Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2014

Qùa Giáng Sinh

Ở các nước Phương Tây, Giáng Sinh là dịp người ta nghĩ đến quà. Cha mẹ tặng quà cho con cái, con cái tính đến việc biếu quà cho các bậc sinh thành. Những người đang yêu hay đã nên vợ, nên chồng nghĩ đến những món quà cho “một nửa kia của mình”. Bạn bè, đồng nghiệp cũng tính đến quà Giáng Sinh cho những người mình quý mến. Ngay cả những người hảo tâm cũng quan tâm đến những người bất hạnh để an ủi họ bằng những món quà mang ý nghĩa từ thiện.


Cứ đến Giáng Sinh tôi lại nhớ đến truyện ngắn của O. Henry [*], một trong những người viết truyện ngắn nổi tiếng của Hoa Kỳ và cũng là nhà văn lừng danh thế giới. Tôi muốn nói đến truyện “The Gift of the Magi” mà ngày xưa hồi còn ở Trung học đã có dịp được đọc. Có nhiều bản dịch tiếng Việt với các tựa đề mang tên khác nhau như “Món quà Giáng Sinh”, “Món quà của nhà thông thái” hay “Món quà của các đạo sĩ”.

Nhân vật chính trong truyện là một cặp vợ chồng trẻ, James và Della, được O. Henry viết và in lần đầu tiên ngày 10/4/1906. Truyện xảy ra một ngày trước lễ Giáng Sinh và cũng như bao nhiêu người khác, James và Della phải tính đến việc mua quà tặng cho nhau. Có điều cặp vợ chồng này rất nghèo nên phải chắt chiu từng đồng để mua những món quà mà đối với họ có ý nghĩa nhất.

Chỉ một ngày trước lễ Giáng Sinh, Della vét hết trong túi và thấy cô chỉ có vỏn vẹn 1 đô-la và 87 xu nhưng cô  lại ao ước mua một sợi dây cho chiếc đồng hồ bỏ túi quý giá của James. Chiếc đồng hồ vàng này là tài sản duy nhất của gia đình truyền lại nhưng chưa bao giờ James có đủ tiền để mua sợi dây.

Đối với James, mái tóc nâu dài, thướt tha, óng mượt của Della là cả gia tài mà anh hãnh diện. Mái tóc đó lâu nay thiếu một bộ kẹp tóc mà James chắc Della thầm ao ước. James quyết định, với bất cứ giá nào anh sẽ mua tặng Della bộ kẹp tóc trong dịp Giáng Sinh. 


O. Henry dẫn người đọc truyện đến những tình tiết éo le, đầy bất ngờ vào đêm Giáng sinh khi James về nhà. Người kể chuyện viết:

“Thế rồi cửa mở, Jim bước vào. Anh ấy trông rất gầy và cần có một cái áo khoác mới. Jim nhìn chằm chằm vào Della. Cô không thể hiểu được anh đang nghĩ gì, cô sợ. Anh ta không giận dữ, cũng chẳng ngạc nhiên. Anh đứng đó, nhìn cô với ánh mắt kỳ lạ. Della chạy đến bên Jim òa khóc: "Đừng nhìn em như thế, anh yêu. Em bán tóc chỉ để mua cho anh một món quà. Tóc sẽ dài ra mà. Em phải bán nó thôi, Jim à. Hãy nói "Giáng sinh Vui vẻ", em có một món quà rất hay cho anh này!"

"Em đã cắt mất tóc rồi à?" Jim hỏi.

"Đúng thế, em đã cắt và bán rồi, vì vậy mà anh không còn yêu em nữa ư? Em vẫn là em mà!" Della nói.

Thì ra Della đã đến tiệm làm tóc giả để bán tóc của mình với giá 20 đô-la. Cộng thêm 1 đô-la trong túi, Della mua sợi dây cho chiếc đồng hồ bỏ túi cho James và về nhà với 87 xu còn lại.

James sững sờ nhìn vợ với mái tóc ngắn cũn cỡn. Lại một bất ngờ kế tiếp: James vòng tay ôm lấy Della và rút từ túi áo ra một vật gì đấy đặt lên bàn. Anh nói:

“Anh yêu em, Della, dù cho tóc em ngắn hay dài. Hãy mở cái này ra em, sẽ hiểu tại sao khi nãy anh sững sờ đến vậy.”

Della xé bỏ lớp giấy bọc ngoài và kêu lên sung suớng, nhưng liền sau đó những giọt nước mắt hạnh phúc rơi xuống trên má nàng. Quà Giáng Sinh cho Della là một bộ kẹp tóc, những chiếc kẹp dành cho mái tóc dài, óng ả của Della. Cô đã mơ ước có đuợc nó khi trông thấy lần đầu tiên qua cửa kính của một gian hàng. Những cái kẹp rất đẹp và rất đắt tiền. Bây giờ chúng đã thuộc về cô nhưng tóc cô thì không còn đủ dài để kẹp nữa!

