt.    

Tôi cũng đã có lần được chứng kiến cảnh người ta bơm nước ở hồ Halais, đến khi nước gần cạn lòi ra những bộ xương người, không biết đó là những người tự tử hay là những người bị các đảng phái thanh toán lẫn nhau, cụ thể là Việt Minh và Quốc Dân Đảng. Cũng có thể đó là xác những ‘thành phần phản động’ bị thực dân Pháp cho đi ‘mò tôm’! Dù là gì đi nữa, tại nơi đặt máy bơm người ta cũng đặt thêm bát nhang để hương khói cho những người đã bỏ xác tại đây. 

Hồ Halais (ngày nay gọi là hồ Thiền Quang) được bao quanh bởi 4 con phố đầy cây xanh và bóng mát: Nguyễn Du, Trần Bình Trọng, Trần Nhân Tông và Quang Trung. Halais cũng chính là tên con đường mà ngày nay gọi là Nguyễn Du.

Một hình ảnh không kém phần ‘ấn tượng’ về Hà Nội mà tôi còn nhớ từ thời thơ ấu: cảnh ‘đổ thùng’. Hà Nội vào thời đó vốn không có nhà vệ sinh tự hoại theo hệ thống cống ngầm như ngày nay nên mỗi gia đình có một thùng đựng phân trong ‘chuồng chồ’ (cầu tiêu) và đến tối có những người đi ‘đổ thùng’... Giai cấp thấp nhất thời đó có lẽ là những người phu đổ thùng nên bố mẹ thường răn đe con cái: “Bé mà không học thì lớn lên... đi đổ thùng!”.

Trường học đầu đời của tôi là trường dòng Puginier ở Hà Nội. Trường mang tên Giám mục Puginier (1868-1892), có tên Việt là Bảo Lộc Phước, phụ trách giáo phận Hà Nội và người thay thế ông là Giám mục Gentreau đứng ra xây dựng một ngôi trường năm 1897 lấy tên người tiền nhiệm Puginier với số học sinh ban đầu khoảng 400, gồm cả học sinh người Pháp lẫn người Việt.

Puginier là một cái tên rất được kính trọng vào thời Pháp thuộc. Quảng trường Ba Đình trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 có tên là "Quảng trường Tròn Puginier" (Rond Point Puginier) hay còn gọi là "Quảng trường Puginier" mang tên vị Giám mục địa phận Hà Nội.

Cũng như Hà Nội nói chung, ký ức của tôi về ngôi trường Puginier nói riêng rất mờ nhạt vì khi đó tôi còn quá nhỏ. Tôi học ở Puginier theo chế độ "bán trú" (demi-pension), ăn trưa tại trường và đến chiều trở về nhà. Tôi còn nhớ, nhà ăn của Puginier có một mùi thật đặc biệt, đến bây giờ mới có thể giải thích được đó là mùi chiên xào thức ăn bằng bơ, khác hẳn với mùi dầu mỡ ở nhà.

Trường được điều hành bởi các tu sĩ dòng La San, thành phần giảng dạy gồm cả các sư huynh (frère) người Pháp lẫn người Việt. Buổi sáng trước khi bắt đầu học phải đọc kinh, buổi trưa trước khi ăn cũng phải đọc kinh, đến lúc bắt đầu học vào buổi chiều cũng lại đọc kinh. Nào tôi có hiểu gì lời kinh, miệng thì ê a, lầm bầm theo những âm thanh mình nghe bên tai.

Bạn bè tại trường có những đứa nghịch như qủy sứ, nhất là tụi ‘Tây lai’ mà chúng tôi thường nhạo: “Tây lai ăn khoai cả vỏ, ăn chó cả lông, ăn hồng cả hột”! Chúng ngang ngược không kém gì các ông bố Tây thuộc địa của chúng cộng thêm tính tinh ma từ dòng máu của mẹ là các Me Tây người bản xứ. Sự kết hợp dị chủng này đã tạo ra một dòng sản phẩm ‘lai’ cá biệt của thời Pháp thuộc.

