Thứ Hai, 16 tháng 10, 2017

Đọc “Papillon – Người tù khổ sai”

Tôi còn nhớ mãi thời gian cải tạo tại Trảng Lớn (Tây Ninh) có một bạn tù với “trí nhớ phi thường” đã kể lại truyện “vượt ngục” của Papillon. Papillon (gọi tắt là Papi) trong tiếng Pháp là “Bươm Bướm” vì Papi có sâm trên ngực một chú bướm, trông thật… đa tình. Đó là biệt danh của Henri Charrière, tác giả cuốn tự truyện “Papillon – Người tù khổ sai”.

Papillon và hình xăm bươm bướm trên ngực

Từ ngữ “vượt ngục” đã có từ lâu nhưng sau 1975 được thay thế bằng “trốn trại”, một từ hoàn toàn mới. Cũng tại Trảng Lớn có câu chuyện “trốn trại” của Ngô Nghĩa, một sĩ quan pháo binh. Anh đã “đơn thương độc mã” trốn trại nhưng bất thành. Kết quả là nhận bản án tử hình bằng một loạt đạn AK trước sự chứng kiến của những đại diện bạn tù đến từ các đội.

Sau này, trong “Hồi ức một đời người”, tôi có viết một truyện ngắn mang tính cách “hư cấu” nhưng dựa vào chuyện có thật của Ngô Nghĩa. Truyện “Năm tháng khó quên” lấy bối cảnh là những sinh hoạt tại trại cải tạo Trảng Lớn và dĩ nhiên, nhân vật chính là Ngô Nghĩa ngoài đời và mang tên Phong, Biệt kích 81, trong chuyện. (Xem truyện tại http://chinhhoiuc.blogspot.com/2012/08/nam-thang-kho-quen.html)

“Trốn trại” hay “vượt ngục” chỉ khác nhau ở cách sử dụng từ ngữ theo từng thời kỳ nhưng tựu chung vẫn mang ý nghĩa của một người tìm cách thay đổi số phận của “người tù” để trở thành “người bình thường” trong xã hội.

Papillon, là người tù khổ sai nhưng quan trọng hơn cả, anh là “nạn nhân” của một oan sai và quyết tìm tự do sau 9 lần vượt ngục. Con số 9 thật nhiều ấn tượng, cho thấy lòng khao khát tự do của một người đã bị đẩy ra bên lề của xã hội.

Tài tử Steve McQueen trong vai Papillon

Henri Charrière (1906 – 1973) viết tự truyện (hay còn gọi là hồi ký) dài 45 Chương về thời gian ông bị bỏ tù trên một nhà tù thuộc địa tại Guiana thuộc Pháp. Ông là một nhà văn “bất đắc dĩ” vì khi viết Papillon ông chỉ kể lại và nhờ bạn bè đánh máy. Sau đó ông gửi 13 tập bản thảo cho nhà văn  J. P. Castelnau với hy vọng Castelnau viết lại để có thể xuất bản.

Sau khi đọc, Castelnau chỉ sửa những lỗi chính tả và giữ nguyên bản thảo để xuất bản. Điều đó cho thấy sự mộc mạc và chân thật của Henri Charrière trong truyện đã hấp dẫn người đọc. Đây cũng là một trường hợp ngoại lệ trong văn học: từ một tên tù vượt ngục Charrière đã trờ thành nhà văn được mọi người ưa thích.

Papillon bị “chung thân khổ sai” trong một vụ mà tòa án khẳng định anh đã giết tên “ma cô” tên Roland le Petit, một tên dắt gái của giới ăn chơi Montmartre. Đó là theo điều tra của cảnh sát, mà “bọn cớm” cứ mỗi lần tìm được thủ phạm là một lần lên lon. Tại Paris, ngày 26/10/1931, tòa kết thúc vụ án được Charrière mô tả như một cái tát:

“Cái tát mạnh đến nỗi mãi mười ba năm sau tôi mới gượng dậy được. Quả nhiên đó không phải là một cái bợp tai bình thường, và để giáng nó vào mặt tôi, họ đã xúm lại khá đông”.

Họ là ai? Đó là viên chánh án, có đôi má phính với vẻ mặt khắc nghiệt của một quan tòa chuyên nghiệp. Ông ta không có phần trách nhiệm nào trong “cái tát”, việc của ông chỉ đơn giản là chuẩn bị dọn sẵn để bị cáo.. “ăn tát”!

Đó là công tố viên mà các luật sư bào chữa rất sợ. Papillon nhận xét: “Ông ta nổi tiếng là người cung cấp đắc lực nhất cho máy chém và cho các nhà lao trong nước cũng như hải ngoại… Ông đại diện cho pháp luật, cho cán cân công lý, chính ông cầm cái cân ấy và ông sẽ đem hết sức mình ra để làm cho nó nghiêng về phía ông”.

Đó là bồi thẩm đoàn 12 người thật thảm hại đáng thương hơn là đáng ghét. Họ có được đào tạo, huấn luyện gì đâu để mà làm quan tòa? Thật đúng là trò hề lố bịch của một bầy lũ chỉ biết tiến thân, tiến lên thêm thật nhiều bậc trên cái thang chức nghiệp đáng ghê tởm của chúng.

Cảnh chém đầu phạm nhân tại trại tù

Xã hội Pháp thời thập niên 30 đã loại bỏ vĩnh viễn Papillon, một thanh niên hai mươi lăm tuổi và tuyệt nhiên chẳng một chút hy vọng giảm án! Món ăn sang trọng này đã được những người nhân danh công lý “nấu nướng” một cách bài bản.

Papi không căm thù xã hội mà chỉ tâm huyết trả thù những người đã đưa anh vào một cuộc đời “trôi sông lạc chợ”. “Phải cắt lưỡi chúng. Cái lưỡi không xương nên… nhiều đường lắt léo. Phải giam chúng, bỏ đói chúng trong hầm của một tòa lâu đài như Alexandre Dumas đã làm trong truyện Bá tước Monte-Christo”.

Papillon nghĩ:

“Bộ máy trừng phạt do nền Cộng hòa Pháp sáng chế ra đã hoạt động một cách tuyệt diệu. Ở giai đoạn thứ nhất, người nào có thể gây phiền phức cho nó thì nó tiêu diệt đi. Nhưng như thế chưa đủ. Không thể để cho người ấy chết quá nhanh, cũng không thể để cho người ấy thoát thân bằng cách tự tử. Người ấy rất cần cho bộ máy. Cục Quản lý các cơ quan cải huấn còn có việc gì mà làm nếu không có tù nhân? Lúc bấy giờ thì thật là đẹp mặt, cho nên phải giám sát nó. Phải đưa nó đi làm khổ sai: nhiều công chức của nhà nước sẽ nhờ nó mà có kế sinh nhai”.

Tù nhân trần truồng tập trung tại nhà lao Conciergerie trước khi  lên đường ra Đảo Guiana

Bước đầu tiên là nhà lao Conciergerie nơi mà quản tù nhân hậu hỏi anh: “Chúng nó xử anh mấy năm?”, “Chung thân”, “Chà, cái quân đểu cáng! Chúng nó điên hết rồi hay sao?”. “Cám ơn sếp. Ông cứ yên chí, tôi sẽ có đủ can đảm, và tôi hy vọng rằng họ sẽ không nuốt trôi được cái án chung thân này đâu”.

Tại đây, anh kết thân với Louis Dega, một tù nhân người Marseille và cũng là tay làm bạc giả khét tiếng. Bài học đầu tiên trong tù của Papillon là qua đường dây của Dega ngoài đời Papi nhận được một số tiền 5.600 francs của vợ chuyển “lậu” vào. Thật ly kỳ và có phần “hư cấu” vì tiền được để trong một cái ống bằng nhôm, mài nhẵn thín, có thể tháo ra bằng cách vặn ở giữa. Nửa này xoắn ốc vào nửa kia.

