Hiển thị các bài đăng có nhãn Đà Lạt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đà Lạt. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2024

Vùng đất sương mù thời niên thiếu

 Ngay từ những ngày chập chững bước vào đời, Đà Lạt đối với tôi là một vùng đất vừa lạ… lại vừa quen!

Tôi chào đời năm 1946 và đến năm 1953 đã “bay” từ Hà Nội vào thẳng phi trường nhỏ ở Cam Ly thay vì phi trường chính Liên Khương trên Đà Lạt. Mới 7 tuổi, không ngờ đã trải qua một cuộc “thiên di” từ Bắc vào Nam bằng máy bay quân đội vì hồi đó bố tôi phục vụ trong lực luợng Ngự Lâm Quân của Bảo Đại.

 

Phi trường Cam Ly, Đà Lạt

 

Lúc đó, Đà Lạt còn được gọi bằng cái tên “Hoàng triều Cương thổ”, hiểu nôm na là… vùng đất được xây dựng cho riêng vị vua cuối cùng của Việt Nam và những “người đẹp” của nhà vua. Ông được mệnh danh là… “dân chơi hoàng gia”.

Vua Bảo Đại đã chọn vùng đồi núi thơ mộng với những đồi thông xanh biếc, hồ nước trữ tình để biến thành một nơi nghỉ ngơi, săn bắn ngoài những giờ lo việc quốc gia đại sự tại vùng đất Thần Kinh ngoài Huế.

Dĩ nhiên là vua Bảo Đại đã không lầm khi chọn Đà Lạt và cũng may cho số ít thần dân của ông đã quy tụ về đây, trong đó có gia đình tôi.

 

Bố tôi trong bộ quân phục Ngự Lâm Quân

 

Những ngày đầu tiên vào Đà Lạt, gia đình tôi ở nhờ nhà người bạn của bố trên đường Cầu Quẹo, ông cũng là dân Ngự Lâm Quân. Cầu Quẹo ngày nay thuộc đường Phan Đình Phùng, nơi có rạp xinê Ngọc Hiệp, một trong 2 rạp nổi tiếng tại Đà Lạt, rạp kia là Ngọc Lan nằm gần khu Hoà Bình.

Chẳng bao lâu sau, hai người “lính ngự lâm” mua được một căn nhà trên đường Lê Thái Tổ, cách Trại Hầm chẳng bao xa. Nhà là biệt thự của một luật sư người Pháp đang sửa soạn về nước với kiến trúc “song hành”, nghĩa là gồm 2 phần dính vào nhau tựa như một cặp song sinh.

 

Căn nhà tại Đà Lạt, hình chụp năm 2004

 

Đà Lạt khi đó có 2 chùa thuộc loại “xưa nay hiếm”: Chùa Linh Sơn ở ngoài phố còn chùa Linh Phong ở tận Trại Hầm, đặc biệt là nơi tu hành của các sư nữ. Bố mẹ tôi đều quy y tại Linh Phong  và đến khi hai người mất đều an nghỉ trong nghĩa trang Trại Hầm, rất gần với nơi quy y khi còn sinh thời!

 

Chùa Linh Phong, Trại Hầm

 

Tôi đã trải qua thời niên thiếu tại đây, cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 3 km. Phương tiện di chuyển hàng ngày của chúng tôi là những chuyến “xe đò” mang tên Trại Hầm - Đà Lạt.

Xuất phát từ thung lũng Trại Hầm (nơi nổi tiếng về các vườn mận Đà Lạt), xe đi theo lộ trình từ đường Lê Thái Tổ rồi đổ một con dốc nhỏ xuống đại lộ Trần Hưng Đạo, nơi có những biệt thự đẹp nổi tiếng dọc hai bên và sau đó bắt đầu đổ một con dốc dài để đến hồ Xuân Hương.

Sau khi vượt qua một chiếc cầu mang tên Ông Đạo, xe đò lại leo một con dốc nhỏ để đến chợ Đà Lạt và kết thúc cuộc hành trình Trại Hầm – Đà Lạt tại bến xe, nơi hội tụ các chuyến khác đến từ Chi Lăng (St. Benoit), khu Địa Dư, Tùng Nghĩa…

 

Bùng binh Đà Lạt & cầu Ông Đạo ngày ấy và bây giờ đã thay đổi rất nhiều

 

Riêng tôi lại còn phải cuốc bộ thêm một đoạn nữa để đến trường Nam Tiểu Học Đà Lạt, nơi tôi bắt đầu việc học hành ở tiểu học. Đến năm sửa soạn lên Lớp Nhì, ông anh tôi lại kèm cho tôi “học nhảy” để đi thi tiểu học nên phải chuyển sang trường Đa Nghĩa để học Lớp Nhất.

 

Hãnh diện với Bảng Danh Dự chụp năm 1954 tại Đà Lạt

 

Trường Đa Nghĩa xa hơn trường Nam Tiểu Học cho nên đoạn đường cuốc bộ từ bến xe đò đến trường mới xa hơn nhiều nhưng tiếc một điều là năm đó tôi lại không đậu Tiểu học cho nên bị “đúp” lại một năm. Thế là đâu vẫn hoàn đấy, phải học lại 2 năm ở Lớp Nhất.

 

Trường Tiểu học Đa Nghĩa

 

Cũng may, khi thi tuyển vào Đệ Thất trường Trần Hưng Đạo tôi đã trúng tuyển nhưng đoạn đường đi bộ đến trường lại dài hơn rất nhiều. Đó cũng là một sự may mắn được vào học trường công cho đến khi chuẩn bị vào năm Đệ Ngũ. Một lần nữa, gia đình tôi lại “thiên di” về Ban Mê Thuột theo bước đường công vụ của bố!

Nhìn lại quãng đường học tập của tôi đã gặp quá nhiều biến đổi nhưng cũng an ủi là những ngày ở Đà Lạt giúp tôi hình thành một thứ tình cảm gắn kết với thành phố sương mù mà tôi, cho đến bây giờ, vẫn coi là “quê hương thứ hai”!

 

Gia đình chụp tại cổng tam quan chùa Linh Phong nhân một chuyến trở về.quê hương thứ hai

 

Đà Lạt là nơi tôi có quá nhiều kỷ niệm của thời thơ ấu. Ngày xưa những học sinh ở xa trường thường phải mang theo “gà-mên” cơm trưa vì trường học 2 buổi. Ngay cả thầy giáo cũng vậy, có thầy cũng ở lại với chúng tôi và khi đó tình thầy trò thắm thiết hơn bao giờ hết.

Đoạn đường từ bến xe đò đến trường thường phải qua nhiều vườn trồng rau hay quả vì chúng tôi chọn đường tắt cho ngắn. Đây cũng là dịp để những học trò lén hái trộm những quả dâu tươi rồi đút ngay vào mồm mặc dù biết rằng dâu có khi được tưới bằng… nước tiểu!