Bây giờ ngồi nghĩ lại, ngày xưa còn bé mình chê Tây lai ‘ăn khoai cả vỏ’ đến khi trưởng thành trong ‘thời điêu linh’ sau 1975, đi học tập cải tạo về, chính mình cũng ‘ăn khoai cả vỏ’, thậm chí còn không có vỏ mà ăn! Ghét của nào trời trao của nấy là vậy.

Puginier là trường đạo nên nổi tiếng về kỷ luật và chính tôi cũng đã từng một lần trải qua một hình thức kỷ luật của nhà trường một cách oan uổng. Một hôm, tôi còn nhớ, sau buổi học tôi thấy có một cái kéo của học sinh nào đó để quên, thay vì giao chiếc kéo đó cho các sư huynh, tôi giữ lại cho mình. Đến khi chủ nhân của chiếc kéo thấy tôi sử dụng liền báo cho thầy, thế là tôi bị kết tội... ‘ăn cắp’. Ngoài việc bị đòn roi của các sư huynh, tôi còn bị báo cáo về nhà cho phụ huynh, lại thêm một trận đòn nên thân, nhớ đời!   

Tôi vào Nam từ năm 1953 nên sớm gĩa từ Puginier, trường học đầu đời dù chỉ theo học tại đây chưa đầy một năm. Đến năm 1954, tất cả các trường La San ở miền Bắc được chuyển vào Nam, học sinh các trường này tùy vị trí định cư mà theo học các trường đang có trong Nam. Riêng học sinh các trường Puginier ở Hà Nội, trường Thánh Giu-se ở Hải Phòng được theo học ở trường Taberd, Sài Gòn.

Tôi còn qúa nhỏ để biết công việc của bố, chỉ biết đại khái bố tôi làm việc tại bót Hàng Trống trong ngành cảnh binh tại Hà Nội. Bố tôi là một ông ‘cẩm’ (commissaire) tại đây. Cho đến ngày gia đình tôi chuẩn bị vào Nam năm 1953, khi đó theo tôi biết, bố tôi đã chuyển từ ngành cảnh binh sang Ngự Lâm Quân (NLQ) tức lực lượng bảo vệ Đức Quốc Trưởng Bảo Đại tại Đà Lạt, nơi được mệnh danh là Hoàng triều Cương thổ.

Bố tôi tại bót Hàng Trống
   
Sau khi bị thất thủ ở mặt trận Điện Biên Phủ, Pháp phải ngồi vào bàn hội nghị ở Genève và kết quả là hiệp định chia đôi đất nước ra đời. Trong hiệp định này Pháp và Việt Minh đã đồng ý lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới giữa 2 nước Việt Nam. Hiệp định Genève được ký kết ngày 20/7/54. 

Việt Minh tiếp thu bót Hàng Trống

Tại miền Nam, Chính phủ của ông Ngô Đình Diệm, được Quốc Trưởng Bảo Đại cử làm Thủ tướng, ra thông cáo: ai muốn di cư vào Nam thì đi ghi tên và sẽ được giúp đỡ để đi.  Người Hà Nội xôn xao hẳn lên. Cuối tháng 7/54 một số bàn giấy ghi tên di cư được đặt ở các góc đường phố chính Hà Nội.

Chợ trời nhan nhản mọc ra tại Hà Nội. Người ta bán tống bán tháo những cái gì mà họ không muốn mang theo, những thứ mà họ nghĩ là không cần thiết ở nơi định cư mới: sách cũ, quần áo cũ, chén bát, giường tủ, bàn ghế... lỉnh kỉnh đủ thứ, từ "thượng vàng" đến "hạ cám".

"Chợ trời" Hà Nội những ngày trước khi di cư vào Nam 

Theo Hiệp định Genève, người dân có một thời gian 100 ngày để chọn cho mình miền Nam hay miền Bắc. Nhưng lúc ấy, không có ai tự nguyện từ miền Nam chạy ra miền Bắc, trừ những thành phần được mệnh danh là ‘tập kết ra Bắc’. Trong khi đó, hàng triệu người dân đã gồng gánh vào Nam để lại mồ mả ông bà. Vào đến Sài Gòn, những người di cư được phát 12 đồng một ngày, trong khi một tô phở ở Sài Gòn lúc đó khoảng 5 đồng, đĩa cơm gà cũng đến gần 10 đồng!