“Khi nhận được nó, tôi đưa lên môi hôn cái ống dài sáu phân, to bằng ngón tay cái này; vâng, tôi đã hôn nó trước khi nhét vào hậu môn. Tôi thở thật mạnh để hút nó vào sâu trong đại tràng. Nó là cái tủ két của tôi”.

Cách dấu tiền trong hậu môn của tù

Tháng 11/1933, Charrière đã trốn thoát từ trạm xá tại Saint Laurent cùng hai bạn tù, Clousiot và Maturette, bơi thuyền dọc theo bờ biển qua Trinidad và Curaçao tới Riohacha, Colombia. Dọc đường họ được một nhóm người hủi, cũng là những tù nhân, trên Đảo Pigeon, giúp đỡ. Trong thời gian này, ba kẻ tù trốn trại khác gia nhập cùng với họ trong chuyến đi tới Colombia.

Nhà tù Saint Laurant

Thời tiết xấu khiến họ không thể rời bờ biển Colombia và đã bị bắt lại và tống vào tù tiếp! Papillon tìm cách bỏ trốn với sự giúp đỡ của một người tù già. Papi lập tức quay về vùng Guajira, tại đây anh sống nhiều tháng trong một ngôi làng của những người bản xứ làm nghề mò ngọc trai.

Papi kết thân với một phụ nữ trẻ và em gái của cô ta, cả hai sau này đều trở thành vợ của anh và đều có con với anh. Chính ở đây anh đã sống nhiều tháng sung sướng qua… "hình thức thanh khiết nhất của tình yêu và của sự tuyệt mỹ.". Tuy nhiên, anh vẫn tiếp tục bước đường vượt ngục.

Một lần nữa, Papi bị bắt và bị nhốt tại Santa Marta, và sau đó chuyển sang Barranquilla. Dù đã nhiều lần gắng vượt ngục với một vết thương nơi mu bàn chân Papi vẫn không thể thoát khỏi các nhà tù và bị đưa trả về Guiana thuộc Pháp năm 1934.

Papi bị kết án hai năm biệt giam, hình phạt được tù nhân gọi bằng tên "Kẻ nuốt tù nhân", tại St. Joseph trên đào “Salut” hay Đảo Cứu Rỗi (Salvation Islands) vì tội vượt ngục. Mãn hạn “biệt giam”, Papi được đưa về đảo Royale....

Papi còn bị kết án tám năm biệt giam nữa sau một âm mưu vượt ngục và tội giết một bạn tù vì người này đã ngầm báo âm mưu của anh. Tuy nhiên, anh được thả ra chỉ chín tháng sau đó, sau khi liều mình cứu một bé gái đang sắp chết đuối khỏi vùng biển có cá mập.

Sau đó, Papi giả điên trong một nỗ lực trốn khỏi bệnh viện tâm thần trên đảo. Đây là thời điểm lý tưởng để bỏ trốn khỏi bệnh viện tâm thần bởi sau khi Thế chiến II bắt đầu, hình phạt cho những người tù bỏ trốn đã được nâng lên thành tử hình với án phản bội. Nhưng một người điên được coi là người không kiểm soát được các hành vi của mình, vì thế sẽ không thể bị trừng phạt vì bất kỳ điều gì - kể cả việc vượt ngục.

Dega (trái) và Papillon (phải)

Papi trở về đảo Royale và một thời gian sau anh xin chuyển đến Đảo Quỷ (Devil's Island). Sau một thời gian sống ở đây, Charrière quen với Chang, một tù chính trị người Hoa, anh đã nghiên cứu về các cơn sóng thủy triều và nhận ra mỗi ngày đều có một cơn sóng đủ lớn để có thể đưa anh ra xa đảo và về đất liền.

Sau nhiều lần thử nghiệm với các bao tải chứa dừa, anh đã vượt ngục chung với 1 bạn tù tên Sylvain, cả hai đều dùng những bao tải chứa dừa như một cái phao và cưỡi trên sóng để ra ngoài đại dương. Sau nhiều ngày trên biển, cả hai cập vào bờ nhưng Sylvain bị chìm trong cát lún và chết.

Trên đất liền, Papi gặp Cuic Cuic anh trai của Chang, họ cùng nhau đi đến Georgetown, British Guiana, bằng thuyền. Sau một thời gian ngắn sống ở đây, Charrière đã đi đến Venezuela với 5 tù nhân khác. Họ bị bắt và tạm giam ở một trại tù gần El Dorado. Sau đó một thời gian, Charrière được thả ra. Cuối cùng Papillon được nhập quốc tịch Venezuela. Anh đã trở thành… “người tự do”.

Cảnh lao động khổ sai của tù nhân

Cuốn sách “Papillon – Người tù khổ sai” trở thành “bestseller”  năm 1970. Charrière, đã ghi lại chi tiết các vụ vượt ngục, những âm mưu vượt ngục, những chuyến ra đi… ngoại trừ có một vài sai sót nhỏ do trí nhớ. Charrière khẳng định tất cả đều là sự thực.

Một số nhà nghiên cứu tin rằng Charrière đã lấy phần lớn tư liệu cho cuốn sách từ các bạn tù khác, và coi tác phẩm này mang nhiều tính tưởng tượng hơn là một cuốn hồi ký chân thực.

Năm 2005, một người ở Paris khi ấy đã 104 tuổi, tên là Charles Brunier, tuyên bố rằng mình mới là Papillon đích thực. Mốt số các nhà phê bình hiện đại có xu hướng đồng ý rằng câu chuyện của Charrière “có các sự kiện xảy ra với những người khác”, và rằng “Brunier quả thực ở tù cùng thời gian với Papillon”.

Chuyện hư thực ra sao về Papillon cho đến nay vẫn chưa đi đến kết luận cuối cùng. Có điều chắc chắn là sẽ chẳng bao giờ có được kết luận vì Charrière cũng như Papillon hay Brunier đã chết. Tuy nhiên, họ đã để lại cho chúng ta, những kẻ hậu sinh, một bài học quý giá của những người đi tìm lại “tự do”, mà xã hội đã cướp mất.

Papillon ăn uống trong xiềng xích

Tôi lại nghĩ, Ngô Nghĩa ở Trảng Lớn cũng như Papillon ở Pháp chính là những nhân chứng sống (dù họ đã chết). Họ vẫn sống trong lòng của những người tù đã mất hết tự do nhưng vẫn quyết đi tìm nó… cho đến hơi thở cuối cùng.

***

* Hình ảnh trong bài viết này được trích từ phim “Papillon” của Warner Bros. Pictures.

* Xem phim “Papillon”, với các tài tử Steve McQueen và Dustin Hoffman tại:


***
--> Read more..

Thứ Năm, 12 tháng 10, 2017

Con người có thể là… “Di sản Sài Gòn”?

Lang thang trên trang Facebook của nhóm “Đài Quan sát Di sản Sài Gòn - Saigon Heritage Observatory” tôi tình cờ gặp một status khá thú vị của Candy Nguyen, viết về Michael Burr. Bài viết ngắn có tựa đề “Michael Burr - American Veteran in Saigon”.

Michael đã ở Việt Nam từ 1969-1970. Theo lời Candy Nguyen, Michael là giảng viên Anh ngữ tại Trường Sinh ngữ Quân đội (Armed Forces Language School – AFLS) và được bổ nhiệm dạy trong Tổng Tham Mưu (Joint General Staff – JGS), đó là trụ sở chính của trường Sinh ngữ Quân đội.



“Michael Burr - American Veteran in Saigon”
(Hình FB Candy Nguyen)

Cũng vào năm 1969, tôi về AFLS từ Thủ Đức và được phái sang chi nhánh Nguyễn Văn Tráng (Q. 1) nơi có khóa sinh sĩ quan Không quân theo học. Đó là lý do “đồng nghiệp” nhưng chưa hề gặp nhau.