Della nâng niu món quà trong tay, mắt tràn đầy hạnh phúc. “Tóc em sẽ chóng dài ra thôi, Jim", nói xong cô chợt nhớ đến dây đồng hồ vàng tặng Jim và chạy đi lấy. Khi Della đưa chiếc dây đồng hồ cho James. Nàng nói:

“Đẹp không anh? Em đã tìm kiếm khắp nơi đấy, giờ thì anh sẽ phải thích thú nhìn ngắm nó hàng trăm lần mỗi ngày thôi. Nhanh lên, đưa đồng hồ cho em, Jim, hãy nhìn nó với sợi dây mới này.”

Người đọc chuyện đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác khi James không làm theo lời Della. Ngược lại, anh ngồi xuống mỉm cuời nói: “Della, hãy cất những món quà này đi. Chúng thật đáng yêu. Em biết không, anh đã bán chiếc đồng hồ để mua kẹp tóc cho em. Giờ thì chúng ta có thể bắt đầu bữa ăn tối được rồi em yêu".

Đó là một câu chuyện thật cảm động về tình yêu của hai bạn trẻ đã hết lòng dành cho nhau. Cái cách họ đối phó với những thách thức của việc mua quà tặng Giáng sinh với số tiền ít ỏi mà họ có.

Cốt truyện và tình huống trớ trêu của cuối truyện là một câu chuyện tình cảm động với một bài học về cách tặng quà và trở thành một câu chuyện phổ biến để thích ứng với những tình huống trớ trêu và biểu lộ tình cảm cho nhau trong những dịp đặc biệt, nhất là trong mùa Giáng sinh.


O.Henry tâm sự: “Tôi đã vụng về kể cho bạn nghe một câu chuyện không có hậu về hai cô cậu khờ dại trong một căn hộ nghèo nàn, đã hy sinh những tài sản quý giá của mình một cách không khôn ngoan chút nào. Nhưng lời cuối cùng để nói với những người khôn ngoan thời buổi này là trong những người tặng quà, hai người này là khôn ngoan nhất. Và tất cả những ai trao quà theo cách của họ, kể cả người cho và người nhận, ở bất cứ nơi đâu, đều là khôn ngoan nhất. Họ chính là những nhà thông thái thật sự”.


“The Gift of the Magi” là câu chuyện Giáng Sinh của năm 1906. Bây giờ đã là thế kỷ thứ 21 và chúng ta có thêm một câu chuyện về quà tặng Giáng Sinh vào năm nay, 2014. Chuyện quà Giáng Sinh của năm 1906 xảy ra tại thành phố hoa lệ New York nhưng chuyện năm 2014 lại xảy ra tại Kansas City, thành phố lớn nhất tiểu bang Missouri.    

Kansas City có diện tích 820  km² bao gồm các quận Jackson, Clay, Cass và Platte với dân số ước tính khoảng trên hai triệu người. Tại đây, trong suốt hơn 10 năm qua, cứ vào dịp Giáng Sinh một  thương gia ẩn danh dành ra một trăm ngàn đô la tiền mặt, toàn là giấy 100, để tặng cho người nghèo trong thành phố. Người ta gọi ông là “Ông Già Noel Bí Mật” (Secret Santa).

Một cư dân Kansas City tên Jen Behrend cho biết: “Ông Già Noel Bí Mật” của Kansas  đã có năm ông ấy đến trạm xăng QuikTrip và trả tiền xăng cho mọi xe đến đây hoặc khiến mọi người tại trạm xăng phải ngạc nhiên khi tặng mỗi người tờ 100 đô-la. Ông ấy dấu tên nhưng tôi hy vọng ông ấy biết là những người sống ở Kansas City đều ái mộ ông vì tấm lòng hảo tâm”.

Năm 2014 “Ông Già Noel Bí Mật” đã thay đổi cách tặng quà. Thay vì tự tay phát những tờ 100 đô-la, ông nhờ Cảnh sát quận Jackson làm việc đó. Nhiệm vụ của họ là chạy trên xa lộ, tìm những xe xấu xí nhất như bị móp méo, sơn xe bị trầy sướt hoặc kính bị nứt bể… 


Cảnh sát chặn những chiếc xe này lại không phải vì vi phạm luật giao thông. Thay vào đó, cảnh sát mở đầu với lời chúc “Merry Chirstmas” và tặng chủ xe mỗi người một tờ 100 đô-la làm quà Giáng Sinh.

Nhà từ thiện dấu tên & dấu mặt hội ý với cảnh sát

… Và phân phát cho cảnh sát mỗi người 10 tờ giấy 100 đô-la để thay mặt ông tặng quà cho những người nghèo:


Phản ứng đầu tiên của những người bị cảnh sát chặn xe trên xa lộ là sự lo lắng. Họ lo sốt vó vì đã nghèo mà lại gặp eo.


Nhưng không, sự lo lắng biến mất khi cảnh sát chúc họ “Merry Christmas” và chìa ra món quà 100 đô-la.


Và niềm vui vỡ òa khi một món quà Giáng Sinh… từ trên trời rơi xuống.


Cảnh sát còn hào phóng tặng 200 đô-la nếu trên xe có hai người. Thế là niềm vui được nhân đôi.