"Tàu  Há Mồm" (LST) chở người di cư vào Nam

Gia đình chúng tôi vào Nam từ cuối năm 1953, trước đợt di cư chính thức sau tháng 7/1954. Bố tôi chuyển vào miền Nam trước và gia đình tôi sau đó mới vào Đà Lạt bằng phi cơ quân sự cùng với những gia đình khác trong lực lượng NLQ. Sau này tôi mới hình dung ra được tình hình chính trị vào giai đọan kết thúc chiến tranh với trận Điện biên phủ giữa thực dân Pháp và lực lượng kháng chiến của Việt Minh.

Hải quân Mỹ giăng biểu ngữ trên tàu
chào đón những người di cư vào Nam

Điện biên phủ là một cuộc chiến kéo dài suốt 56 ngày đêm tại lòng chảo nằm giữa cánh đồng Mường Thanh bồi đắp bởi con sông Nậm Rốm với các địa danh đã đi vào lịch sử như Đồi A1, hầm De Castre... 

Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được người Pháp chia làm 3 phân khu: (1) Phân khu Bắc gồm đồi Him Lam, đồi Độc Lập, bản Kéo; (2) Phân khu Nam gồm có trận địa pháo và sân bay Hồng Cúm; (3) Phân khu trung tâm nằm giữa cánh đồng Mường Thanh, đây là phân khu mạnh nhất, tập trung 2/3 lực lượng. Có hầm De Castre, sân bay Mường Thanh, các cứ điểm đồi: A1, E1, C1, D1... tên các đồi được đặt lúc bấy giờ là chữ đầu tên các cô gái đẹp, hoa hậu của Pháp thời bấy giờ.

Bộ đội Việt Minh tại Điện biên phủ

Mỗi cứ điểm là một hệ thống hoả lực nhiều tầng, có hàng rào thép gai, có bãi mìn, có hầm cố thủ. Riêng hầm De Castre và đồi A1 còn có đường hầm xuyên qua lòng sông Nậm Rốm để có thể tiếp viện cho nhau khi cần. Hầm gần sân bay Mường Thanh còn có mục đích để phòng khi thất trận tướng De Castre có thể nhanh chóng rút lui bằng máy bay.

Tổng số lực lượng Pháp ở Điện Biên Phủ lên tới 16.200 quân nhưng yếu điểm của Pháp là chủ quan, các cứ điểm đều bị cô lập, hơn nữa, đường vận chuyển tiếp tế duy nhất chỉ bằng đường hàng không. Người Pháp mắc sai lầm vì cho rằng Việt Minh không thể vận chuyển đạn dược lên Điện Biên vì không có lực lượng không quân.

Thu Đông 1953-1954, công việc chuẩn bị cho chiến dịch đã hoàn tất và Việt Minh huy động toàn dân tham gia phục vụ cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Dân công từ các hướng tiến về Điện Biên Phủ như thác nước, họ thồ lương thực, đạn dược lên Điện Biên. Vận chuyển một quãng đường dài, khó khăn và gian khổ, đường núi đèo dốc hiểm trở, dân công khoẻ nhất cũng chỉ thồ được khoảng một tạ gạo, khi lên đến nơi thì đã ăn hết một nửa và lại quay về thồ tiếp.

Bom đạn của Pháp trút xuống, biết bao người đã hy sinh. Khó khăn nhất là công việc kéo pháo, những khẩu pháo nặng đến vài tấn do Trung Cộng viện trợ đã được kéo lên Điện Biên vượt qua bao đèo cao, vực thẳm khiến Pháp phải đi từ bất ngờ đến thất bại. Việt Minh hy sinh, tổn thất cũng rất nhiều nhưng đã thành công trong việc thu hẹp vòng vây, sân bay Mường Thanh bị bao vây khiến đường hàng không của Pháp không thể hoạt động.

Sân bay Mường Thanh bị vô hiệu hoá, đường vận chuyển duy nhất của Pháp không còn và nguy cơ thất bại đến gần. Pháp chỉ còn cách hỗ trợ Điện Biên bằng các cánh quân  quân nhảy dù, trong khi đó lương thực, thuốc men, đạn dược cũng được tiếp tế bằng cách thả dù. Tuy nhiên, phi cơ không dám bay thấp vì hỏa lực dưới đất khiến việc thả dù không chính xác.