Trong bài viết này, Candy Nguyen có đăng 3 tấm ảnh: một tấm ảnh mới nhất của Michael chụp gần đây tại Sài Gòn, một tấm chụp lại “Bằng lái xe tự động” do Bộ Giao thông Vận tải VNCH cấp năm 1970 và một bức ảnh thứ ba đối với tôi là quan trọng hơn cả.


“Bằng lái xe tự động” của Michael Burr
(Hình FB Candy Nguyen)

Đó là tấm “Thẻ ra vào Trường Sinh ngữ Quân đội”, cấp cho “AMN” (Airman – lính không quân) Michael Burr. Thẻ do Trung Tá Huỳnh Vĩnh Lại, Chỉ huy trưởng trường Sinh ngữ Quân đội (KBC 3095) ký ngày 18/10/1969. Mặt sau của thẻ cũng xác định ngày hết hiệu lực là “Mars. 30. 1970” và cũng in thêm một số quy định cho người dùng thẻ mà các bạn có thể thấy trong hình.


Đối với tôi, người đã giảng dạy tại trường từ năm 1969 đến ngày Sài Gòn sụp đổ, thì đây là lần đầu tiên tôi được thấy loại thẻ này. Điều dễ hiểu vì những nhân viên cơ hữu không dùng thẻ này, mà chỉ những người ngoài quân số chính thức của trường mới được cấp thẻ để ra vào Tổng Tham Mưu.


“Thẻ ra vào” trường Sinh ngữ Quân đội
(Hình FB Candy Nguyen)


Đời có nhiều bất ngờ thú vị. Tôi tự hỏi: Con người (nhất là người ngoại quốc) có thể là… “Di sản Sài Gòn”?. Câu hỏi này Candy Nguyen cũng đã đặt ra trong bài viết. Tôi khẳng định là “Có”. Di sản Sài Gòn nằm đâu đó trong con người Michael Burr, nó cũng nằm trong ba tấm hình mà tôi vừa đề cập đến. Bạn có đồng ý không?


Hy vọng sẽ có một bài viết về Michael Burr. Tuy không rầm rộ như bộ phim tốn nhiều giấy mực và tranh cãi “The Vietnam War” nhưng Michael sẽ cho ta một mảnh ghép nhỏ trong bức tranh toàn cảnh “jigsaw puzzle” của Sài Gòn ngày nào.


***
--> Read more..

Thứ Năm, 5 tháng 10, 2017

Đọc “AQ Chính Truyện” của Lỗ Tấn

Tôi là người vốn có “thành kiến” với văn thơ xuất xứ từ Trung Hoa. Sự “dị ứng” đó chỉ nới hình thành những năm gần đây, khi ông bạn láng giềng với “4 tốt, 16 chữ vàng” xuất hiện tại biển Đông với “đường lưỡi bò” chực “liếm” hết vùng biển Việt Nam.

Trước đó, hồi còn thanh niên, tôi rất mê truyện Tầu của “Tín Đức Thư Xã” (Sài Gòn) và sau đó là chuyện chưởng của Kim Dung. Giờ trên tủ sách vẫn còn một số “pho” truyện “đình đám” như “Thủy Hử”, “Tam Quốc Diễn Nghĩa”, “Tây Du Ký”… và ngay cả những thiên tình sử ướt át như “Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài”, “Vạn Huê Lầu”, “Kim Bình Mai”, “Phàn Lê Huê”…

Sách của “Tín Đúc Thư xã” được đóng thành bộ

Những cuốn  sách vừa dẫn đều từ thời ông cụ, bà cụ để lại. Tôi chỉ đọc “ké” những sách được đóng bộ cẩn thận và chiếm một góc trong tủ sách gia đình. Mãi đến sau này, khi đã về hưu mới “tha” được cuốn “AQ Chính Truyện” của Lỗ Tấn (1881-1936) viết từ thời “tiền cách mạng” bên Trung Hoa.

“Đọc chơi cho biết” vì người ta nói nhiều về nhà văn Lỗ Tấn với “AQ Chính Truyện” được đăng trên "Thần Báo Phó San" ở Bắc Kinh lần đầu tiên trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 1921 đến tháng 2/1922.

“AQ Chính Truyện”, NXB Văn Học (2016)

“AQ Chính Truyện” thường được coi như một “kiệt tác” của văn học Trung Hoa thời cận đại và cũng được coi là tác phẩm đầu tiên viết bằng “bạch thoại văn”. Theo gốc gác của nhân vật AQ được nêu trong truyện thì “A” là cái tên mà ta thường gặp của người Hoa như A Lình, A Chảy…

Còn "Q" ở đây phải đọc là "ki" nhưng trên thực tế hiện nay hầu hết người Trung Quốc đọc theo cách phát âm của chữ cái "Q" trong tiếng Anh. Chữ “Q” có thể hiểu ngầm là Quẩy hay Quý, những cái tên phổ biến của người Tầu.

Trong tập truyện này, nhà văn Lỗ Tấn với vai trò của người thứ ba kể lại những chuyện có liên quan đến AQ, người thuộc tầng lớp thấp nhất trong xã hội Trung Hoa. AQ là một anh Tầu thuộc tầng lớp bần nông, ít học lại không có nghề nghiệp ổn định.

Tuy thế, qua ngòi bút của tác giả, AQ là một nhân vật vừa “đáng yêu” lại vừa “đáng ghét”. Người đọc thích AQ vì đó là đại diện của đa số người Trung Hoa (cũng như Việt Nam) với những cá tính và suy nghĩ nổi bật của giai cấp chiếm “đa số thầm lặng” trong xã hội thời đó.

Nhưng lại cũng ghét hắn ta vì thái độ phản kháng thẳng thừng đến độ quá khích đối với giai cấp trung lưu và quan quyền, giống với Chí Phèo của Nam Cao bên xứ Giao Chỉ. Giống đến nỗi nhiều nhà phê bình văn học (Tầu cũng như Ta) đưa ra nghi vấn không biết Nam Cao có bị ảnh hưởng bởi AQ của Lỗ Tấn hay không.

Chí Phèo là kẻ “sinh sau đẻ muộn” đến 20 năm sau khi AQ của Lỗ Tấn ra đời. Như vậy chỉ có thể là Nam Cao chịu ảnh hưởng của Lỗ Tấn chứ không có trường hợp ngược lại. Đáng tiếc là cả hai ông đều đã quy tiên nên những kẻ hậu sinh như chúng ta không thể “gọi hồn” để kiểm chứng. Hơn nữa, trong văn học, sự trùng hợp về cá tính của nhân vật trong các tác phẩm vẫn thường xảy ra.

Chí Phèo & Thị Nở của Nam Cao

Hai nhân vật chính của hai tác giả đều là những người cùng khổ: Chí Phèo là cùng đinh trong làng Vũ Đại còn AQ là bần nông trong làng Mùi. Cả hai đều không gốc tích, không quê quán, không gia đình chứ chưa nói gì đến việc học hành trong cái xã hội vốn trọng bằng cấp, lễ nghĩa. 

Cả hai đều là nạn nhân của xã hội “nửa phong kiến, nửa tân tiến”, họ là “sản phẩm kém chất lượng” để trở thành những con người lưu manh, cặn bã, bần tiện bên lề xã hội. Chí Phèo của Nam Cao là “khố rách, áo ôm” trong làng Vũ Đại còn AQ của Lỗ Tấn là kẻ “vô công, dồi nghề” của làng Mùi. Lỗ Tấn viết về AQ như sau:  

“Một là lão chủ quán rượu nhất định không bán chịu cho y nữa. Hai là, lão từ ở đền Thổ Cốc cũng nói lảm nhảm như muốn ngỏ ý thúc giục y dọn đi chỗ khác. Ba là, không nhớ rõ bao nhiêu ngày trời rồi, nhưng đã khá lâu, không hề có người nào gọi y đi làm vặt nữa! Cửa hàng rượu không bán chịu thì nhịn đi cũng xong, lão từ muốn đuổi thì lần lữa còn có thể được, chỉ có điều không ai gọi đi làm thì chết đói. Đến thế này thì thật là "mẹ kiếp"!