Ngoài việc tặng quà Giáng sinh cho những người lái xe “cà tàng” trên xa lộ, “Ông Già Noel Bí Mật” còn nhờ cảnh sát vào siêu thị tặng những tờ 100 đô-la cho các bà nội trợ, những kẻ vô gia cư trong dịp mua sắm cuối năm.


Ở Việt Nam cũng có những nhà từ thiện sẵn sàng phân phát tiền cho người nghèo. Nhưng  chắc chắn họ không bao giờ nhờ cảnh sát giao thông đi phân phát hộ theo kiểu Mỹ… Làm như vậy chẳng khác nào “giao trứng cho ác”!

Bạn không tin vào câu chuyện quà Giáng sinh này? Bản tin đã được đài CBS đưa vào phần tin tức ngày 12/12/2014:


Đã có gần 50 triệu lượt người trên thế giới vào xem clip. Bạn cũng có thể vào xem tại: 



***

Chú thích:

[*] O’Henry (1862 – 1910) là nhà văn nổi tiếng người Mỹ, tên thật là William Sydney Porter. Truyện ngắn của ông nổi tiếng là dí dỏm, dễ hiểu, giàu tình cảm và luôn có những cái kết bất ngờ một cách khéo léo.

Năm 1894, ông thành lập tờ tuần san hài hước “The Rolling Stone” và làm chủ bút. Tờ báo này không mấy thành công nên chết yểu sau một năm. Ông cũng làm phóng viên cho báo khác và thỉnh thoảng đóng góp vẽ hí họa.

Cuộc đời của O. Henry chỉ gặp toàn chuyện trắc trở. Ông qua đời trong nghèo khổ tại thành phố New York ngày 5/6/1910 vì bệnh lao phổi cộng thêm chứng xơ gan. Năm 1919, Hội Nghệ thuật và Khoa học (Society of Arts and Sciences) thiết lập "Giải thưởng Tưởng niệm O. Henry" (O. Henry Memorial Awards), hàng năm trao cho những truyện ngắn xuất sắc.

Tại Việt Nam đã có nhiều bản dịch một số truyện ngắn của O. Henry. Truyện ngắn “The Gift of the Magi” (Quà Giáng Sinh) và  “The Last Leaf” (Chiếc lá cuối cùng) đã được đưa vào chương trình quốc văn trước năm 1975.

Đọc truyện ngắn của O. Henry bằng tiếng Việt trên Việt Nam Thư Quán:


O. Henry - William Sydney Porter

***

(Trích Hồi Ức Một Đời Người – Chương 10: Thời xuống lỗ)

Hồi Ức Một Đời Người gồm 9 Chương:

1.         Chương 1: Thời thơ ấu (từ Hà Nội vào Đà Lạt)
2.         Chương 2: Thời niên thiếu (Đà Lạt và Ban Mê Thuột)
3.         Chương 3: Thời thanh niên (Sài Gòn)
4.         Chương 4: Thời quân ngũ (Sài Gòn – Giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội)
5.         Chương 5: Thời cải tạo (Trảng Lớn, Trảng Táo, Gia Huynh)
6.         Chương 6: Thời điêu linh (Sài Gòn, Đà Lạt)
7.         Chương 7: Thời mở lòng (những chuyện tình cảm)
8.         Chương 8: Thời mở cửa (Bước vào nghề báo, thập niên 80)
9.         Chương 9: Thời hội nhập (Bút ký những chuyến đi tới 15 quốc gia và lãnh thổ)

Tác giả đang viết tiếp một Chương cuối cùng sẽ mang tên… Thời xuống lỗ (thập niên 2000 cho đến ngày xuống lỗ)!













--> Read more..

Thứ Tư, 24 tháng 12, 2014

Việt Nam và “Thế Giới Phẳng”

Trong tác phẩm “The World Is Flat” (Thế Giới Phẳng) của bình luận gia Thomas L. Friedman, báo The New York Times, tác giả nhắc tới hai chữ “Việt Nam” 3 lần. Đó là ở các trang 20, 91 và 117. Trang 20 nhắc lại chiến tranh tại Việt Nam, như vậy là chỉ còn 2 trang có liên quan đến Thế Giới Phẳng, một đề tài mà Friedman giải thích tại sao quả đất tròn nhưng thế giới lại phẳng. Câu trả lời là nhờ công nghệ thông tin nên ranh giới địa lý, chính trị và tri thức giữa các nước không còn là một trở ngại lớn như ngày xưa [*].

Chỉ hai trang nhắc đến Việt Nam là con số quá khiêm tốn nếu so với nước láng giềng Trung Hoa, được nói đến quá nhiều trong suốt cuốn sách dài 488 trang của Friedman về một thế giới ảo. Tuy nhiên, người Việt đọc cuốn sách này cũng cảm thấy phần nào an ủi khi còn nhiều nước trên thế giới không hề được tác giả nhắc đến tên trong lãnh vực công nghệ thông tin.  