 

Huy hiệu trường Trung học Trần Hưng Đạo Đà Lạt

 

Riêng tại trường Trần Hưng Đạo có một sân banh “mini” gần ngay bên hồ Vạn Kiếp. Thế là thường có những trận banh giao hữu giữa các khu vực của học sinh, nổi bật nhất là khu Địa Dư và Chi Lăng có nhiều cầu thủ xuất sắc trong việc dẫn bóng và ghi bàn.

Sau mỗi trận đấu, cầu thủ hai bên kéo nhau xuống hồ tắm rửa để chuẩn bị vào lớp buổi chiều. Nhiều khi còn cay cú ăn thua nên hẹn nhau lúc tan học sẽ thi đấu tiếp. Mải tranh tài nên nhiều lúc quên cả giờ xe đò chuyến chót rời bến.

Thế là đoạn đường từ trường về đến nhà hơn 3 cây số phải hoàn toàn trông cậy vào cặp giò. Thế vẫn chưa xong, trên đường về nhà còn phải tìm lời giải thích với bố mẹ. Lý do thường là “thầy bắt ở lại học cho xong bài”… hay “không hiểu tại sao xe đò nghỉ sớm hơn mọi ngày”!

 

Tôi trong tấm ảnh đầu tiên để làm thẻ học sinh

 

So với học sinh ngày nay, chúng tôi “quá hiền”! Ngày đó làm gì có những phút đắm mình vào game trên điện thoại, làm gì có việc phóng xe gắn máy về nhà cho lẹ như ngày nay?

Thời buổi văn minh, hiện đại đem lại cho con người nhiều tự do để làm những điều mình thích… Nhưng tự do vốn không phải đơn giản là làm điều mình thích, làm những thứ mình muốn hay sống một cuộc sống mà không vướng bận một điều gì.

Tự do thực sự là khi ta có thể cảm nhận rằng trong một phút giây nào đó của cuộc đời mình ta có thể ngồi lặng yên và nhắm mắt ngủ mà không thấy lo lắng hay phiền muộn nào trong lòng cả.

Cho đến giờ, kỷ niệm của những ngày sống giữa thông xanh và hồ nước lững lờ đã trở thành một hồi ức đẹp trong lòng của một người gần bước sang… chuyến tàu định mệnh của cuộc đời.

Chuyến tàu chót đó không có vé khứ hồi vì chẳng biết sẽ đi về đâu! 

 

***
--> Read more..

Thứ Sáu, 18 tháng 2, 2022

“Giang hồ Sài Gòn” đại chiến “Anh chị Đà Lạt”

Thập niên 60, khi còn học trung học tại trường Trần Hưng Đạo Đà Lạt, tôi đã nghe danh “Xí Rỗ” dù chưa một lần diện kiến. Dân anh chị thành phố Sương mù ai cũng nghe đến tên anh Xí, vì có khuôn mặt rỗ nên trở thành biệt danh “Xí Rỗ”.

Băng nhóm Xí Rỗ không chỉ “chăm sóc” khu chợ Hòa Bình mà còn tung hoành khắp thị xã Đà Lạt, từ bến xe đến nhà hàng, khách sạn, vũ trường... hễ ai không “nộp thuế” cho “anh chị” là gặp chuyện “dữ nhiều, lành ít” ngay.

 

Khu Hòa Bình, Đà Lạt

 

Rất nhiều giai thoại được thêu dệt quanh Xí Rỗ nhưng nổi bật nhất là chuyện đụng độ với thủ lãnh giang hồ Sài Gòn là Đại Cathay. Xét về “tiếng tăm” thì Đại Cathay có phần “nhỉnh” hơn nhưng cuộc đụng độ lại xảy ra tại Đà Lạt nên Xí Rỗ có lợi thế... “sân nhà”!

Tại Sài Gòn, Đại Cathay có “công tử” Hoàng Kim Lân “chống lưng”. Lân vốn là “quý tử” của Hoàng Kim Qui, một thương gia nổi tiếng với biệt danh “ông vua kẽm gai”, giàu lên nhờ chiến tranh qua các “áp phe” thầu dây kẽm gai bảo vệ ấp chiến lược và các đơn vị phòng thủ của quân đội.

Trong băng công tử bột của Lân có hai anh em người Hoa là Dách Bửu và Dì Bửu, là con của chủ nhà hàng Mékong. Khi ấy, chủ Mékong không những có hai nhà hàng sang trọng tại Sài Gòn và Chợ Lớn, còn mở cả nhà hàng tại thủ đô Bangkok, Thái Lan, và tại thủ đô Phnom Penh, Campuchia.

Đang lúc ăn nên làm ra nên Mékong lập thêm một nhà hàng nữa ở Đà Lạt. Nhân dịp khai trương nhà hàng này, Dách Bửu và Dì Bửu mời Hoàng Kim Lân lên Đà Lạt dự lễ, đồng thời nhờ Lân mời luôn Đại Cathay và... “đoàn tùy tùng”.

Đại kéo luôn một lô đàn em thân tín lên cao nguyên đổi gió. Đi cùng tay trùm du đãng Sài Gòn còn có Lâm “Chín ngón”, Hải “Súng”, Cu Quì, Sáng, Phong, Năm Công... chất lên hai xe du lịch Mustang và Traction không đủ nên phải đi nhờ cả xe của Hoàng Kim Lân.

 

Ảnh chụp bên hông nhà hàng Mékong, góc đường Tăng Bạt Hổ, Đà Lạt

 

Cùng thời gian ấy có đoàn cải lương từ Sài Gòn lên Đà Lạt lưu diễn tại nhà hát ngay khu chợ Hòa Bình. Các kép chính trong đoàn vốn cũng không xa lạ gì với Đại Cathay vì họ hay lui tới hút thuốc phiện tại tiệm Khang Thành và đã nhiều lần gặp Đại Cathay cùng đám nhà văn như Duyên Anh, Hoàng Hải Thủy... 

Liên tiếp hai đêm, đoàn cải lương không ngớt than khổ vì “dân anh chị” Đà Lạt đến gây rối. Đám giang hồ này đâu khoảng trên dưới 20 tên, do Xí Rỗ cầm đầu, câu kết cả với lính địa phương. 

Đêm hát nào băng Xí Rỗ cũng đòi “coi cọp”, không chỉ cho riêng mình mà còn cho cả nhóm lính địa phương và luôn cả họ hàng, bạn bè thân thuộc với số người “ăn theo” lên đến hàng trăm. Đã thế, chúng lại còn yêu cầu đoàn cải lương phải trả “tiền bảo kê” cho mỗi xuất hát!