Trong đợt tấn công này, Việt Minh lần lượt chiếm được các đồi E1, D1, C1... trừ đồi A1. Việt Minh chuyển từ chiến thuật ‘đánh nhanh thắng nhanh’ sang chiến thuật ‘đánh chắc tiến chắc’. Người Pháp chủ quan nên không thể nào ngờ pháo binh Việt Minh đã bố trí những khẩu pháo 105 ly trên các sườn đồi nhìn xuống thung lũng. Pháo 105 ly góp một phần không nhỏ cho chiến dịch Điện Biên tuy có nhược điểm là rất nặng và bắn một thời gian là nòng pháo nóng đỏ, phải chờ cho nguội rồi tiếp tục bắn tiếp.

Pháo binh Việt Minh trên đường vào Hà Nội

Cuối cùng Việt Minh quyết định cho nổ tung cả quả đồi bằng một tấn thuốc nổ. Họ đào hầm vào giữa đồi A1 để đặt bộc phá với khoảng 500m tiến đến đồi A1. Đào đường hầm cũng vô cùng khó khăn, bộ đội phải đứng hàng dài từ ngoài vào trong để quạt không khí từ ngoài vào. Không khí rất thiếu, có người chỉ vào xúc được vài xẻng rồi bị ngất nên phải đưa ra ngoài.

Đào đến đồi A1, đến nơi có thấy đá và nghĩ đã đến tâm của quả đồi nhưng lại là móng nhà của một người Nhật đã từng xây dựng trên đó trước khi Pháp đến. Số bộc phá dự trù phải 1 tấn nhưng dù có 500 kg thuốc nổ lấy được từ Pháp nhưng vẫn chưa đủ số lượng. Tuy nhiên, tướng Giáp vẫn quyết định đánh.

Các đơn vị Việt Minh sẵn sàng chuẩn bị để sau khi nổ sẽ ồ ạt xuông lên. Tuy tất cả đã không đúng như dự định, hố bộc phá cách hầm cố thủ đến 30m, hầm vẫn còn nguyên vẹn nhưng Việt Minh cũng đã chiếm được đồi A1 vào 4 giờ 30 phút chiều ngày 6/5/1954.

Chiều ngày 7/5/1954 Việt Minh vượt qua cầu Mường Thanh, tiến đến hầm De Castre, bịt kín 2 cửa hầm. Tướng De Castre đã hạ lệnh cho tất cả đầu hàng, tiến ra khỏi hầm với chiếc cờ trắng giữa hai hàng súng của Việt Minh. Hai ngày sau, toàn bộ quân Pháp còn lại ở Điện Biên đều trở thành tù binh.

Lễ hạ cờ "Tam Tài" tại Hà Nội

Một lần nữa, binh thư ‘lấy thịt đè người’ đã trở thành một bài học lịch sử trong cuộc kháng chiến. Quân Pháp ở Điện Biên Phủ chỉ có 16.200 người, trong khi lực lượng Việt Minh gồm bộ đội và dân công có số lượng vượt trội nên đã tràn ngập chiến trường.

Về mặt quân sự, người Pháp đã hoàn toàn thất bại ở Đông Dương nhưng, xét về khía cạnh nhân bản, hàng trăm ngàn sinh mạng người Việt đã phải nằm xuống tại Điện Biên. Chiến tranh, dù thất bại hay thành công, đều có những cái giá quá đắt của nó.

***

(Trích Hồi Ức Một Đời Người – Chương 1: Thời thơ ấu)

Hồi Ức Một Đời Người gồm 9 Chương:

  1. Chương 1: Thời thơ ấu (từ Hà Nội vào Đà Lạt)
  2. Chương 2: Thời niên thiếu (Đà Lạt và Ban Mê Thuột)
  3. Chương 3: Thời thanh niên (Sài Gòn)
  4. Chương 4: Thời quân ngũ (Sài Gòn – Giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội)
  5. Chương 5: Thời cải tạo (Trảng Lớn, Trảng Táo, Gia Huynh)
  6. Chương 6: Thời điêu linh (Sài Gòn, Đà Lạt)
  7. Chương 7: Thời mở lòng (những chuyện tình cảm)
  8. Chương 8: Thời mở cửa (Bước vào nghề báo, thập niên 80)
  9. Chương 9: Thời hội nhập (Bút ký những chuyến đi tới 15 quốc gia và lãnh thổ)

Tác giả còn dự tính viết tiếp một Chương cuối cùng sẽ mang tên… Thời xuống lỗ (thập niên 2000 cho đến ngày xuống lỗ)!