Chân dung Lỗ Tấn (chụp năm 1934)

Trung Hoa vào thời đó xảy ra cuộc “Cách mạng Tân Hợi” (1911), đó là cuộc “cách mạng dân chủ tư sản nửa vời”, có nghĩa là không cải cách được cái mạng sống của người dân nghèo mà trái lại, còn đẩy họ vào cảnh lầm than phục vụ giới tư bản thống trị.

Khác với Chí Phèo chuyên “ăn vạ”, anh chàng AQ của Lỗ Tấn có những suy nghĩ riêng, hoàn toàn “không giống ai” về cuộc cách mạng. Lỗ Tấn kể lại:

“Xưa kia, AQ đã mấy lần nghe người ta nói đến cách mạng. Năm nay, y lại đã thấy chém bọn Cách mạng độ vừa rồi. Nhưng trong óc y đã có sẵn một ý kiến chẳng biết nguồn gốc từ đâu cho rằng: làm cách mạng tức là làm giặc; làm giặc tức là báo hại y. Vì vậy nên xưa nay, y vẫn ghét cay ghét đắng bọn Cách mạng. Ngờ đâu, chính bọn đó đã làm cho cụ Cử danh giá khắp vùng như thế kia mà cũng phải sợ, thì y cũng đã hơi lấy làm "lác mắt". Huống nữa là y lại thấy lũ đàn ông đàn bà khốn nạn ở làng Mùi cuống quít lên như vậy, thì y càng khoái chí. Y nghĩ bụng: "Cách mạng cũng hay! Cách mẹ cái mạng lũ chúng nó đi! Ghét quá đi mất! Giận quá đi mất! ... Tớ, tớ cũng sẽ đi đầu hàng cách mạng."

AQ lúc đó chỉ còn “trên răng, dưới dế”, có nghĩa là “vô sản chuyên chính” nên một buổi trưa hôm đó sau khi nốc hai bát rượu hắn thấy lòng “phơi phới nhiệt tình cách mạng”.  Lỗ Tấn viết:

“Rồi chả biết thế quái nào mà bỗng y đã tưởng tượng ngay rằng y là người cách mạng, và cả bọn dân làng Mùi đã thành "tù binh" của y cả rồi! Trong lúc đắc ý, bất giác y hét to lên mấy tiếng: ‘Làm giặc nào! Làm giặc nào!”

Dân làng Mùi bấy giờ đều nhìn AQ bằng cặp mắt sợ hãi vô cùng. Đó là điều đáng chú ý vì dân làng xưa nay vẫn thường coi y không ra gì. Thành ra y thích chí vô hạn, chẳng khác gì nắng tháng sáu mà được uống nước đá vậy! Y càng hớn hở rảo bước và nói to: 

“Hay lắm! Tớ muốn gì sẽ được nấy! Tớ ưa ai là người ấy được nhờ!”

Cụ Cố quay hẳn một góc 180 độ. Cụ gọi AQ bằng “bác” một cách đầy kính trọng pha lẫn sợ sệt. Cụ lên tiếng xã giao: “Bác Q này… Dạo này phát tài chứ?” AQ thản nhiên: “Vâng, Phát tài hẳn chứ lỵ”. Cụ cố rụt rè lên tiếng: “À… Bác Q này… Bọn mình là bạn nghèo với nhau cả…”. AQ cắt ngang: “Bạn nghèo à? Anh lại không phong lưu bằng mấy tôi ấy à?”. Nói rồi AQ lạnh lùng bỏ đi.

Cách mạng ở Trung Hoa ngày đó là thế đấy. Chả trách gì nhà nước Trung Quốc bây giờ loại bỏ nhiều tác phẩm của Lỗ Tấn khỏi sách giáo khoa trong chương trình giáo dục phổ thông. Họ cho rằng, “không còn hợp thời nữa”.

Minh họa của Feng Zik trong “AQ Chính Truyện”,
mô tả cảnh hai người Tầu nắm đuôi sam của nhau

Nhà văn Lỗ Tấn cũng bị ảnh hưởng bởi văn chương của Nga, cũng tựa như người Trung Quốc cho rằng truyện Chí Phèo của ta chịu ảnh hưởng của Lỗ Tấn. Ông đã từng nói:

“Văn học Nga là người dẫn đường và là người bạn của tôi. Từ văn học Nga, tôi có thể thấy ngọn lửa nhân đạo của những người bị áp bức… và cuộc đấu tranh của họ. Đọc văn học Nga có thể tôi sẽ buồn, nhưng nhen nhóm tia hy vọng…”

Cụ thể nhất là ảnh hưởng của nhà văn người Nga, Nikolai Vasilyevich Gogol (1809-1852).  Năm 1834 Gogol viết “Nhật Ký Người Điên” và năm 1918 Lỗ Tấn có một truyện ngắn mang cùng tên và đây cũng là tác phẩm đầu tay của ông.  Theo Lỗ Tấn, khi viết truyện này, ông đặt ra mục tiêu là phơi bày những tội ác của chế độ gia đình và học thuyết về chữ Lễ.

Trong “Nhật Ký Người Điên”, Lỗ Tấn bàn về căn bệnh “Bách Hại Cuồng”. Đó là một bệnh mà người mắc phải lúc nào cũng thấy người xung quanh luôn có ý hại mình. Tác giả viết:

“Lúc sáng bước chân ra cửa, đã hết sức cẩn thận, thế mà ông Triệu lại nhìn mình bằng con mắt quái gở, hình như sợ mình mà cũng hình như muốn hại mình. Còn có bảy tám người nữa chụm đầu thì thầm với nhau về mình, lại sợ mình thấy. Những người gặp trên đường cũng đều như thế cả. Có một người dữ tợn nhất, há hốc miệng, nhìn mình, cười một cái, làm mình lạnh toát từ đầu đến chân. Cho biết họ đã sắp đặt đâu vào đó cả rồi!”

Người điên thậm chí còn nhìn thầy lang chữa bệnh cho mình bằng một con mắt “khác thường”. Hắn ghi lại trong nhật ký:

“Há mình lại không biết lão già này chỉ là một tay giết người trá hình hay sao? Rõ ràng lấy cớ đến bắt mạch để dò xem béo hay gầy. Vời cái công đó, lão ta sẽ được chia một phần mà ăn. Mình cũng chẳng sợ. Tuy không hề ăn thịt người, nhưng mình còn can đảm hơn họ nhiều.

“Cứ đưa tay ra, xem lão ta giở trò gì. Lão ta ngồi xuống, nhắm mắt, sờ sờ mó mó một lúc, lại ngồi thừ ra một lúc rồi giương tròn đôi mắt quỷ sứ, nói: ‘Không nên nghĩ vơ vẩn. Tĩnh dưỡng mấy ngày là khỏi’.

“Tĩnh dưỡng cho béo, tự nhiên họ sẽ được nhiều thịt mà ăn. Mình thì được cái gì? Làm thế nào “khỏi” được? Bọn họ muốn ăn thịt người, nhưng lại cứ lấm la lấm lét, muốn che dấu đi, không dám đường hoàng mà ra tay, làm mình chết cười đi được. Không nhịn nổi, mình cười phá lên, thích thú quá. Riêng mình, mình biết tiếng cười của mình là dũng cảm, nghĩa khí. Lão già và ông anh mặt cứ tái đi, bị cái dũng cảm, cái nghĩa khí của mình áp đảo”.

(hết trích)

Triết lý “Bách Hại Cuồng” của người điên chỉ cần tóm tắt vài dòng như sau:

“Muốn ăn thịt người khác, nhưng lại sợ người khác ăn thịt nên họ giữ miếng nhau, nhìn nhau ngờ vực. Bỏ được tâm địa ấy đi mà yên trí làm việc, đi đứng, ăn ngủ khoan khoái biết chừng nào… Nhưng bọn họ, cha con, anh em, vợ chồng, bè bạn, thầy trò, thù địch, và cả những người không hề quen biết nhau nữa đều cùng một bè với nhau, khuyến khích nhau, lôi kéo nhau, dù chết cũng không chịu bước qua bước đó”.