Nghe qua lời than thở, Đại Cathay nổi máu anh hùng và ưỡn ngực hứa: “Để đấy tôi lo cho!”. Thế là cuộc đụng độ “vô tiền khoáng hậu” giữa nhóm giang hồ Đại Cathay và dân anh chị Xí Rỗ trên đất Đà Lạt xảy ra.

 

Đại Cathay bên người đẹp

 

Dưới đây là diễn biến câu chuyện do Vũ Quang Hùng kể lại trong “Giang Hồ Sài Gòn”:

“Khoảng 8 giờ tối hôm ấy, Đại Cathay kéo nguyên băng ra bến xe gần chợ Hòa Bình tìm Xí Rỗ, thì Xí Rỗ đang ngồi nhậu với bầy lâu la ngay quán nhậu kế bến xe chớ đâu. Ngoài khoảng hơn chục tên du đãng xứ hoa anh đào còn có cả tiểu đội địa phương quân cũng túm tụm uống rượu, bia với mồi là con heo quay béo ngậy.

“Súng cạc-bin, ga-răng dựa ngay bên bàn nhậu. Riêng Xí Rỗ cởi trần trùng trục mặc dù trời tối Đà Lạt trời lạnh như cắt, có lẽ một phần hắn muốn khoe thân hình lực lưỡng cuồn cuộn cơ bắp, một phần do nhờ rượu tỏa năng lượng sưởi ấm cơ thể (?).

”Đại Cathay dẫn đầu băng du đãng Sài Gòn, tiến thẳng đến trước tiệc nhậu, lớn tiếng (tuy hắn dễ dàng nhận ngay ra Xí Rỗ với khuôn mặt rỗ đặc trưng):

- Ai là Xí Rỗ đâu?

“Thấy có kẻ kêu đích danh mình, lại có vẻ hống hách, Xí Rỗ không thèm đứng dậy, hếch mặt, tay không buông ly rượu đang uống dở:

- Tao đây! Có chuyện gì vậy?

“Đại Cathay gằn giọng:

- Tao muốn nói chuyện với mày về vụ nhà hàng Mékong và đoàn cải lương. Mày có biết tao là ai không?

“Xí Rỗ hừ một tiếng, dằn mạnh ly rượu xuống bàn:

- Biết chớ! Biết cả chuyện mày lên đây đã mấy ngày rồi mà không lại chào tao. Giờ mày muốn gì?

“Đại Cathay cố nén giận:

- Nhà hàng Mékong và đoàn cải lương là chỗ bạn bè của tao, mày vuốt mặt phải nể mũi.

“Xi Rỗ vụt đứng dậy:

- Mày là cái thá gì mà tao phải nể? Rừng nào cọp nấy. Sài Gòn của Đại Cathay. Đà Lạt này của Xí Rỗ, không được lôi thôi gì hết!

“Nãy giờ đã hầm hầm trong bụng, Sáng người nhái thuộc phe Đại Cathay nghe đến đây tức khí móc luôn khẩu Colt 45 giấu bên hông ra, thẳng tay quật bá súng vô sau ót Xí Rỗ.

"Nhưng Xí Rỗ không phải tay vừa, đã kịp hụp đầu xuống làm bá súng chỉ sớt ngang vai. Rồi như một con thú bị thương, lại thêm hơi men hừng hực, Xí Rỗ bất thần cúi đầu, khom người dùng hết sức lao ngay ngang bụng Đại Cathay.

“Quá bất ngờ, bị trúng đòn “đầu quyền”, Đại ngã ngồi phịch xuống đất. Nhưng không hổ danh Zimbô, Đại đã kịp vòng tay ôm lấy cổ Xí Rỗ kéo hắn ngã theo. Xí Rỗ khỏe như con trâu điên, siết chặt ngang lưng Đại...

“Và cứ thế, hai tay đầu sỏ du đãng vừa ôm cứng lấy nhau, vừa ra đòn quyết liệt, nào đấm, nào đá, nào siết cổ, nào chận họng, nào móc mắt, nào thúc cùi chỏ, nào lên đầu gối, nào bẻ ngón tay, toàn dùng các thế hiểm hóc như “tiểu cầm nã thủ pháp” trong truyện chưởng do các đại cao thủ võ lâm sử dụng khi cận chiến.

“Chiến trường nằm ngay trên sườn dốc nên chẳng mấy chốc cả Đại Cathay lẫn Xí Rỗ đều lăn lông lốc theo con dốc thoai thoải, có lúc Xí Rỗ đè lên người Đại, có khi Đại lại ấn được đầu Xí Rỗ xuống...

“Quân binh hai bên cũng xấp lá cà, có điều chỉ toàn thượng cẳng tay hạ cẳng chân mà không bên nào dùng đến súng ống, theo đúng điệu dân chơi khi ấy.

"Tin cấp báo đến Ty Cảnh sát Đà Lạt. Nguyên một đại đội cảnh sát dã chiến trang bị vũ khí đến tận răng được điều đến khu vực chợ Hòa Bình.

“Khi cảnh sát tới nơi thì hai phe du đãng Sài Gòn và dân chơi Đà Lạt đã đập phá tanh bành mấy quán nhậu, dùng bàn ghế trong quán làm vũ khí. Riêng hai “chủ tướng” Đại Cathay và Xí Rỗ đã ôm vật nhau lăn hết con dốc.

“Thấy số người lâm chiến quá đông, lại đang hăng máu, cảnh sát nổ súng thị uy. Ai dè bọn địa phương quân nghe tiếng súng tưởng đâu phe Đại xài “chó lửa” liền xách súng ra “chơi” lại.

“Cảnh sát dã chiến đông hơn, súng ống hiện đại hơn, coi mòi chiếm ưu thế. Các xạ thủ dùng luôn bến xe làm bãi chiến trường với vật cản là những chiếc xe hơi. Thấy lực lượng yếu hơn, địa phương quân báo cáo về đơn vị xin tăng cường một đại đội vũ trang mạnh vì... “Việt Cộng tràn vô thành phố” (!).

“Đến lượt cảnh sát dã chiến lép vế, yêu cầu chi viện một đại đội nữa. Súng nổ vang trời, đạn như pháo bông... Tình hình không ai đoán nổi sẽ diễn biến ra sao nếu tỉnh trưởng Đà Lạt không đích thân can thiệp và đôi bên đành chấp nhận ngưng chiến. Cũng ngộ: súng nổ như bắp rang cả giờ đồng hồ mà không ai trúng đạn!

“Trong khi ấy, Dách Bửu hay tin chiến sự, vội lái chiếc xe “con cóc” 2CV đến tận chợ Đà Lạt, chở Đại Cathay, Hải Súng và Cu Quì vọt thẳng về Sài Gòn cho khỏi ai hỏi han lôi thôi.