***

2 Comments on Multiply

linalol wrote on Nov 27, '11
Cám ơn anh. Bài viết đã giúp hiểu hơn về những năm tháng cũ.

130353 wrote on Dec 21, '11
Cám ơn tác giả

--> Read more..

Chủ Nhật, 9 tháng 9, 2012

Thời thơ ấu: từ Vĩnh Yên đến Hà Nội (1)

Tôi chào đời tại thị xã Vĩnh Yên, cách Hà Nội khoảng 55km. Qủa thật đây là một địa danh cho đến lúc này, dù trên đầu đã hai thứ tóc, vẫn còn hoàn toàn xa lạ đối với với tôi. Tôi chỉ biết Vĩnh Yên qua một vài câu chuyện của mẹ.

Theo phong tục thời đó, trong gia đình tôi cũng như một số gia đình khác ở miền Bắc, con cái gọi cha bằng Cậu và gọi mẹ bằng Mợ. Cậu Mợ cũng đi vào văn học Việt Nam từ thời Tự Lực Văn Đoàn bên cạnh những từ khác dành cho đấng sinh thành: ba, bố, thầy, tía... và me, mẹ, má, mạ, bầm, u, đẻ...

Tôi sinh ngày 19 tháng 6 năm 1946, khoảng 5g sáng. Tôi vẫn thường nói đùa với con cháu: "Ngày xưa sinh nhật của ông lớn lắm vì trùng vào ngày Quân lực VNCH". Đó cũng là thời điểm Việt Minh và Quốc Dân Đảng đang đánh nhau. Nghe nói ở Vĩnh Yên, Quốc Dân Đảng đã lập chiến khu đánh cả Nhật lẫn Pháp. Tuy nhiên, nổi trội hơn cả là một tổ chức có tên Việt Minh được Đồng Minh giúp vũ khí tiền bạc để chống phát xít Nhật. Thế rồi Quốc Dân Đảng và Việt Minh lại trở súng thanh toán lẫn nhau một cách không thương tiếc.

Trong bối cảnh hỗn mang đó, mọi người trong ngày 19/6/1946 đều trốn xuống hầm và chỉ còn mẹ tôi nằm trơ trọi bên đứa con còn đỏ hỏn giữa hai lằn đạn Quốc Dân Đảng và Việt Minh. Nghe kể lại thì cũng may có chú bếp bò lên tiếp tế thức ăn cho mẹ tôi được đúng một lần. Mãi đến chiều, ngớt tiếng súng, mẹ tôi mới được bà đỡ săn sóc và đến tối bố tôi mới vào thăm vì phải lo chuyện chiến sự.

Tôi chỉ còn nhớ loáng thoáng là bố theo Quốc Dân Đảng. Ông Nguyễn Thái Học là người thành lập Quốc Dân Đảng từ năm 1927 với chủ trương dành độc lập trong tay thực dân Pháp theo mô hình của Tôn Dật Tiên bên Trung Hoa. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930 của Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu là một thất bại trong việc chống Pháp nhưng Nguyễn Thái Học đã để lại cho đời một câu nói bất hủ: “Không thành công cũng thành nhân”.

Quốc Dân Đảng được thành lập trước Đảng Cộng sản Đông dương 3 năm nhưng đảng chỉ được sự hậu thuẫn của giới trí thức thành thị và binh lính trong quân đội thuộc địa, trong khi đảng Cộng sản lại dựa vào công nhân và nông dân. Sau khi Nhật đầu hàng đồng minh năm 1945, Cộng sản ra sức thanh trừng Quốc Dân Đảng để dành vị trí lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp.    