Bìa sách “The World Is Flat”

Cột mốc lịch sử trong tiến trình Việt Nam hội nhập công nghệ thông tin (Information technology – IT) là ngày 19/11/1997. Đó là ngày Việt Nam chính thức hòa mạng Internet toàn cầu. Thật ra thì Internet đã được thử nghiệm tại Việt Nam từ năm 1991, công đầu thuộc về Rob Hurle, giáo sư tại Đại học Quốc gia Australia (ANU).

Rob Hurle được xem là người đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển Internet tại Việt Nam qua việc mang một “modem” có kích thước to bằng một “cục gạch” để thực hiện việc liên lạc từ Việt Nam đến Úc bằng đường điện thoại viễn liên.

Cũng cần phải nhắc đến ông Trần Bá Thái, thuộc Viện Công nghệ Thông tin Hà Nội, người đã cùng Rob Hurle tiến hành những cuộc thí nghiệm kết nối các máy tính giữa Úc và Việt Nam bằng modem qua ứng dụng một phần mền do Hurle viết cho hệ thống UNIX để có thể sử dụng modem liên lạc.

Tại Việt Nam, khái niệm về modem còn rất mơ hồ đối với những người sử dụng máy tính vào đầu thập niên 90. Modem, viết tắt từ modulatordemodulator, là một thiết bị biến sóng tín hiệu sang dạng mã hóa. Nói một cách chuyên môn hơn, modem chuyển tín hiệu số '1' và '0' của máy tính thành âm thanh mà nó có thể truyền qua đường dây điện thoại. Khi nhận được ở đầu dây bên kia, modem sẽ chuyển âm thanh trở về tín hiệu '1' và '0'.

Một trong những “cục gạch” nền tảng cho Internet

Phải thú thật, vào những năm đầu thập niên 90 tôi hoàn toàn “mù tịt” về IT. May mắn đến với tôi là được làm việc tại báo Vietnam Investment Review (VIR), một tuần báo chuyên về kinh tế - đầu tư của Úc xuất bản tại Việt Nam. Đây là cơ hội để chúng tôi tiếp cận với công nghệ thông tin nhưng không qua đào tạo chính thức mà chỉ “học mò” trên máy tính theo kiểu “đi tắt, đón đầu”.

Tháng 9/1991 VIR bắt đầu ra số báo đầu tiên, phóng viên chúng tôi “viết” bài bằng máy đánh chữ. Chỉ ít lâu sau VIR, có thêm một máy tính, màn hình đen trắng, hiệu Acer, đời… 286! VIR truyền bài vở ra Hà Nội bằng máy fax và tiếp đến là “thời kỳ đột phá ngoạn mục”: giữa Hà Nội và Sài Gòn có thể nhận bài vở qua modem!  

Cảm giác đầu tiên khi dùng “cục gạch” để chuyển bài viết có lẽ là một trong những kỷ niệm khó quên trong cuộc đời làm báo mà bây giờ nhớ lại chẳng khác nào chơi trò ú tim của trẻ con! Trước khi gửi bài phải liên lạc bằng điện thoại, khi đường dây được thông suốt, hai bên thống nhất với nhau bằng cách đếm 1, 2, 3 rồi cùng bật modem.

Từ “cục gạch” phát ra tín hiệu “rè rè” và khi hai bên “bắt tay với nhau”, modem chuyển sang tiếng kêu “rít rít”. Tín hiệu chỉ ngưng khi bài vở đã được truyền xong. Thế là hoàn tất một công đoạn ngắn gọn mà nếu không có modem sẽ phải nhận bài viết qua máy fax, rồi lại đánh máy thành văn bản để in báo.

Sau “bước nhảy vọt” từ fax sang modem vào năm 1993, VIR tiếp tục trang bị cho phóng viên máy nhắn tin (pager) rồi điện thoại di động khiến các đồng nghiệp báo tiếng Việt phải ghanh tị. Có người còn đặt cho VIR cái tên… “Báo Hoàng Gia”.

Đó cũng là điều dễ hiểu. Vào thời điểm này, Hoa Kỳ còn “cấm vận” nên nước Úc là quốc gia Phương Tây “một mình một chợ” trong việc hỗ trợ Việt Nam làm quen với công nghệ thông tin, điển hình là Giáo sư Rob Hurle và tờ báo VIR có mặt tại Việt Nam rất sớm.

Máy nhắn tin hồi đó là một cái hộp hình chữ nhật, mỗi lần có tin nhắn là máy cất tiếng “bíp bíp” còn điện thoại di động đúng là một “cục gạch” có thể dùng làm “vũ khí” phòng thân?

Tôi còn nhớ, ngày đem điện thoại về tòa soạn, sếp VIR khi đó là Nick Mountstephen, đứng tại cửa phòng dùng điện thoại di động gọi vào máy trên bàn cách đó ít bước… Giọng ông oang oang trong điện thoại: “Tôi đang đi tới chỗ anh đây!”.

Bức hình dưới đây chụp năm 1994 khi Tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố chấm dứt thời kỳ cấm vận Việt Nam. Một ngày vui cho riêng VIR và những anh em làm báo tiếng Anh và cả những phóng viên người Úc. Chúng tôi ra số đặc biệt: “Embargo Lifted”!