“Đại Cathay qua trận kịch chiến với Xí Rỗ bị trặc cổ chân, đi cà nhắc, phải nhờ đàn em đỡ lên xe. Còn Xí Rỗ mặt mày thâm tím, thân mình trầy xướt tùm lum y như con gà chọi, sợ quá, chạy tuốt vô rừng trốn biệt suốt đêm, sáng hôm sau mới dám mò về.

"Dân du đãng, giang hồ mạnh ai nấy tìm đường thoát thân, cũng chẳng ai bị bắt, coi như... huề cả làng!

 

Chợ Cũ được xây lại sau khi Chợ Gỗ bị cháy. Dãy Mekông, Việt Hoa, được xây bằng gạch, cộng thêm khu Vĩnh Chấn, tiệm thuốc Tây Nguyễn Văn An

 

Đại Cathay không thể ngờ đó là chuyến đi Đà Lạt cuối cùng của mình. Những sự việc diễn biến tiếp theo sẽ chứng tỏ điều này. Trước hết là điềm báo hiệu ngày tàn của băng du đãng Sài Gòn qua vụ nội bộ tự thanh toán lẫn nhau, với hậu quả hai tên đàn em thân tín của Đại Cathay là Bồng và Thu bị bắn chết ngay tại sòng bài, giữa thanh thiên bạch nhật.

 

Bánh mì Vĩnh Chấn là lò bánh mì điện đầu tiên tại Đà Lạt tại đầu đường Duy Tân

 

Người ta thường nói “chơi dao có ngày đứt tay”... Điều này không loại trừ những trường hợp bi thảm của giới giang hồ và anh chị!

 

***

 * Tham khảo thêm “Huyền thoại giang hồ Sài Gòn” tại:

https://chinhhoiuc.blogspot.com/.../huyen-thoai-giang-ho...

 ***

--> Read more..

Thứ Năm, 6 tháng 6, 2019

Chuyện tình Lê Uyên & Phương



Cuối thập niên 60, tôi chuyển trường từ Ban Mê Thuột sang trường Trần Hưng Đạo, Đà Lạt, học năm Đệ Nhất (ngày nay là lớp 12). Tôi trọ học tại đường Võ Tánh, đoạn gần với trường Chiến tranh Chính trị, Đại học Đà Lạt và trường nữ Bùi Thị Xuân.

Xin bắt đầu “Chuyện tình Lê Uyên & Phương” với câu chuyện “Đà Lạt sương mù: Năm tháng ngao du” đã đăng trên Blogspot, Nguyễn Ngọc Chính’s Hồi ức một đời người, https://chinhhoiuc.blogspot.com/2012/09/a-lat-suong-mu-nam-thang-ngao-du.html:

“Ở Đà Lạt, tôi quen với Lê Thị Tuyết Lan, nhà ở cuối dốc Võ Tánh, phía gần hồ Xuân Hương. Tuyết Lan là em của Lộc mà sau này nổi tiếng qua cặp song ca Lê Uyên Phương tại Sài Gòn, một phiên bản của Sonny & Cher của Mỹ vào thời 60-70.

“Tuyết Lan vóc người cao ráo, tóc dài, má lúc nào cũng hây hây hồng, một điển hình của các cô gái Đà Lạt. Tuyết Lan chưa phải là người tình vì hai chúng tôi đối xử với nhau như những người bạn thân thiết dù có hai đứa có lần đi chơi trên Vallé d’Amour, Thung lũng tình yêu.

“Trên thung lũng vắng lặng, chúng tôi hồn nhiên hái doa dại, đuổi bắt nhau và rồi nằm bên nhau ngắm bầu trời xanh lơ của Đà Lạt, chuyện trò vu vơ. Thế nhưng, chúng tôi chưa bao giờ nói chuyện yêu đương, chỉ biết mỗi khi bên nhau cảm thấy thoải mái, dễ chịu. Bảo thế là tình yêu thì quá sớm, chắc chỉ ở mức trên tình bạn”.

(hết trích)

Nhưng, chủ đề của bài viết này không phải là chuyện thuở học trò của tôi với Tuyết Lan mà là chuyện tình của anh nàng, nhạc sĩ Lê Văn Lộc (sau này được biết đến qua tên Phương) với một ca sĩ có tên Lê Uyên (tên thật là Lâm Phúc Anh).


Lê Văn Lộc (Phương)

Tôi rất ít khi gặp anh Lộc tại nhà Tuyết Lan, đó là một căn nhà nhỏ, bằng gỗ… nằm ở ngã ba đầu dốc Võ Tánh, nơi có đường lên chùa Linh Sơn và nếu rẽ trái là đường ra hồ Xuân Hương.

Ngày đó, anh Lộc dậy học, trước mắt tôi, anh có vóc dáng một thanh niên gầy gò với bộ ria mép lởm chởm, không được thường xuyên cắt tỉa. Tôi lại càng không biết anh là một nhạc sĩ nhưng trong nhà có đàn guitar và một chiếc vĩ cầm (violon).

Ngày quen với Tuyết Lan tôi hiểu rất rõ về gia cảnh của gia đình cô với căn nhà gỗ tuyềnh toàng, phải nói là thuộc tầng lớp xã hội… dưới mức trung lưu. Mãi sau này, qua báo chí tôi mới biết đó là một gia thế hoàng tộc.  

Mẹ của anh Lộc và Tuyết Lan là con gái thứ 9 của vua Thành Thái, có tên Công Tôn Nữ Phương Nhi. Đó cũng là lý do sau này anh lấy tên Phương khi bước vào làng ca nhạc. Trong khi đó, bố của họ lại là một “công tử” đã bỏ xứ Thần Kinh ra đi và sống một cuộc đời lãng tử, nếu muốn nói theo ngôn ngữ thời đó là… “đi bụi đời”.

Anh bị một cục u ở ngón tay và cả ngón chân, mọi người cứ nghĩ anh bị ung thư xương. Thậm chí có người sau này còn ác ý bảo anh bị… cùi! Anh có giọng nói đặc biệt mà tôi gọi là “giọng Đà Lạt”, một giọng nói của người miền Trung pha lẫn giọng miền Nam.

Nhạc sĩ kiêm ca sĩ Lê Văn Lộc

Trong một cuộc phỏng vấn, Lâm Phúc Anh (mà sau này được biết đến qua tên ca sĩ Lê Uyên) xác nhận cô đã yêu anh Lộc (tức nhạc sĩ Phương sau này) từ rất sớm:

“15 tuổi, tôi yêu anh. Tôi là con của một gia đình thương gia khá giả và nề nếp ở khu người Hoa, Sài Gòn, được gia đình đưa lên Đà Lạt để học trường Tây nội trú… Anh hơn tôi 10 tuổi và trước khi đến với tôi, anh không hề có ý định lập gia đình”.
…

“Một hôm trên đường ra phố, tôi thấy có một chàng trai ngồi trên tảng đá đầu con dốc nhìn tôi với ánh mắt rất lạ. Anh cất tiếng “Chào cô”. Tôi nhớ mãi ánh mắt đó.