Sau này, tìm hiểu về địa danh Vĩnh Yên mới biết nơi đây đã xảy ra cuộc chiến đầu tiên trong chiến tranh Đông Dương giữa một bên là Jean de Lattre de Tassigny, vị tướng người Pháp lừng danh thời thế chiến thứ hai, và tướng Võ Nguyên Giáp của Việt Minh. Cuộc chiến kéo dài từ ngày 13 đến 17/1/1951.

Trước khi tướng De Lattre đến Hà Nội vào tháng 12/1950, quân đội Pháp đã thiệt hại khoảng 6.000 quân trong các cuộc đột kích liên tục của Việt Minh dọc theo Đường thuộc địa số 4. Paris phải điều vị tướng tài ba sang Việt Nam trước tình hình quân sự ngày càng tồi tệ. Tướng Võ Nguyên Giáp chọn chiến trường Vĩnh Yên là nơi thử thách tài thao lược của De Lattre.

Bảo vệ Vĩnh Yên, Pháp có 2 tập đòan quân di động (GM) khoảng 6.000 người và Việt Minh điều động 2 sư đoàn 308 và 312 từ Việt Bắc về vùng đồi núi Tam Đảo bao quanh thị trấn Vĩnh Yên. Với chiến thuật biển người, tướng Giáp tấn công Vĩnh Yên và quân đội Pháp phản công bằng bom napalm, lần đầu tiên được xử dụng tại Việt Nam. Pháp đã thắng tại Vĩnh Yên nhưng đây mới chỉ là chiến thắng ban đầu và cuối cùng đã chịu thua Việt Minh sau trận Điện Biên Phủ năm 1954.

***

Bức hình ba anh em, xưa nhất mà tôi còn giữ đến tận bây giờ, được chụp tại Hà Nội. Lúc đó tôi khoảng 3 hay 4 tuổi, chú bé phía bên phải là em trai Nguyễn Ngọc Quang và cô bé Nguyễn Thị Dung còn ngậm vú nằm gọn trên bàn. Chiếc bàn bằng mây, một kiểu bàn ghế thông dụng của thời tiền chiến.

Tuy nhỏ hơn tôi 2 tuổi nhưng Quang có khuôn mặt bầu bĩnh hơn, phải công nhận cu cậu ‘đẹp mã’ và ‘to con’ hơn tôi rất nhiều. Điều đáng tiếc là Quang mất sau khi chụp bức hình này độ vài tháng. Người tin dị đoan sẽ bảo là chụp hình 3 người nhưng tôi không nghĩ như vậy.

Bức ảnh xưa nhất của 3 anh em: tôi đứng phía sau,
Quang bên phải và Dung nằm trên bàn

Như đã nói, Vĩnh Yên là một địa danh quá mờ nhạt đối với tôi dù sau này, khi còn ở Hà Nội, tôi đã có một hai lần trở lại vào dịp nghỉ hè. Với trí nhớ của một chú bé, tôi chỉ hình dung Vĩnh Yên có... mùi chua chua, có lẽ đó là mùi đặc trưng của đồng quê miền Bắc. Thì ra đó là mùi của cây tre ngâm nước lâu ngày nên mới có mùi… cơm thiu!

Tại thị xã Vĩnh Yên, Cô Mơ, em của mẹ, có một cửa hàng chụp ảnh, một hình thức photo studio ngày nay. Tôi nhớ rõ sự kiện này vì còn giữ vài tấm hình chụp tại đây với phông nền vẽ hình con thuyền đang lờ đờ trôi trên sông nước. Cảnh chẳng hợp tí nào với một cậu bé đứng trước hình ảnh thơ mộng kiểu người lớn.

Hình chụp năm1953 (trước khi vào Nam)

Bức hình thứ hai chụp chung với Vinh, con cô Mơ, cũng vẫn trước phông cảnh sông nước hữu tình. Gia đình bên ngoại tôi có truyền thống đặt tên con theo các loại trái cây: mẹ tôi tên Mận, em gái tên Mơ, chị cả tên Lựu, cậu út tên Đào. Thậm chí bà ngoại cũng có tên Quýt khiến trong nhà mỗi khi nói đến trái quýt phải gọi trại là ‘cam nhỏ’ vì sợ... phạm húy!
  