Người Hoa trước cuộc Cách mạng Tân Hợi

Tóm lại, AQ là hiện thân của cả hai: “tính” cũng như “tật” xấu của người Trung Quốc. AQ có nhiều lý luận đến độ "điên khùng". AQ hay bắt nạt kẻ kém may mắn hơn mình nhưng lại sợ hãi trước những kẻ hơn mình về địa vị, quyền lực hoặc sức mạnh. Anh ta tự thuyết phục bản thân rằng “mình có tinh thần cao cả so với những kẻ áp bức mình” ngay trong khi anh ta phải chịu đựng sự bạo ngược và áp bức của chúng. 

Qua ngòi bút của mình, Lỗ Tấn đã cho thấy những sai lầm của AQ đi theo con đường “cách mạng nửa vời”. Đó cũng là sai lầm của cả dân tộc Trung Hoa thời bấy giờ và có lẽ cả thời bây giờ.

Kết thúc tác phẩm “AQ Chính Truyện” là hình ảnh AQ bị đưa ra pháp trường xử bắn  vì bị vu oan “cướp nhà Cụ Triệu”. Con người chân chất của AQ, một người làm “cách mạng” nhưng không thể “cách được cái mạng của mình” thật sâu sắc nhưng cũng thật khôi hài!


***
--> Read more..

Thứ Bảy, 30 tháng 9, 2017

Chuyện “Cái Nòn”

Tựa đề câu chuyện “Cái Nòn” tôi không đánh máy sai chính tả mà lấy từ một đoản văn của nhà báo Bùi Bảo Trúc [1]. Ông đã qua đời năm 2016 tại Hoa Kỳ và bài viết “Cái Nòn” nằm trong cuốn sách “Thư gửi bạn ta Chuyện Thật Mà Như Đùa”, gồm 86 chuyện cực ngắn do nhà xuất bản Vietstream phát hành tháng 12/2016 tại Hoa Kỳ.

Mới đọc tựa đề chuyện “Cái Nòn” (viết vào tháng 12/2015) người ta không khỏi thắc mắc: “Cái nòn là cái gì? Tại sao lại có tên “Cái Nòn”? Ngay câu đầu truyện, ta có thể hiểu được thâm ý của tác giả:

“Vào internet đọc báo ở trong nước tôi ghét nhất là những bức hình trên báo chụp những người đàn ông đội những cái nón cối màu cứt ngựa”.

À… như vậy là Bùi Bảo Trúc rất “dị ứng” với cái nón cối… nhưng mãi đến đoạn kết mới hiểu lý do tại sao tác giả gọi là “Cái Nòn” chứ không phải là “Cái Nón”. Ông kể lại sự tích một hôm trời mưa nặng hạt, bác Hồ xuống thăm “cơ sở” và nhà thơ “bình dân” Bút Tre [2] kể lại:  

“Chị Định đón bác dưới mưa
Chị sợ bác ướt, chị đưa cán nòn…”

Sách của Bùi Bảo Trúc

“Cái Nòn” của Bút Tre là vậy! Và “Cái Nòn” của Bùi Bảo Trúc cũng xuất xứ từ đấy. Tuy nhiên, đối với nhà văn Nguyễn Bá Chổi, cái nón cối lại mang “nhiều ấn tượng nhất” trong số nhiều loại nón như mũ phớt, mũ lưỡi trai, mũ nồi, mũ rừng, mũ nhựa, mũ sắt và… mũ “bảo hiểm” mà ngày xưa còn có tên “mũ an toàn” (safety helmet). Tác giả tâm sự:

“Ngày ấy, sau Chiến Thắng Điện Biên Phủ một thời gian không lâu, quê tôi, làng Yên Phú bên bờ Sông La, lần đầu tiên đón tiếp các chú Bộ đội Cụ Hồ về đóng quân tại nhà dân. Đó cũng là lần đầu tiên tôi được thấy tận mắt cái nón cối.

“Chiến thắng Điện Biên, Bộ đội ta kéo quân trở về, giữa mùa hoa nở”. Nghe các chú ấy hát, tôi hình dung những cái nón cối nhấp nhô trên đường phố Hà Nội giữa tiếng reo hò của đồng bào Thủ Đô, thấy oai phong lẫm liệt hùng tráng làm sao; bây giờ hồi tưởng laị cảm xúc lúc ấy, và để diễn tả cho chính xác hơn, chắc phải mượn mấy chữ của Công tử Hà Đông [biệt hiệu của nhà văn Hoàng Hải Thủy – Chú thích của NNC], “cảm khái cách gì”.

“Tình yêu nón cối” của tôi đã không qua mắt mẹ tôì dù bà luôn đi sớm về tối với đôi quang gánh trên vai lo việc buôn bán nơi chợ bên kia sông,và bà đã đi chợ Huyện sắm cho hai anh em tôi mỗi đứa một cái nón Cối và một đôi dép Lốp (sau này được biết còn gọi là dép Bình Trị Thiên hay dép Râu). Cái món thời trang quý hiếm này, hai anh em tôi may mắn có sớm nhất trong làng khiến những đứa khác trầm trồ càng làm tôi hãnh diện, và thích đi đó đây ngoài... đường.

“Nhưng rồi ngày vui qua mau. Làng bỗng xuất hiện một tốp người lạ cũng đội nón Cối mang dép râu, quần áo màu nâu và vai mang cái xắc cốt dây dài thượt... và không lâu sau đó dân làng người nhìn nhau xa lạ, kẻ nói nhau xầm xì, và những cuộc đấu tố... Bữa ăn cơm phải đóng kín cửa và nghe mẹ dặn "nay con phải gọi cá bằng cà, và thịt bằng dưa. Nhớ nha con, không thì chết cả nhà".

(hết trích)

Bộ đội cụ Hồ và chiếc nón cối

Nhân Nguyễn Bá Chổi có nhắc đến “Công tử Hà Đông” tức nhà văn Hoàng Hải Thủy nên cũng cần nói thêm đôi điều. Bài viết “Giải pháp Bảo Đại” trên trang mạng “Hoàng Hải Thủy a.k Công tử Hà Đông” (https://hoanghaithuy.wordpress.com/2008/03/11/gi%E1%BA%A3i-phap-b%E1%BA%A3o-d%E1%BA%A1i/) có đăng một bức hình với caption “Vua Bảo Đại xuất hiện trong một nghi lễ chính thức với quan chức Pháp năm 1930”, Hoàng Hải Thủy xác định “là không đúng”. Tác giả viết:

“Vua Bảo Đại chỉ về nước chính thức làm Vua năm 1934. Tôi đăng ảnh xưa này để quí vị thấy cái Nón Cối – Quan Tây gọi là – casque colonial – cát cô-lô-nhần, được các quí quan Đại Pháp đội vào nước ta từ những năm 1880, 1890. Ông Tây, bà Đầm từ giã 3 nước Đông Pháp, Nón Cối của quí quan Đại Pháp ở lại với người An-nam Bắc Kỳ mãi cho đến nay. Người Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa không dùng Nón Cối. Chủ Tịt Hồ chí Minh đáng được chính phủ Pháp ghi công là “người có công bảo tồn Nón Cối, di sản Văn Minh Phú-lăng-sa ở Đông Dương.”

Nhà văn Hoàng Hải Thủy phản bác chú thích của tấm hình này

Nhà văn Bùi Bảo Trúc cũng đã xác định về lai lịch của chiếc nón cối trong bài viết “Cái Nòn” đã dẫn:

“Những chiếc mũ cối ấy lại có nguồn gốc rất thực dân. Chính người Pháp đã đem nó vào Việt Nam. Nó được làm bằng bấc nên nó còn được gọi là mũ liège. Nó nhẹ, không giữ nóng nên rất thích hợp cho các vùng nhiệt đới.