“Hai ngày sau, tôi cùng bạn học xem buổi hòa nhạc tại lữ quán Thanh niên. Khi tôi đến, buổi hòa nhạc rất đông, khoảng 200 người, tôi vẫn cố gắng chen vào. Tôi giật mình, người con trai mình gặp hôm qua đang ngồi kéo violon say sưa.

“Lúc đó, tôi cũng mới được biết anh là một người chơi nhạc nổi tiếng ở thành phố Đà Lạt…. Chúng tôi gặp gỡ nhau thường xuyên hơn. Những tháng ngày yêu đương cứ thế được bắt đầu”.

(hết trích)

Lê Uyên & Phương

Ban đầu, cuộc tình của họ gặp rất nhiều trắc trở từ phía gia đình của Lâm Phúc Anh. Theo cô, không phải vì gia đình của Lộc nghèo mà là vì bố mẹ nghĩ cô còn quá trẻ để yêu! Bố mẹ của cô biết chuyện yêu đương của hai người nên Tết năm đó không cho cô tiếp tục học trên Đà Lạt.

Để bảo vệ tình yêu, cô gái 15 tuổi quyết định tự vẫn. Theo lời cô kể:

“Tôi đã đi mua thuốc ngủ, chọn tối Thứ Bảy để uống, để quyết ra đi chứ không phải là dọa (vì ngày khác sẽ có người lên đánh thức dậy đi học). Chết còn hơn là sống mà không được yêu anh. 8 giờ sáng, mẹ tôi lên hỏi tôi một việc gì đó. Gọi không thấy tôi trả lời, thấy cửa khóa bên trong nên cho người leo qua cửa sổ vào phòng, đưa tôi đến bệnh viện súc ruột”.

Cô gái vẫn chưa chịu đầu hàng và cô thực hiện một biện pháp táo bạo hơn: bỏ nhà ra đi với người mình yêu. Họ sống tại Bảo Lộc một tuần… có điều, cô nói thêm: “Anh đứng đắn, không vượt quá giới hạn gì trong suốt một tuần lễ sống chung”.

Bà mẹ hốt hoảng, tìm cách thỏa hiệp nhưng vẫn tiếp tục ngấm ngầm ngăn cấm. Lâm Phúc Anh lại đi nước cờ mạnh hơn nữa để bảo vệ tình yêu của mình. Cô quyết định phải có con với người mình yêu, cô giải thích: “Không chỉ để tạo áp lực cho gia đình mà còn để anh thấy tôi yêu anh đến mức nào”.

Kết quả là hai tháng sau cô có thai. Mẹ cô đưa cô đi khám và kiên quyết bắt cô phải phá thai. Bà đưa ra một “tối hậu thư” đe dọa:  “Nếu con không phá thai thì thằng Lộc sẽ phải ở tù… vì con còn đang trong tuổi vị thành niên!”.

Cô gái quay sang cầu cứu với ông bố vốn lâu nay ý kiến của ông rất có “trọng lượng” với bà mẹ. Và cuối cùng, ông ủng hộ con vì theo ông, con gái đã yêu thương một chàng trai hiền lành, học thức và lại tài hoa. Ông nói phân tích với vợ:

“Chúng đã thương yêu nhau đến thế thì cho chúng đến với nhau… vì nhỡ có chuyện gì thì mình lại mất đi một đứa con”.

Thế là cô gái 15 tuổi báo tin mừng cho Lộc. Anh đi mượn tiền đủ để sắm hai chiếc nhẫn cưới nhỏ và tức tốc về Sài Gòn cưới vợ. Sau lễ cưới, cả hai quay về Đà Lạt để… hưởng tuần trăng mật.

Những ngày hạnh phúc bên nhau tại Đà Lạt

Nhạc của Lê Văn Lộc không mang tính cách triết lý với những ca từ khó hiểu như của Trịnh Công Sơn, ngược lại, Lộc dùng những lời rất đơn giản trong cuộc sống hàng ngày để nói lên tậm trạng khắc khoải về tình yêu. Trong bản nhạc đầu tiên anh sáng tác tặng vợ, bài “Tình khúc cho em”, có đoạn:

“… Thương em khi yêu lần đầu
Thương em lo âu tình sau
Dù gương xưa không được lau
Soi lấy bóng mối duyên sầu
Cho tôi yêu em nồng nàn
Dù biết yêu… tình yêu muộn màng…”

Anh tập cho Lâm Phúc Anh hát và luôn nhắc nhở: “Phải hát hết lòng. Hát trung thực với chính mình. Thích thì hát, không thì thôi, đừng bao giờ… hát giả bộ”. Và họ đã hát cho tình yêu mà chẳng bao giờ nghĩ rằng sau này họ trở thành đôi song ca nổi tiếng Lê Uyên & Phương.

Mãi đến năm 1970, nhà thơ Đỗ Quý Toàn từ Sài Gòn lên Đà Lạt họp Hướng đạo và được nghe băng cassette tự thâu của hai người. Nhà thơ nói với Lộc một câu thật tình cảm: “Bất cứ lúc nào anh xuống Sài Gòn thì gặp tôi nhé”.

Đôi song ca về Sài Gòn vào dịp Tết. Họ gặp lại Đỗ Quý Toàn và nhà thơ giới thiệu họ với nhà báo Đỗ Ngọc Yến, người hoạt động trong phong trào văn nghệ sinh viên. Lần đầu tiên họ ra mắt Sài Gòn tại trường Quốc gia Âm nhạc. Đôi song ca hát liên tiếp 3 bài chỉ với cây đàn guitar và được khán giả ủng hộ nhiệt tình.

Ngay sau đó là các buổi trình diễn cho sinh viên các trường Văn khoa, Luật khoa, Y khoa, Sư phạm… với đông nghẹt những khán giả trẻ. Khi đó là thời của Sonny & Cher đang “làm mưa, làm gió” trên sân khấu nhạc trẻ ở Hoa Kỳ (*). Thế là Sài Gòn cũng nổi lên Lê Uyên & Phương không hề kém cạnh. Lê Uyên nhớ lại:

“Trong suốt 19 ngày ở Sài Gòn, chúng tôi xuất hiện dày đặc trên sân khấu, trên truyền hình và cả ở Cà Phê Con Nai Vàng của nhạc sĩ Cung Tiến. Hình ảnh của chúng tôi còn xuất hiện khá nhiều trên mặt báo… Chúng tôi đã bước lên sân khấu ca nhạc với một tâm trạng lâng lâng đến độ không thể nào ngờ là mình đã đứng trên đó và đã thuộc về nó…”

Chuyến lưu diễn Sài Gòn gần một tháng đã đem lại cho Lê Uyên & Phương hợp đồng biểu diễn tại 5 phòng trà với thù lao 5.000 đồng, mỗi đêm hát chỉ 3 bài. Lương giáo viên của Lộc khi đó chỉ khoảng 5 hay 6 ngàn một tháng!  