Hình chụp tại Vĩnh Yên

Vĩnh Yên nổi tiếng với dãy núi Tam Đảo, có đến hơn 20 ngọn núi ở độ cao 1.600m, ngày nay được gọi là Vườn quốc gia Tam Đảo. Nơi đây đã trở thành một địa điểm nghỉ dưỡng do người Pháp thành lập với hàng trăm biệt thự nằm rải rác khắp khu vực. Những tòa nhà Tây ngày nay chỉ còn là phế tích trong hoang tàn, đổ nát, trơ ra những móng, tường, công trình ngầm nằm lẫn với cỏ cây, rêu phong, nắng mưa...

Người ta nói, ở Tam Đảo một ngày có đến 4 mùa: buổi sáng se se gió xuân, buổi trưa có nóng ấm mùa hạ, buổi chiều lãng đãng heo may của mùa thu và buổi tối có cái lạnh giá của mùa đông. Thị trấn còn có Thác Bạc cao khoảng 30m. Từ trên cao, thác đổ xuống một dòng nước bạc lóng lánh dưới ánh mặt trời. Đôi khi có cả ánh cầu vòng phản chiếu trong nắng.

Tuy không sánh bằng Đà Lạt ở Cao nguyên Trung phần, Tam Đảo là khu nghỉ mát bậc nhất miền Bắc. Chỉ tiếc một điều là cho đến bây giờ tôi vẫn chưa một lần về thăm nơi chôn nhau cắt rốn. Có một sự tình cờ và trùng hợp khá ngạc nhiên. Vĩnh Yên - Tam Đảo, nơi tôi ra đời vốn là một nơi nghỉ mát nổi tiếng của miền Bắc. Đến thời thơ ấu, tôi lại lớn lên tại Đà Lạt, thành phố nghỉ mát tại cao nguyên, thời đó còn được gọi là Hoàng triều Cương thổ - đất của nhà vua!

Người ta nói ông Hồ Chí Minh khi còn sống có một nguyện vọng tha thiết là khi lìa đời sẽ được yên nghỉ tại vùng núi Tam Đảo, đồng thời ước mong mỗi người đến thăm mộ sẽ mang một cây nhỏ trồng trên núi. Nếu đúng như vậy, đây là một nguyện vọng rất phù hợp với ‘phong trào xanh’ đang thịnh hành trên khắp thế giới ngày nay.

Mãi sau này tôi mới nhận ra: Vĩnh Yên là tên thị xã, Tam Đảo là tên thị trấn, cả hai đều nằm trong tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày nay, Vĩnh Phúc bao gồm thành phố Vĩnh Yên và thị trấn Phúc Yên. Trong "sơ yếu lý lịch" của chế độ này, nguyên quán và quê quán là hai phần đòi hỏi sự tách biệt rõ ràng khiến tôi nhiều lúc phải băn khoăn khi đặt bút khai. Tôi chỉ biết điền vào hai chữ Vĩnh Yên trong khi người ta lại đòi hỏi phải chi tiết hơn về quận, huyện, phường, xã.

Sau 1975, tôi có dịp ra Bắc nhiều lần nhưng chỉ loanh quanh ở Hà Nội, từ những khách sạn bình dân như Ngọc Lan trên đường Nguyễn Thái Học đến những nơi sang trọng như Meritus (West Lake) ở Hồ Tây hay Guoman gần báo Vietnam News. Chưa lần nào tôi về lại Vĩnh Phú, Vĩnh Phúc hay Vĩnh Phúc Yên để tìm hiểu về nơi đã sinh ra đời. Chuyến đi xa nhất trong một lần ở Hà Nội là về Hà Tây để tìm hiểu về gia đình Tuyết (Liễu) trước khi cô gái này trở thành con dâu trong gia đình.

Người ta có thể nói vì không nặng tình với quê hương của mình nên tôi chẳng bao giờ trở lại chốn cũ trong khi có thừa điều kiện để đi đó đi đây. Đây là một thái độ dứt khoát của gia đình tôi: sau 1975 không hề liên lạc với một người bà con nào ở miền Bắc trong khi hầu hết các gia đình có gốc miền Bắc tìm cách nối lại quan hệ họ hàng với người thân từ miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa. Có thể đây là một thái độ sai lầm nhưng ít ra cũng giúp gia đình tôi tránh được cảnh dở khóc dở cười khi "người miền Nam nhận họ, người miền Bắc nhận... hàng".