Cũng qua tấm hình này, các bạn trẻ ngày nay có thể thấy được modem và chiếc điện thoại di động Motorola “to đùng” của 20 năm về trước. Việt Nam đã có điện thoại di động của Mỹ từ trước khi nước này dỡ bỏ cấm vận!

Niềm vui tại VIR trong ngày Mỹ bỏ cấm vận năm 1994:
“Special ! Embargo Lifted”

Trở lại chuyện Giáo sư Rob Hurle và chiếc modem từ Úc mang sang Việt Nam. Năm 1992, Viện Công nghệ Thông tin tại Hà Nội đã mở một hộp thư điện tử với địa chỉ email có đuôi “.au” ở tận Úc châu để liên lạc với Giáo sư Rob Hurle! Theo một số tài liệu, đây chính là những bức điện thư đầu tiên gửi đi từ Việt Nam ra thế giới bên ngoài!

Hơn thế nữa, tháng 9/1993, Giáo sư Rob Hurle và một đồng nghiệp người Úc gốc Việt tại Đại học Tasmania đến Hà Nội để bàn về kế hoạch phát triển Internet tại Việt Nam. Chỉ một năm sau, Giáo sư Rob Hurle và các đồng nghiệp tại Đại học Quốc gia Australia mua tặng Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, một chiếc máy tính.

Chiếc máy tính này còn được đi kèm với modem để thực hiện việc kết nối Internet qua cổng có đuôi… “.au”! Đây cũng có thể coi là chiếc máy tính đầu tiên chính thức có mặt tại Việt Nam với sự tài trợ từ Úc Châu. Giáo sư Rob Hurle cũng là một trong những người đầu tiên nghĩ tới và được ủy quyền trong việc đăng ký tên miền “.vn” cho Việt Nam thay cho tên miền “.au”.

Đến năm 1995, nhu cầu sử dụng Internet tại Việt Nam bắt đầu phát triển và tiền tài trợ từ Chính phủ Úc không còn đủ chi dụng, nên chính phủ Việt Nam bắt đầu tính đến việc “thương mại hóa” bằng cách thu cước từ người sử dụng Internet.

Giáo sư Rob Hurle bắt đầu hợp tác với Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) để phát triển dịch vụ này. Sau 2 năm thử nghiệm, Viện Công nghệ Thông tin thành lập Công ty NetNam và trở thành nhà cung cấp dịch vụ Internet đầu tiên tại Việt Nam. Dịch vụ bao gồm thư điện tử với tên miền “.vn”, ngoài ra còn mở diễn đàn, dịch vụ liên lạc nội bộ và cả một thư viện điện tử.

Khách hàng lên tới hàng ngàn người sau 1 năm hoạt động. NetNam còn mở thêm các dịch vụ thiết kế trang Web, FTP, TelNet… khi Internet được chính thức hoạt động tại Việt Nam từ năm 1997.

Viện Công nghệ Thông tin qua hợp tác với Đại học Quốc gia Australia không phải là cơ quan duy nhất đã thử nghiệm Internet vào Việt Nam từ năm 1994. Cũng trong năm này, Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia đã liên kết với mạng Toolnet của Hòa Lan và một năm sau, Trung tâm Khoa học & Công nghệ tại Sài Gòn liên kết với Singapore để thiết lập mạng HCMCNET.

Khi lệnh cấm vận của Hoa Kỳ được giỡ bỏ, Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC) thuộc Tổng công ty Bưu chính Viễn thông đã kết nối với Sprintlink (Mỹ) thông qua hai “cổng” kết nối tại Hà Nội và Sài Gòn vào năm 1966. Những đường truyền này có tốc độ tương đối nhanh nhất: 64 Kb/giây.

Theo thống kê của  Internet Pando Networks (Mỹ), năm 2011 Việt Nam đạt tốc độ kết nối Internet trung bình 374 KBps (1 B bằng khoảng 8 b), nhanh nhất khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 3 ở Châu Á, sau Hàn Quốc (2.202 KBps) và Nhật Bản (1.364 KBps). Ngược lại, theo báo cáo của Akamai, hãng khảo sát Internet của Mỹ, cuối năm 2011 tốc độ đường truyền Internet Việt Nam đạt khoảng 1,7 Mbps, xếp hạng 32/50 quốc gia được khảo sát và thấp hơn mức trung bình trên thế giới là 2,6 Mbps.

Nguồn thông tin khổng lồ trên Internet kèm theo các dịch vụ tương ứng chính là hệ thống các trang Web liên kết với nhau qua WWW (World Wide Web) khiến người sử dụng tại Việt Nam ngày càng cao. Từ năm 2003 với hơn 800.000 người tăng lên trên 26 triệu người vào năm 2010. 