Lê Uyên & Phương trên sân khấu 

Sống ở Sài Gòn, Lộc lại nhớ Đà Lạt và luôn muốn quay về. Đà Lạt hình như đã thấm trong máu và tim anh. Cuộc sống bon chen nơi đô thành khiến anh lo sợ nó làm vẩn đục những tình cảm trong trẻo của mình. Trong bài hát “Vũng lầy của chúng ta” có đoạn anh viết:

“… Ta sống trong vũng lầy
Một ngày vùi dần, còn vùi sâu, còn vùi sâu
Trong ngao ngán không dứt hết cơn… cơn ê chề…”


Bốn năm sau ngày Sài Gòn sụp đổ, họ vẫn sống lay lứt trong thời điêu linh tại quê nhà. Và sau này, ngay cả trên đất nước tạm dung chúng ta vẫn thấy tâm trạng khắc khoải của người nhạc sĩ và ca sĩ tài hoa bên cạnh vợ. Lê Uyên đã có lần thổ lộ sau hơn 10 năm hạnh phúc bên người yêu:

“Sang Mỹ, anh sống những ngày rất rỗng, rất sốc và nhớ Đà Lạt. Anh gần như mất hết cảm hứng sáng tác… Cho đến ngày anh qua đời, tôi và anh vẫn một lòng một dạ yêu thương nhau, chưa từng mang cho nhau một thương tổn gì...”

Họ có đứa con đầu lòng khi Lê Uyên 16 tuổi và hơn 10 năm sau mới có đứa thứ 2. Cô nhận xét Lộc là người đạo đức nên “nhu cầu xác thịt” không nhiều. Vả lại, anh vốn là người ốm yếu nên “không đủ sức” và “không cạn tình” để bỏ người tri kỷ, chạy theo một “người thứ ba”.

Nói về tin đồn trong đám tang của Lộc có tới “hai người phụ nữ đội khăn tang”, Lê Uyên xác nhận đó là em gái của mình:

“Cô em bất hạnh trong gia đình tôi, người khờ khạo, chậm chạp và không có một người đàn ông nào trong đời. Tôi rất thương em tôi và em tôi cũng thương tôi.

“Đứa con đầu của tôi do em gái tôi một tay nuôi dưỡng như một người mẹ để chúng tôi đi hát hàng đêm. Khi tôi qua Mỹ sinh đứa tiếp theo, cũng một tay cô ấy chăm sóc… Các con gọi em tôi là má.

“Khi anh chết, tôi để em tôi đội khăn tang, như một người thân gắn bó, như một tình cảm lớn của em dành cho anh, tôi phải trân trọng.

(hết trích)

Một cặp song ca “mùi mẫm” nhất trong làng ca nhạc Việt

Anh Lộc qua đời năm 1999 tại California. Và phải đến 7 năm sau Lê Uyên mới tái giá với một người đàn ông tên Mẫn. Cô nói, chính người chồng quá cố là người “mai mối” để cô đến với Mẫn. Lê Uyên nói với người chồng đến sau:

“Hãy đến với em bằng cả sự trân trọng anh Phương dù anh ấy không còn. Chứ đừng đến với em bằng tâm thế của một người đàn ông bình thường, với những ghen tuông, giận dữ với quá khứ.
…

“Anh đến với tôi và anh hiểu những trân trọng của tôi dành cho người chồng đã khuất của mình, anh cùng tôi trân trọng quá khứ ấy.

(hết trích)

Chính Mẫn đã giúp vợ xây một ngôi nhà gỗ bên hồ, cạnh đó là 5 gốc thông cổ thụ để Phương có thể “về” ngồi viết nhạc trong khung cảnh của Đà Lạt sương mù ngày nào.

“Thành phố ngàn thông” này vốn có nhiều kỷ niệm với các văn nghệ sĩ như Khánh Ly & Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng & Từ Dung… Nhưng sinh ra và lớn lên tại Đà Lạt chỉ có mình anh Lộc, người nhạc sĩ đã gắn bó mật thiết với xứ Hoa Đào, dù đó là ở Việt Nam hay Hoa Kỳ!

Nắm tay nhau đi trọn đường đời

(Bài viết có sử dụng một số tư liệu của Hoàng Nguyên Vũ - Trí Thức Trẻ)

***

Chú thích:

(*) Sonny & Cher (Sonny & Cher Bono) là đôi vợ chồng song ca nhạc pop, diễn viên người Mỹ vào thập niên 1960-1970. Cả hai bắt đầu sự nghiệp từ giữa những năm 1960 khi hát dòng nhạc R&B.

Trong những năm 1970, họ trở thành những người nổi tiếng trên giới truyền thông với hai chương trình thành công tại Mỹ: “The Sonny & Cher Comedy Hour” và “The Sonny & Cher Show”. Sau khi ly hôn, sự nghiệp của họ kết thúc năm 1975 với hơn 40 triệu đĩa nhạc trên toàn cầu.


***

Một số tác phẩm của Lê Uyên Phương trên YouTube:

·         “Tình Khúc Cho Em”: 

·         “Vũng Lầy Của Chúng Ta”: 

·         “Những Tình Khúc để lại cho đời”:

***

--> Read more..

Thứ Tư, 20 tháng 3, 2019

Thôi rồi… Đà Lạt ơi!


Dù không phải là một người chuyên về… “Đà Lạt Học” nhưng tôi đã viết khá nhiều về vùng cao nguyên Lâm Viên (hay còn gọi là Langbiang), nơi có độ cao trung bình 1.500 mét so với mực nước biển.

Vào cuối thế kỷ 19, khi tìm kiếm một địa điểm để xây dựng trạm nghỉ dưỡng dành cho người Pháp ở Đông Dương, Toàn quyền Paul Doumer đã quyết định chọn cao nguyên Lâm Viên theo đề nghị của bác sĩ Alexandre Yersin, người từng thám hiểm nơi đây vào năm 1893.

Leo đỉnh Langbiang (1994)

Các bạn sẽ tham khảo những bài viết về Đà Lạt ở phần cuối, tôi chỉ xin kể ra đây những bài viết điển hình, chẳng hạn như “Đà Lạt sương mù: Quê hương thứ hai” là chuyện một chú bé rời Hà Nội vào Đà Lạt từ năm 1953 (trước cuộc di cư năm 1954) trên bước đường theo bố phục vụ trong lực lượng Ngự Lâm Quân của vua Bảo Đại.