“Ở Ấn Độ, ở Phi châu, ở Đông Nam Á nó đều có mặt. Kiểu có thể hơi khác nhau nhưng chung chung thì nó vẫn giống nhau. Bác sĩ Schweitzer đội nó ở rừng già Phi châu, toàn quyền Doumer đội nó trong bức ảnh chụp chung với vua Khải Định, phó vương Mountbatten ở Ấn Độ… và tôi cũng bị bắt đội nó trong mấy năm tiểu học. Có thể vì thế mà tôi thù ghét nó suốt bao nhiêu năm nay”

(hết trích)

Bác sĩ Albert Schweitzer và chiếc nón thuộc địa tại Phi châu (hình chụp năm 1933)

Cái nón cối xuất hiện tại Việt Nam thời xa xưa có mầu trắng hay mày vàng nhạt. Hình như nó mang những cái tên như “mũ muồng”, “mũ thuộc địa” thường thấy trên đầu mấy anh Tây thực dân mặc quần “short” áo “chemise” tay ngắn. Người ta cũng thấy những học sinh thời thuộc địa mặc quần áo dài chân mang “sandale” hay “pantoufle” trắng đội thêm chiếc nón muồng trên đầu.

Những người già trong làng Phương Trung kể lại: Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, người Pháp đã phát hiện lưu vực ven sông Luộc, nhất là vùng đất xã Hồng Nam, Hoàng Hanh, Phương Chiểu có điều kiện thổ nhưỡng rất phù hợp với việc trồng cây muồng. Cũng từ việc phát hiện đó mà nơi đây đã hình thành nên vùng thâm canh cây muồng và sản xuất mũ muồng bán cho “quan Tây” và lính Pháp thời bấy giờ.

Một cơ sở sản xuất “mũ muồng”, thôn Phương Trung, xã Phương Chiểu, Tiên Lữ, đạt sản lượng trên 4 vạn cốt mũ mỗi năm

***

Trên đây là những “chuyện xưa, tích cũ” còn chuyện mới nhất bây giờ là niên khóa 2017-2018 trường Trung học Phổ thông Thanh Chương 3 tại Nghệ An đồng loạt đội nón cối trong ngày khai giảng. Theo báo chí, “… Từ ý tưởng học môn Quốc phòng phải đội mũ cối, sáng 5/9, học sinh trường THPT Thanh Chương 3 mặc quần áo chỉnh tề, đội mũ cối dự lễ khai giảng năm học mới”.

Cũng theo báo “lề phải”, ý tưởng này được Đoàn trường đưa ra từ hai năm trước. Đây là lần thứ hai trường tổ chức khai giảng bằng cách cho học sinh đội mũ cối. Thầy Nguyễn Nhật Đức, Bí thư đoàn trường, chia sẻ: "Năm trước, học sinh có đội nhưng chỉ được gần 30% học sinh hưởng ứng". Theo thầy Đức, việc đội mũ cối vừa tạo ra nét riêng, học sinh được che nắng, mưa, đảm bảo sức khỏe.

Thầy Phan Bá Tiến - Hiệu trưởng trường THPT Thanh Chương 3 - cho biết khi Đoàn trường đề xuất ý tưởng này, ban giám hiệu hưởng ứng nhiệt tình. Nhà trường đánh giá cao những ý tưởng mà Đoàn trường đề ra.

Ngày khai giảng niên học 2017-2018 tại Nghệ An

Xin miễn bình luận thêm về sự kiện này. Nghĩ sao còn tùy chính kiến của mỗi người nhưng tác giả bài viết này chỉ xin một câu kết như sau:

“Từ chuyện “cái nòn” sang đến chuyện “cái nón” quả thật có nhiều ý nghĩa. Lịch sử của cái nón cối cũng khiến người đọc phải suy nghĩ. Và cuối cùng, chuyện học sinh đội mũ cối đi khai giảng niên học thật “ly kỳ”, ngoài sức tưởng tượng của nhiều người. Hóa ra chuyện “cái nòn” ngày nào đành thua chuyện “cái nón cối” đi vào trường học ngày nay!”.


***

Chú thích:

[1] Trong “tiểu sử tự thuật” Bùi Bảo Trúc lúc còn sinh thời viết về mình có đoạn:

“Bùi Bảo Trúc sinh năm 1944 ở miền Bắc nhưng chỉ ở Hà Nội có đúng 10 năm đầu. Sống ở miền Nam nhiều hơn miền Bắc, và sống ở ngoài Việt Nam lâu hơn là sống ở trong nước. Dậy học ở Sài Gòn rồi cho một community college ở Washington DC.

“Làm phát ngôn viên cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975 rồi làm cho đài phát thanh Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) trong hơn 20 năm cho đến khi về hưu. Viết cho một số báo chí Việt ngữ ở hải ngoại như đã gắn bó với nghề cầm bút từ thời còn đi du học và sau khi về nước. Dính cả với truyền thanh và truyền hình Việt Nam ở nước ngoài. Cũng đã làm truyền hình ở Sài Gòn hồi năm 1968”

(hết trích)

[2] Phải nói thêm cho rõ, thơ Bút Tre là loại thơ bình dân xuất xứ từ miền Bắc với phong cách thơ mang một sắc thái lạ: “cưỡng từ đổi nghĩa, sửa dấu ép vần” lại thêm đặc điểm thường hay dùng lối “cắt tên, xuống dòng” gây ngộ nhận và thích thú cho người đọc. Tham khảo thêm về Bút Tre tại http://chinhhoiuc.blogspot.com/2012/10/but-tre-va-truong-phai-tho-binh-dan.html

***


--> Read more..

Thứ Tư, 27 tháng 9, 2017

Điển cố văn học: Thạch Sùng

Trong các tác phẩn văn học xưa của ta, rất nhiều truyện nhắc đến một nhân vật giàu có thuộc loại “nứt đố, đổ vách”. Đó là Thạch Sùng với một gia tài đồ sộ, dinh cơ tráng lệ, tiền bạc như nước. Ngày nay, người ta thường dùng chữ “đại gia” để ám chỉ những kẻ giàu sang nhưng dùng trong một ngữ cảnh khác, từ ngữ này lại là một “trọc phú” với bản chất tham lam.

Sự tích con thạch sùng là truyện cổ tích dân gian kể về một nhân vật nghèo khổ bỗng phát tài giàu có, khi chết hoá làm con thạch sùng. Có hai vợ chồng một người nghèo khó tên là Thạch Sùng, sống bằng nghề ăn xin và góp nhặt được một số vốn.

Một hôm Thạch Sùng nhìn điềm trời đoán biết sẽ mưa lụt to, nên dồn tiền vào việc tích trữ gạo. Quả nhiên, tháng Tám năm ấy trời làm một trận lụt lớn, giá gạo tăng vọt, Thạch Sùng đem số gạo tích trữ ra bán, trở nên giàu có và thôi nghề ăn xin.

Thạch Sùng trở thành một phú ông, lại nhờ tài buôn bán và cho vay lãi, gia tài của ông ngày càng lớn, và mua được địa vị, vua phong tước cho ông tước Quận công. Em hoàng hậu họ Vương cũng là tay cự phú và tiêu tiền phí vào bậc nhất, khi gặp Thạch Sùng trong một bữa tiệc hai bên đều muốn khoe của. Ai cũng khoe mình nhiều tiền của và tự cho mình là giàu hơn. Các quan thấy vậy bèn nói:

“Hai ngài cãi nhau như thế không ích gì cả. Cần phải có chứng cớ thì chúng tôi mới tin. Hai ngài hãy trưng của cải ra cho chúng tôi xem. Ai thua phải nộp cho bên được mười thúng vàng. Chúng tôi sẽ làm chứng cho...”