Thống kê về số người sử dụng Internet tại Việt Nam (2003-2010)

Năm 2007, các hình thức kinh doanh quán cà phê Internet được khai trương tại Sài Gòn và Hà Nội kéo theo số lượng người truy cập Internet ngày càng cao. Theo thống kê mới nhất, số người sử dụng Internet tại Việt Nam trong năm 2014 đã lên con số 36 triệu. Dân số Việt Nam tròm trèm 90 triệu thì số người dùng Internet đã chiếm hơn 1/3, một tỷ lệ khá cao nếu so với nhiều quốc gia thuộc nhóm các nước đang phát triển.

Tuy nhiên, theo Google, mặc dù số người sử dụng trong nước chưa phải là cao so với thế giới nhưng Việt Nam lại là quốc gia có số lượng người truy cập về sex nhiều nhất trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến 2010. Riêng trong năm 2010, Hà Nội là thành phố có nhiều người tìm sex nhất thế giới!

Những con số thống kê đều có hai mặt “tích cực” và “tiêu cực” nêu trên rất đáng để chúng ta suy gẫm. Trên thực tế, Thế Giới Phẳng của Thomas Friedman không trơn tru và bằng phẳng như tác giả suy nghĩ. Thế giới đó luôn có những vùng trũng, những đồi núi gập ghềnh cũng như những đại dương sâu thẳm. Trong một dịp khác, chúng tôi sẽ bàn đến những hệ lụy của Internet đối với Việt Nam.  

“The Internet of Things”
   
***

Chú thích:

[*] Đọc thêm về Thomas L. Friedman qua bài viết “Trái đất tròn nhưng sao thế giới lại phẳng?” tại:

***

(Trích Hồi Ức Một Đời Người – Chương 9: Thời hội nhập)

Hồi Ức Một Đời Người gồm 9 Chương:

1.         Chương 1: Thời thơ ấu (từ Hà Nội vào Đà Lạt)
2.         Chương 2: Thời niên thiếu (Đà Lạt và Ban Mê Thuột)
3.         Chương 3: Thời thanh niên (Sài Gòn)
4.         Chương 4: Thời quân ngũ (Sài Gòn – Giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội)
5.         Chương 5: Thời cải tạo (Trảng Lớn, Trảng Táo, Gia Huynh)
6.         Chương 6: Thời điêu linh (Sài Gòn, Đà Lạt)
7.         Chương 7: Thời mở lòng (những chuyện tình cảm)
8.         Chương 8: Thời mở cửa (Bước vào nghề báo, thập niên 80)
9.         Chương 9: Thời hội nhập (Bút ký những chuyến đi tới 15 quốc gia và lãnh thổ)

Tác giả đang viết tiếp một Chương cuối cùng sẽ mang tên… Thời xuống lỗ (thập niên 2000 cho đến ngày xuống lỗ)!


--> Read more..

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014

“Hồi ức Ban Mê”

“Hồi ức Ban Mê” là một tập sách gồm 18 bài viết được trích ra từ “Hồi ức một đời người” trên Blogspot (chinhhoiuc.blogspot.com). Cuốn sách được xuất bản tại Hoa Kỳ do một số thân hữu đứng ra in ấn.

Tôi đã từng trả lời một số bạn hữu, “Hồi ức một đời người” sẽ chẳng bao giờ ra mắt bạn đọc dưới dạng sách in. Một trong những lý do là hiện giờ số bài viết lên đến hơn 200 bài, làm sao có thể xuất bản một công trình khá “nặng tay” như vậy? Hơn nữa, chưa chắc người đọc sẽ tiếp nhận cầm trên tay một quyển sách viết bởi một kẻ “vô danh tiểu tốt”!


Thế nhưng, vào đầu tháng 11/2014, tập sách “Hồi ức Ban Mê” cũng xuất hiện tại Hoa Kỳ. Người ta vẫn thường nói, “người tính không bằng trời tính”… hay nói một cách khác, việc xuất bản cuốn sách hoàn toàn nằm ngoài tính toán của tác giả.

Bìa trước của “Hồi ức Ban Mê”

Thật tình, tôi không bao giờ nghĩ đến chuyện xuất bản sách cho mình nhưng việc ra đời của “Hồi ức Ban Mê” có một lý do, hay gọi đó là “cơ duyên”, của nó. Ngay ở phần mở đầu tập sách là bài viết giới thiệu của Giáo sư Bùi Dương Chi, người thầy và cũng là người bạn “vong niên”. Lý do ra đời của cuốn sách được thầy Chi đề cập đến:  

“Thể theo gợi ý của một cựu học sinh hiện ở tiểu bang Nebraska sẵn sàng in ấn và đóng thành tuyển tập một số bài trong trang mạng “Nguyễn Ngọc Chính’s Hồi Ức Một Đời Người”  để làm quà tặng nhân dịp Đại Hội 60 Năm THBMT nên Nguyễn Ngọc Chính đã lựa ra một số bài hầu hết có ghi lại một số chuyện thời học trò, ít nhiều liên quan tới bạn bè cũng như thầy cô ở trường Trung Học và thị xã Ban Mê Thuột.
 
“Tôi rất hân hạnh nhận lời giới thiệu người viết vì kể từ Niên Khóa 1963- 64 đến nay chúng tôi đã giữ mối liên hệ thầy trò, thân hữu và chuyên nghiệp được 51 năm.