Trong “Đà Lạt sương mù: Đất lành chim đậu” người đọc có dịp tìm hiểu cuộc sống của người Đà Lạt xưa theo những gì mắt thấy tai nghe và trong “Đà Lạt sương mù: Năm tháng ngao du” kể lại sự trở về Đà Lạt năm cuối cùng thời Trung học sau một thời gian lưu lạc đến xứ Ban Mê.

Cũng có bài viết “Hồi ức về một người thân”  kể lại kỷ niệm những ngày học hành ở Đà Lạt dưới sự dạy kèm tại nhà của ông anh lớn tuổi. Tôi đã học “nhảy”, có nghĩa là từ lớp Ba sang lớp Năm mà không ngồi ở lớp Tư để thi Tiểu học.

Đà Lạt sương mù

Những bài viết trong quá khứ là tâm sự của một người Đà Lạt, hồi tưởng đến những kỷ niệm khó quên, từ thuở thiếu thời, một quãng đời kéo dài từ những ngày còn đi học cho đến khi vào lính. Giờ thì tóc đã điểm sương nhưng trong đầu vẫn còn những hình ảnh của một Đà Lạt xa xưa.

Tôi nghĩ bài viết này với tiếng gọi thống thiết “Thôi rồi… Đà Lạt ơi!” sẽ là bài cuối cùng về vùng cao nguyên Lambiang của ngày nào. Tại sao ư? Mai này Đà Lạt sẽ không còn là địa điểm nghỉ mát của những người đi tìm một nơi bình yên cho cả tâm hồn lẫn cuộc sống. Vì có đi đâu cũng chỉ thế thôi, làm sao tìm lại một Đà Lạt của ngày nào.

Rồi bạn sẽ thấy một Đà Lạt “văn minh, hiện đại”  với những tòa building bê-tông cốt thép đứng ngạo nghễ giữa thành phố mà hồi xưa được mệnh danh là “Paris Nhỏ”. Cũng giống như những thành phố “tân tiến” khác của Việt Nam ngày nay như Hà Nội, Sài Gòn, Đà Nẵng… bạn sẽ gặp một Đà Lạt “đổi mới” từ vật chất đến tinh thần!

Khu Hòa Bình và Chợ Đà Lạt (Ảnh: Bill Robie, 1968)

Ngày 16/3/2019, Sở Xây dựng Lâm Đồng đã bất ngờ công bố quyết định của tỉnh, cái gọi là, “quy hoạch chi tiết và thiết kế đô thị” của khu trung tâm Hòa Bình đã được Thủ tướng phê duyệt.

Theo bản đồ tỷ lệ 1/500, trung tâm Hòa Bình, có diện tích 39 ha, thuộc phường 1. Cụ thể, khu này bao gồm chợ Đà Lạt và đường Nguyễn Thi Minh Khai (6,95 ha); khu trung tâm Hòa Bình (3,37 ha); khu đồi Dinh (4,43 ha); khu chỉnh trang đô thị (9,19 ha) và khu vực ven Hồ Xuân Hương (6,06 ha).

Quan trọng hơn cả là rạp hát Hòa Bình và Dinh Tỉnh trưởng sẽ bị dỡ bỏ, di dời nguyên khối để thực hiện các công trình nằm trong đồ án với ý tưởng chủ đạo trong quy hoạch chung của Đà Lạt: “Thành phố trong rừng – Rừng trong thành phố”!

Chợ cũ Đà Lạt (1945)

Chợ Đà Lạt cũng có một lịch sử gian truân như thân phận nàng Kiều. Khởi đầu là “Chợ Cây” năm 1929 tại khu vực ngày nay là khu Hòa Bình. Năm 1937, một vụ hỏa hoạn đã xảy ra và người ta xây dựng một chợ bằng gạch để thay thế “Chợ Cây”. 

Khi tôi đến Đà Lạt vào năm 1953, “Chợ Gạch” đã dời vào địa điểm “Chợ Tạm” cách đó chỉ vài trăm mét. Tôi còn nhớ rất rõ, chợ tạm lợp tôn ở dưới chân đồi. Đây cũng là nơi mỗi buổi trưa từ trường Nam tiểu học Đà Lạt tôi thường ra sạp bán mũ dạ của mẹ vì nhà ở gần Trại Hầm, cách khoảng 3 cây số.

Cũng tại ngôi chợ tạm này tôi thường được ăn các món quà chợ như bún cà ri của một ông già râu tóc bạc phơ, nhìn tướng thật dữ dằn nhưng ông lại có tính hay pha trò dí dỏm. Còn có món mì quảng của một bà mặc áo dài quảy đôi quang gánh đi khắp chợ. Người Đà Lạt xưa đa số là người Miền Trung nên còn giữ phong cách áo dài của mấy o, mấy mệ khi ra chợ.

Mãi đến năm 1958, một ngôi chợ ba tầng lầu mới được xây dựng, đây cũng là “Chợ Lầu” đầu tiên tại Việt Nam. Chợ được xây dựng trên một vùng đất sình lầy trồng xà-lách-son (cresson) mà người Đà Lạt gọi là “ruộng xà-lách-son”. Chợ do kiến trúc sư Nguyễn Duy Đức thiết kế, nhà thầu Nguyễn Linh Chiểu thi công và được hoàn thành năm 1960.

Về sau, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ tham gia chỉnh trang chợ Đà Lạt, đặc biệt là việc thay đổi mặt tiền, thiết kế bổ sung cầu nổi bằng béton dẫn vào hông chợ, khu công viên trước chợ và các dãy phố lầu xung quanh chợ.

Ngôi chợ ba tầng lầu đang trong giai đoạn thi công

Rõ ràng Khu Hòa Bình là trung tâm của Đà Lạt với một ngọn tháp đủ cao để khi người ta vượt qua dốc chợ giữa hai hàng cây anh đào có thể thấy ngay trước mắt. Đó cũng là trái tim của Đà Lạt với mặt tiền là rạp hát Hòa Bình.

Rạp hát Hòa Bình là nơi tôi còn nhớ mãi với kỷ niệm đứng trên sân khấu cùng ban nhạc trường Trần Hưng Đạo trong một buổi văn nghệ liên trường. Chúng tôi biểu diễn những bản nhạc theo phong cách “The Shadows” qua những bài như Apache, Man of Mystery.

Hội trường Hòa Bình cũng là nơi một anh học trò “vô danh tiểu tốt” Từ Công Phụng đứng hát những bài như “Bây giờ tháng mấy”, “Mùa thu mây ngàn” do chính anh sáng tác. Họ Từ là một học sinh người Chàm ở Ninh Thuận, lên Đà Lạt học năm Đệ Nhất tại Trần Hưng Đạo. Anh là người ít nói, hiền lành nên các bạn đều quý mến.