Hai bên nhận lời và ký vào giấy giao ước, nếu ai thua cuộc thì mất toàn bộ gia sản. Cả hai bên mang đủ thứ tài sản trong nhà ra khoe: gấm vóc, sừng tê, ngói thuỷ tinh, đá lát nhà, san hô, ngựa thiên lý, ngọc, bạc, vàng... Tuy nhiên vẫn không ai chịu kém ai.

Hoàng hậu lo cho em mình thua cuộc, có phái mấy viên hoạn quan nhiều mưu trí đi theo để giúp sức bày kế cho Vương Khải nên thách Thạch Sùng đưa ra “mẻ kho”. Vì “mẻ kho” là thứ nồi đất mẻ mà chỉ nhà nào cùng khổ lắm mới dùng để nấu thức ăn, mà lúc đó Thạch Sùng đã quá giàu có, bỏ đi từ lâu không dùng nữa, không có nên đành thua cuộc.

Thạch Sùng cay đắng nhìn thấy tất cả gia sản cho đến vợ con, nàng hầu, nô tỳ... đều chạy sang tay họ Vương, ông tắc lưỡi tiếc cho cơ nghiệp tự tay mình gây dựng trong bao năm đến nay lại hoàn tay trắng. Rồi ông chết, hóa thành con thạch sùng. Thạch sùng thỉnh thoảng lại chắt lưỡi kêu lên mấy tiếng chép miệng vì tiếc của.

Thạch sùng (Hemidactylus frenatus) săn mồi vào ban đêm, thường hoạt động ở những khu vực có ánh đèn là những nơi thu hút côn trùng. Đôi khi người ta thấy thạch sùng "ăn vụng" thức ăn hoặc nước uống không được đậy kỹ trong nhà, nên mặc dù là loài động vật rất có ích nhưng chúng vẫn gây ác cảm đối với một số người. Cũng có khi phân của thạch sùng làm nhiều người khó chịu.

Thạch sùng là hình tượng giản dị gần gũi với người dân Việt Nam, bắt nguồn từ tiếng kêu "chách chách" của thạch sùng nghe giống như người than thở "tiếc của". Ở miền Nam, thạch sùng được gọi là thằn lằn. Tuy nhiên tên gọi này có thể khiến chúng bị nhầm lẫn với một vài loài thằn lằn khác.

Thạch sùng săn mồi

Chuyện về “đại gia” Thạch Sùng được Phan Thế Roanh giải thích một cách chi tiết hơn trong cuốn “Điển Cố” về truyện và thơ do nhà xuất bản Nam Sơn (63 Hàng Giấy, Hà Nội) phát hành. Đây là cuốn sách xuất bản năm 1954 do thân phụ tôi để lại với nhiều bút tích ghi chép bên lề.

“Điển Cố” – Nhà xuất bảm Nam Sơn, Hà Nội (1954)

Trong “Điển Cố”, Thạch Sùng được nhắc đến qua truyện thơ Nôm “Trinh Thử” [1]. Truyện thuộc loại ngụ ngôn, kể lại chuyện con chuột đực tán tỉnh con chuột bạch góa chồng rồi bị chuột cái ghen tương nên quyết liều chết để bảo toàn chữ Trinh nên mới có tên là “Trinh Thử”.

“Thạch Sùng tắc lưỡi lắc đầu.
Nhân sinh rất mực hóa dầu hóa sang”

Hơn thế nữa, tác giả còn nhắc đến Thạch Sùng qua tác phẩm thơ Nôm “Quan Âm Thị Kính” [2] với hai câu lục bát:

“Trong làng có một phú ông,
Gia tư đọ với Thách Sùng kém đâu”

Theo Phan Thế Roanh, Thạch Sùng vốn sinh ở Thanh Châu, đời Tây Tấn. Thạch Sùng có bố tên là Thạch Bào, lúc lâm chung ông chia của cho các con, Thạch Sùng là người được phần ít nhất. Người mẹ hỏi tại sao không chia đều, Thạch Bào giải thích: “Về sau nó sẽ có nhiều hơn những đứa kia”.

Sau Thạch Sùng làm quan được phong tước An Dương Hầu nhưng lại thường kết bè kết đảng với lũ cường đạo, ăn cướp của những thương khách nên trở thành “đại phú”. Thạch Sùng có một biệt thự ở lũng Kim Cốc rất tráng lệ là nơi thường họp các bạn bè để ăn uống, chơi bời. Phan Thế Roanh viết về sự xa hoa của Thạch sùng:

“Càng ngày càng giàu có, lâu các nguy nga, cao đến trăm trượng, trăng toàn gầm vóc, trạm lộng rất công phu, các đồ trân quý không biết bao nhiêu mà kể. Kể về tài sản thì thực là thiên hạ vô song”.

Thời bầy giờ có quan Hậu Tướng Quân, tên Vương Khải, em hoàng hậu, nhà cũng rất giàu, xa xỉ cũng vào bậc nhất. Một hôm hai người cạnh tranh nhau về sự giàu có. Vương Khải nói: “Tôi lấy đường làm tro”, Thạch Sùng đáp: “Tôi lấy nến làm củi”. Vua thấy thế bèn phán: “Lời nói không lấy gì làm bằng. Muốn biết ai hơn ai kém, phải lấy những thứ quý nhất đem ra, hễ ai nhiều thì được”

Vương Khải lấy trướng lụa rải đường được 40 dặm, Thạch Sùng lại trải được 50 dặm. Vương Khải dùng phấn đá đỏ quét vôi nhà, Thạch Sùng lại dùng hồ tiêu. Vương Khải đem cây san hô cao 2 mét, Thạch Sùng lấy ngọc như ý đập cây ấy vỡ tan.

Đến khi vua Vũ Đế băng hà, thái tử là Huệ Đế lên ngôi. Vị vua nhu nhược nên quyền chính về tay Thân Vương tranh quyền thành ra nội loạn. Gian thần Tôn Tú nghe nói Thạch Sùng có một ái cơ tên Lục Châu, nhan sắc lạ thường, cầm kỳ thi họa vào hàng tuyệt kỷ.

Tôn Tú khiến sai nha đến bắt Lục Châu nhưng Thạch Sùng phản đối. Tôn Tú cả giận tâu vua: “Thạch Sùng có ý làm phản, ỷ thế giàu có, lập mưu làm loạn, nếu không trừ khử, sau hối không kịp”.

Triệu Vương nói nếu thế thì cứ giết. Tôn Tú được lệnh đem 200 quân đến vây nhà Thạch Sùng, khi đó đang cùng Lục Châu ngồi trên lầu Kim Cốc. Thạch Sùng nói với Lục Châu: “Tôi vì nàng mà bị tội”. Lục Châu đáp: “Quân hầu đã vì thiếp mà phải tội thì thiếp cũng vì Quân hầu mà chết”. Nói rồi nhảy từ trên lầu cao mà chết. Thế là Thạch Sùng bị đem ra xử trảm, gia sản bị tịch biên.

Trang “Điển Cố” viết về Thạch Sùng

Sự tích Thạch Sùng theo Phan Thế Roanh là vậy. Phải chăng “việc soi gương kim cổ” cũng là một bài học muôn đời cho hậu thế? Phương Đông có câu “Của phi nghĩa không bền” và Phương Tây đáp lại “Trả lại cho Cesar những gì thuộc về Cesar”.

Thời nào cũng vậy. Điển cố văn học về Thạch Sùng cũng là một bài học cho người đương thời!   

*** 
Chú thích:

[1] “Trinh Thử” là một truyện thơ nôm,  dài 850 câu lục bát kể chuyện con chuột đực quyến rũ chuột bạch. Theo bản in năm Đinh Tỵ (1875) kể rằng vào năm Long Khánh (niên hiệu của Trần Duệ Tông), đời Trần ở miền Lộc Đỗng có người Hồ sinh, học rộng biết nhiều, lại nghe được tiếng chim muông, dã thú.