“Thầy trò vì tôi dạy Chính môn Anh Văn sinh ngữ phụ lớp 11 và 12.

“Thân hữu vì chúng tôi hơn kém nhau 7 tuổi, có nhân sinh quan khá tương đồng và có chung mấy sở thích như viết lách, dịch thuật, trau giồi kiến thức phổ thông, du khảo, đờn ca, v..v..  Hơn nữa, còn có thêm một cơ duyên độc đáo là Chính đã dậy má tôi tiếng Anh trong cuối thập niên 80 sau khi má tôi được thả và trở vào Nam sau gần 13 năm tù về tội “gián điệp, phản động” ở ngoài Bắc.

“Chuyên nghiệp vì trước 1975 Chính dậy Anh Văn ở trường Sinh Ngữ Quân Đội VNCH. Tới đầu thập niên 90 dù là  “sĩ quan ngụy”  nhưng Chính vẫn được cử giữ chức Đại Diện phía Nam của Vietnam Investment Review là tuần báo chuyên về Đầu Tư tại Việt Nam của một tập đoàn tuyền thông Australia. Đúng lúc đó thì tôi lại được “School for International Training” ở bang Vermont tuyển dụng làm giáo sư hướng dẫn cho các sinh viên Mỹ tham dự  Chương Trình Học Kỳ Hải Ngoại ở VN. Do đó, ngoài việc mời Chính giảng về Đầu Tư và Kinh Tế VN, tôi còn hay nhờ Chính cung cấp tài liệu và tư vấn cho sinh viên khi các em viết luận văn cuối khóa.

“Mấy năm nay, tôi may mắn được hai trường sinh ngữ ở Washington thỉnh thoảng mướn dậy tiếng Việt cho một số công chức của Bộ Canh Nông và Thương Mại Hoa Kỳ chuẩn bị đi làm việc ở Hà Nội và Saigon nên Chính là người tôi thường nhờ cung cấp hay kiếm giùm các thông tin liên quan tới canh nông, thương mại và văn hoá VN mà các học viên và tôi không tìm thấy trong mạng Wikipedia, sách báo hay qua Google Search.

“Dựa vào mối liên hệ kể trên, tôi xin trân trọng giới thiệu với các thầy cô và cựu học sinh quà tặng ĐH 60 Năm THBMT này. Tiện thể, tôi đề nghị những ai muốn tìm hiểu thêm về Nguyễn Ngọc Chính có thể vào mạng http://www.chinhhoiuc.blogspot.com  là một công trình sáng tác vào cuối đời nhưng tôi được biết sẽ vẫn còn tiếp nối.

Bùi Dương Chi
Thầy giáo tiếng Anh

Trung Học Ban Mê Thuột (1963-74).  

Hai thầy trò sau năm 1975

Phải nói, tôi may mắn có những người thầy như GS Chi khi ông đồng ý nhận viết lời giới thiệu và có những người bạn đồng môn có nhã ý đứng ra kêu gọi sự đóng góp tài chính cũng như in ấn để hoàn thành tập sách.

Công đầu thuộc về bạn Nguyễn Xuân Duẩn ở Nebraska như thầy Chi đã nói đến trong lời giới thiệu. Chính Duẩn là người có sáng kiến in cuốn “Hồi ức Ban Mê” như một món quà dành tặng các cựu học sinh trường Trung học Ban Mê Thuột nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập trường sẽ được tổ chức vào ngày Quốc khánh Hoa Kỳ 4/7/2015 tại California.

Duẩn cũng là người đứng ra viết thơ kêu gọi sự đóng góp của các bạn cùng lớp ngày xưa và được sự hưởng ứng tận tình của anh chị em ở hải ngoại, thậm chí còn có những người ở Việt Nam cũng góp phần tài trợ. Phải chăng đó là tình đồng môn tuy được hình thành từ ngày còn trẻ nhưng lại được thể hiện vào giai đoạn cuối đời khi người nào tóc cũng đã điểm sương.

Tôi chân thành ghi lại tên những người thầy năm xưa, những bạn học cũ từ thập niên 60, tất cả đã chung tay, góp sức để tạo nên “Hồi ức Ban Mê”: GS Bùi Dương Chi, GS Đặng Kim Quy (Hoa Kỳ), GS Trần Văn Thịnh (Úc châu); các bạn Nguyễn Xuân Duẩn, Nguyễn Trung Chính, Nguyễn Ngọc Thiệp, Phạm Công Lạc, Nguyễn Kim Khoa, Cung Duy Bách, Phạm Năng Hưng, Lê Văn Thể, Nguyễn Thị Dung, Nguyễn Thị Nho, Nguyễn Diệu Liên Hương, Phạm Thị Kim Dung, Phạm Thị Tỉnh (Hoa Kỳ); Trần Hữu Thịnh (Việt Nam)… và còn rất nhiều thân hữu trong và ngoài nước.