Hội trường Hòa Bình là nơi Phụng đứng hát lần đầu trong đời và Đài phát thanh Đà Lạt mang tiếng hát của anh về đến Sài Gòn. Chỉ một năm sau, Từ Công Phụng trở thành một nhạc sĩ được giới trẻ ưa thích trong suốt thập niên 60-70.

Cũng từ Đà Lạt, “nữ hoàng chân đất” Khánh Ly cất tiếng hát và cặp song ca Lê Uyên Phương chinh phục giới trẻ với phong cách tương tự như “Sonny & Cher” bên trời Tây. Phải nói, Đà Lạt là một cái nôi ươm mầm văn hóa, văn nghệ và Café Tùng là một địa điểm gặp gỡ của giới văn nghệ sĩ.

Ban nhạc trường Trần Hưng Đạo – Vĩnh Anh, Huỳnh Bá Tuệ Dương, Nguyễn Ngọc Chính (1965)

Trong hai địa điểm phải bị dỡ bỏ, Dinh Tỉnh Trưởng ít nổi tiếng hơn Khu Hòa Bình. Đối với tôi, một người đã có một thời gắn bó với Đà Lạt, điều này cũng dễ hiểu. Tòa nhà hai tầng được người Pháp xây dựng từ năm 1910 và sau đó được sử dụng vừa làm nơi ở cũng như làm việc của Tỉnh trưởng Tuyên Đức trước đây.

Ít người để ý vì đây là cơ quan công quyền, chỉ những người có việc phải đến mới nhận ra vẻ uy nghi của tòa nhà. Sau năm 1975, có thời gian Dinh được sử dụng làm Bảo tàng Lâm Đồng, nhưng không hiểu vì lý do gì mà sau đó bị bỏ hoang.

Năm 2011, tỉnh Lâm Đồng có chủ trương giao cho một nhà đầu tư tôn tạo công trình để khai thác kinh doanh, tuy nhiên cũng không đem lại hiệu quả, toà dinh thự tiếp tục bị bỏ hoang, trở thành nhà kho chứa đồ đạc.

Thật ra dinh thự này đã chìm dần vào quên lãng và chỉ khi có quy hoạch tháo dỡ người ta mới bắt đầu chú ý đến. Âu đó cũng là tâm lý người đời: chỉ khi nào biết sẽ bị mất người ta mới thấy quý!

Dinh Tỉnh Trưởng ngày nay sau hơn 100 năm hiện hữu

Có hai luồng ý kiến trái ngược nhau giữa việc bảo tồn hay dỡ bỏ những di sản. Những người chủ trương dỡ bỏ có cái lý của họ khi nghĩ đến hình ảnh một Đà Lạt trở thành một thành phố năng động với các tiện nghi của thời kỳ hiện đại.

Hình như người ta quên rằng Đà Lạt là một thành phố du lịch với khí hậu mát mẻ và địa điểm lịch sử hấp dẫn đối với cả những khách trong và ngoài nước. Du khách sẽ không tìm đến nơi đây vì những trung tâm thương mại mới xây dựng vì đó là những hình ảnh họ có thể tìm thấy ở những thành phố nổi tiếng khác.

Chi bằng, một mặt ta cứ hài lòng với những gì mình có, mặt khác nâng cao trình độ quản lý và điều hành du lịch để thu hút khách phương xa. Cũng cần nói thêm, sự hợp tác của cư dân địa phương là một trong những yếu tố quyết định sự thành công trong việc thực hiện những chính sách du lịch thuận lợi cho toàn tỉnh. Vì đó là “nồi cơm chung” cho toàn thành phố.  

Đà Lạt ngày xưa lúc bình minh ló dạng

Tin mới nhất cho biết, Phó chủ tịch hội Kiến trúc sư Lâm Đồng đã tuyên bố đồ án quy hoạch cho thành phố Đà Lạt mới chỉ là “gợi ý” và “vẫn có thể chỉnh sửa được”. Kiến trúc sư Lê Tứ cho biết:

“Khi quy hoạch Đà Lạt mở rộng, trong đồ án chung có xác định vùng lõi cho Đà Lạt cũ, trong đó có khu trung tâm Hòa Bình. Theo quy định pháp luật phải làm từ quy hoạch chung đến quy hoạch chi tiết, phạm vi trung tâm này đã được xác định, cần rà soát, xem xét lại, chỉnh trang để đáp ứng nhu cầu mới dưới sự kiểm soát của cơ quan chuyên ngành”.

Cái mà người dân lo ngại là “kiến trúc kiểu nhà kính” của một trung tâm đa chức năng với các loại hình dịch vụ và giải trí hãy còn quá xa lạ và không phù hợp với hiện trạng của Đà Lạt. Có nên đặt kiến trúc này vào vị trí của rạp hát Hòa Bình hiện tại hay không?

Người dân cũng đồng quan điểm khi cho rằng Dinh Tỉnh Trưởng là một công trình có giá trị về mặt kiến trúc cũng như lịch sử. Việc thay thế tòa nhà này bằng một khối khách sạn sẽ trở nên quá xa lạ với kiểu… “mái úp tròn”. Có nên thực hiện việc hoán đổi này hay chăng?

Dân gian ta có câu cảm thán “Thôi rồi Lượm ơi!” để chỉ lời than khi mọi chuyện xảy ra không như ý mong muốn. Xin đừng biến câu nói này thành “Thôi rồi… Đà Lạt ơi!”.

 Hồ Xuân Hương và Cầu Ông Đạo

***

Tham khảo:

·         Bài viết “Đà Lạt sương mù: Năm tháng ngao du”: chinhhoiuc.blogspot.com/2012/09/a-lat-suong-mu-nam-thang-ngao-du.html

·         Bài viết “Hồi ức về một người thân”: chinhhoiuc.blogspot.com/2012/09/hoi-uc-ve-mot-nguoi-than.html

·         Bài viết “Tiếng còi tầu thời thơ ấu”: chinhhoiuc.blogspot.com/2018/12/tieng-coi-tau-thoi-tho-au.html

·         Bài viết “Đà Lạt sương mù: Quê hương thứ hai”: chinhhoiuc.blogspot.com/2012/09/a-lat-suong-mu-que-huong-thu-hai.html

·         Bài viết “Đà Lạt sương mù: Đất lành chim đậu”: chinhhoiuc.blogspot.com/2012/09/a-lat-suong-mu-at-lanh-chim-au.html

·         Bài viết “Ai lên xứ hoa đào…”:
     chinhhoiuc.blogspot.com/2012/09/ai-len-xu-hoa-ao.html

·         Bài viết: “Đôi điều về Đà Lạt sương mù”:
chinhhoiuc.blogspot.com/2012/09/oi-ieu-ve-lat-suong-mu.html

***

--> Read more..

Popular posts