Họ vào miền Nam trước là gặp lại họ hàng sau là tha về Bắc từ con búp bê mất tay và các thứ ‘chổi cùn, giẻ rách’ đến các món xa xỉ như đồng hồ, xe đạp, radio, TV, xe Honda... Đó là một thực tế đau lòng khi giữa hai miền có một sự khác biệt về tiện nghi đời sống vật chất trong thời buổi đất nước vừa thống nhất hai miền.

Anh bộ đội trên đường trờ về quê từ miền Nam 

Cho đến bây giờ, hố ngăn cách giữa hai miền Nam-Bắc vẫn còn đó. Tôi nghĩ, phải chờ cho đến khi không còn những người thuộc thế hệ tôi may ra mới được san lấp. Giữa cuộc di cư của người Bắc vào Nam năm 1954 và cuộc "Nam Tiến" của người miền Bắc sau năm 1975 là hai biến cố lớn nhưng có những hệ quả khác hẳn nhau.   

Năm 1954, với hơn 1 triệu người Bắc vào Nam đã tác động một cách tích cực đến cuộc sống của người miền Nam. Người Bắc vốn cần cù, chí thú làm ăn đã thay đổi hẳn nhân sinh quan của người miền Nam vốn sống dễ dãi vì được thiên nhiên ưu đãi. Hơn nữa, thành phần di cư vào Nam đa số là công chức, quân nhân nên trình độ tương đối cao hơn giới lao động tay chân. Văn nghệ sĩ di cư cũng đã góp phần thay đổi nền văn học miền Nam bấy giờ, tạo nên một giai đoạn văn hóa phát triển rực rỡ, tiêu biểu cho một chính thể, một quốc gia độc lập. Cho đến bây giờ, nền văn học miền Nam vẫn là niềm tự hào, hãnh diện của người miền Nam.

Thế nhưng, điều tương tự đã không xảy ra sau 1975. Đơn giản là vì có sự cách biệt rất lớn về văn hóa, xã hội, hay nói chung là trình độ dân trí giữa hai miền Nam Bắc. Văn hóa nói chung, văn học nói riêng của miền Bắc sau gần 20 năm dưới chế độ Xã hội Chủ nghĩa đã đi theo một con đường khác hẳn miền Nam.

Cho đến bây giờ, người ta vẫn không thể xóa nhòa trong ký ức của người miền Nam, và thậm chí cả về sau này trong lịch sử, hành động của đám thanh niên rầm rộ đi đến từng nhà để tịch thu sách vở, văn hóa ‘ngụy’. Thua một thế lực dường như kém cỏi hơn mình về nhiều mặt khiến người miền Nam ‘uất ức’ trong chiến bại, mang trong lòng tâm trạng ‘kiêu hãnh’ của kẻ ‘ngã ngựa’ bởi những lý do ngoài ý muốn. 

(Còn tiếp)

***

(Trích Hồi Ức Một Đời Người – Chương 1: Thời thơ ấu)

Hồi Ức Một Đời Người gồm 9 Chương:

  1. Chương 1: Thời thơ ấu (từ Hà Nội vào Đà Lạt)
  2. Chương 2: Thời niên thiếu (Đà Lạt và Ban Mê Thuột)
  3. Chương 3: Thời thanh niên (Sài Gòn)
  4. Chương 4: Thời quân ngũ (Sài Gòn – Giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội)
  5. Chương 5: Thời cải tạo (Trảng Lớn, Trảng Táo, Gia Huynh)
  6. Chương 6: Thời điêu linh (Sài Gòn, Đà Lạt)
  7. Chương 7: Thời mở lòng (những chuyện tình cảm)
  8. Chương 8: Thời mở cửa (Bước vào nghề báo, thập niên 80)
  9. Chương 9: Thời hội nhập (Bút ký những chuyến đi tới 15 quốc gia và lãnh thổ) 
Tác giả còn dự tính viết tiếp một Chương cuối cùng sẽ mang tên… Thời xuống lỗ (thập niên 2000 cho đến ngày xuống lỗ)!



--> Read more..

Popular posts