Nhân ra chơi kinh thành, chàng ngụ ở gần nhà Thừa tướng Hồ Quý Ly. Đêm nằm bỗng nghe tiếng chó sủa. Chó sủa làm cho một con chuột bạch góa chồng đang đi kiếm ăn bên nhà Hồ Quý Ly kinh hãi chạy vào nấp ở hang chuột đực. Bị chuột đực tán tỉnh nhưng chuột bạch nhất định cự tuyệt và quyết liều chết để bảo toàn chữ trinh.

Đang khi ấy, vợ chuột đực là chuột cái về, ngờ rằng chồng mình và chuột bạch có tình gian, tỏ ý giận dữ. Chuột Bạch giãi bày, biện bạch rồi từ biệt ra về. Nhưng Chuột Cái không tin, nổi ghen, đay nghiến chồng, rồi còn đến nhà Chuột Bạch để xỉ vả. Mèo ở đâu chợt đến. Chuột Bạch chạy thoát vào cong gạo, còn Chuột Cái chạy lạc đường sa xuống ao. Hồ sinh thấy thế, bèn đuổi mèo đi, vớt Chuột Cái lên, rồi lấy lời lẽ phải trái nói rõ lòng trinh tiết của Chuột Bạch và khuyên nhủ Chuột Cái về đạo cư xử trong gia đình.

Trinh thử nghĩa là con chuột có lòng trinh tiết. Theo một số nhà nghiên cứu trước đây như Dương Quảng Hàm, Bùi Kỷ thì đây là một câu chuyện ngụ ngôn, Hồ Huyền Quy mượn chuyện của loài chuột để tán dương lòng trinh tiết và chỉ trích lòng dâm tà của người đời. Cũng có ý kiến cho rằng Hồ Huyền Quy mượn chuyện con chuột để châm biếm Hồ Quý Ly và hoàn cảnh chính trị đương thời.

Tuy nhiên theo nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh xác định thì truyện Trinh Thử thoát thai từ một tác phẩm văn xuôi chữ Hán tên là "Đông thành trinh thử truyện" (Truyện con chuột trinh tiết ở tường thành phía đông) vào nửa sau thế kỷ XIX. Cũng theo ông, thì tác giả có thể là một danh sĩ lúc bấy giờ.

Một số người lại cho rằng truyện này do Nguyễn Hàm Nghi (em ruột Nguyễn Hàm Ninh) ở Quảng Bình viết vào thời thực dân Pháp mới sang xâm lược Việt Nam, và có ý ám chỉ thời thế. Sách "Từ điển văn học" (bộ mới) ghi tác giả là khuyết danh. Trong khi chưa xác định được tác giả chính xác, ở đây tạm xếp truyện này vào tác giả Hồ Huyền Quy.

* Nhà nghiên cứu Triêu Dương bình luận:

“Trinh thử” đề cao lối sống trong sạch, chỉ trích những kẻ keo bẩn ky cóp làm giàu một cách không chính đáng. Tác phẩm cũng chĩa mũi nhọn vào bọn quyền thần, và phản đối lối sống tùy thời của những kẻ chuyên luồn cúi. Luân lý ở đây có phần hợp với nhân dân lao động, nhưng cũng chịu ảnh hưởng nặng nề của lễ giáo phong kiến chính thống...”

* Giáo sư Thanh Lãng nhận xét:

“Đây là cuộc đấu tranh xoay quanh vấn đề giá trị của đạo đức và ý nghĩa của cuộc sống. Chuột Đực phản đối trinh tiết, mỉa mai đời sống thanh bần, chê cuộc sống theo nề nếp. Về lý thuyết, Chuột Đực chủ trương thuyết vị lợi, sống là hưởng thụ, và hoài nghi mọi giá trị đạo đức luân lý.

“Chuột Bạch bảo vệ trinh tiết, phản đối bội bạc, coi khinh giàu sang bất chính... “Trinh Thử” là hình ảnh của hạng người trong xã hội đương thời, một bên là trọng nghĩa khinh tài, một bên là phường giá áo túi cơm...”

* Xét về lời văn, nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm viết:

“Lời văn truyện Trinh thử bình thường giản dị mà vẫn chải chuốt thanh tao. Và có một điều đặc sắc là dùng nhiều câu phương ngôn, tục ngữ một cách khéo léo”.

[2] “Quan Âm Thị Kính”, còn có tên là “Quan Âm Tân Truyện” là một truyện thơ Nôm. Từ lâu, truyện thơ vẫn được xem là của tác giả "khuyết danh", nhưng hiện nay lại có hai giả thuyết:

1. Theo nghiên cứu của Hoa Bằng (1902-1977), thì tác giả của truyện thơ này là Nguyễn Cấp, một nhà văn sống vào nửa đầu thế kỷ 19. Ông là người ở thôn Thượng, xã Nguyên Khiết, huyện Thọ Xương; nay thuộc thành phố Hà Nội.

2. Theo Gia phả họ Đỗ ở Bắc Ninh do Dương Xuân Thự cung cấp, thì truyện thơ “Quan Âm Thị Kính” do Đỗ Trọng Dư (1786 - 1868) sáng tác. Ông là người xã Đại Mão, huyện Siêu Loại, xứ Kinh Bắc; nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Đỗ Hương cống năm 1819, ông được bổ chức quan, lần lượt trải đến chức Tri phủ Quốc Oai.

Theo văn bản của Giáo sư Dương Quảng Hàm giới thiệu tại lần xuất bản duy nhất cho đến nay của Nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, ấn hành năm 1961 thì truyện này gồm 786 câu lục bát. Tập truyện gồm 5 hồi: (1) Thị Kính mắc tiếng oan giết chồng; (2) Thị Kính đi tu; (3) Thị Kính mắc tiếng oan với Thị Mầu; (4) Thị Kính nuôi con Thị Mầu; và (5) Thị Kính rửa sạch tiếng oan và thành Phật.

* Theo Giáo sự Thanh Lãng:

“Tư tưởng trong “Quan Âm Thị Kính” là tư tưởng Phật giáo. Đời là một bể khổ mà mỗi người là một con thuyền vô trạo, một cánh bèo trôi giạt ở bến mê. Đời Thị Kính là một thí dụ. Đời buồn là thế, chúng sinh muốn hết khổ thì phải tìm đến con đường tu hành. Do vậy, luân lý của truyện có thể tóm lại ở câu:

“Nhân sinh thành Phật dễ đâu,
Tu thân, cứu khổ, rồi sau mới thành”

* Giáo sư Phạm Thế Ngũ nhận xét:

“Truyện Quan Âm Thị Kính chính là một lời cảnh báo cho những người chọn con đường thanh nhàn khi đi tìm tới đạo Phật. Để đắc đạo, người ta phải chỉ chịu khổ hạnh, mà còn phải chịu những oan ức bất công nữa...Như Thị Kính, oan uổng đến vậy mà không hề oán trách trời và số phận, chỉ lấy từ tâm mà chiến thắng cảnh ngộ...

“Chữ rằng nhẫn nhục nhiệm hòa,
Nhẫn điều khó nhẫn mới là chân tu”.

“Ngoài ra ở truyện, ta cũng có thể nhận ra cái thuyết "tài sắc phong trần". Thị Kính bị oan ức, bị quấy rầy, chẳng qua vì nàng có tài sắc hơn người:

“Trời sinh tài sắc làm chi,
Hoa thơm bướm cũng có khi bận lòng...”

“Về hình thức, tình tiết truyện có chỗ gò ép, như việc hiểu lầm của Thiện Sĩ, đã gây ra cái oan thứ nhất. Cái oan thứ hai với Thị Mầu được xây dựng khéo hơn... Văn của truyện thường mộc mạc, giản dị, chịu ảnh hưởng của văn Kiều”.

***

* P/S: Bản sao đồng kính gửi các vị “quan tham” để… “chiêm nghiệm”.

***

Bình luận trên Facebook

Bình luận trên Facebook

Bình luận trên Facebook


***
--> Read more..

Popular posts