Việc in ấn có người bạn học cũ là Nguyễn Trung Chính – tức nhà văn, nhà thơ Chinh Nguyên thuộc nhóm Văn Thơ Lạc Việt tại San Jose – đứng ra đảm trách. Phần tôi là tác giả chỉ còn mỗi công việc chọn lựa bài vở và biên tập lần chót trước khi đưa vào máy in.

Tôi chọn 18 bài để đăng trong “Hồi ức Ban Mê”, một sự lựa chọn rất khó khăn giữa hơn 200 bài đã viết trong hồi ức. Những bài này mang đủ thể loại, từ tản mạn đến truyện ngắn, từ nhật ký đến bút ký, từ bình luận đến khảo luận, từ văn chương đến đời thường. 18 đề tài, có ít nhiều liên quan đến xứ Buồn Muôn Thuở, được kèm theo nhiều hình ảnh để phần bài viết thêm sống động và cũng để người đọc có những phút thư giãn khi phải đọc quá nhiều chữ viết.

Ngoài sự hỗ trợ của các bạn đồng môn cũng cần phải nhắc đến nhà văn Du Tử Lê đã viết một bài giới thiệu về nội dung trong “Hồi ức Ban Mê” với những nhận xét thật chuyên nghiệp. Nói theo kiểu của Du Tử Lê, tác giả tập hồi ức đã… “phân thân”, đánh ra những những “đường gươm” theo kiểu “thập bát ban võ nghệ”! Từ Hoa Kỳ, Du Tử Lê viết:   

“Hồi Ức Ban Mê”, tác phẩm như một Ấn-chứng-văn-chương-Nguyễn-Ngọc-Chính

“Nhiều người quan niệm, một khi đã là nhà văn, y có thể cùng lúc, đánh ra nhiều đường gươm văn chương lấp lánh - - Tựa những cao thủ thuần thục “thập bát ban võ nghệ”. Sự thực, không phải vậy.

“Tôi muốn nói, không phải nhà văn nào, cũng có khả năng hóa thân từ hiện thực tới siêu thực, từ truyện ký qua nghiên cứu văn học... Lịch sử văn học Việt cho thấy, không ít nhà văn từng chứng tỏ khả năng “phân thân” của mình. Nhưng, số người thành công, trên thực tế, lại chẳng bao nhiêu. Nếu không muốn nói là, chính sự ôm đồm kia, đã khiến nhiều nhà văn tự hủy mình trong nhà tù “ảo tưởng” đó.

“Có nhiều nguyên nhân lý giải cho thất bại vừa nói.

“Theo tôi, một trong những nguyên nhân dẫn tới thất bại, là sự thiếu vắng những rung động ngây ngấy, hay những ngọn lửa đam mê cháy bỏng - - Tựa ngọn hải đăng dẫn đường cho những con tầu phiêu du về bến.

“Trong số rất ít những nhà văn đánh ra, cùng lúc, nhiều đường gươm văn chương lấp lánh, thành công, hôm nay, theo tôi có Nguyễn Ngọc Chính.

“Họ Nguyễn không chỉ thành công khi hồi ức nhà văn của ông, mở vào thế giới tuổi thơ, tuổi học trò, tình nghĩa, huyết thống... khiến người đọc không khỏi bùi ngùi, cảm động - - Hay hồi ức về nơi chốn ông đã sống với, đã dừng lại, đã đi qua... (Mà,) họ Nguyễn còn thành công ở cả lãnh vực ông gọi là du ký - - Như “Du ký xứ... Miệt Dưới”, “Một tháng ở Melbourne” ... Hoặc những hồi ức râm ran nỗi ngậm ngùi, liu điu thất thổ... khi ông viết “Không chốn dung thân”!...

“Theo tôi, trong số những đường gươm văn chương lấp lánh, đánh ra, của Nguyễn Ngọc Chính, còn có những soi sáng từ góc nhìn nhân bản (rất nhân bản), khi ông đề cập tới những sự kiện văn học của trên nửa thế kỷ văn chương Việt Nam. Cụ thể, qua vụ án văn học “Nhân Văn-Giai Phẩm” (mà,) bi kịch tiêu biểu, là nhà văn Thụy An; tới hành trình văn chương hư ảo và, đời riêng gập ghềnh nắng, xót, của một Nguyễn Thị Hoàng, xuyên qua tác phẩm “Vòng tay học trò”...

“Vẫn theo tôi, họ Nguyễn còn thành công ở cả những ghi nhận đời thường, khi trái tim nhà văn của ông mở vào những biểu tượng như: “Ngôn ngữ Saigon xưa: Lính tráng”, hay, “Cà phê Saigon Xưa & Nay”, “Những cái tên bình dị về Núi & Đèo”...

“Tóm lại, nếu chúng ta cần tìm một nhà văn có khả năng thực sự đến được cùng lúc, nhiều lãnh vực của cuộc đời ố, kỵ, của định mệnh bất nhân, (thì,) người đó, không ai khác hơn Nguyễn Ngọc Chính.

“Nếu trong quá khứ, tôi từng ghi nhận rằng “Vũ Hữu Định, người đội vương miện cho Pleiku” thì, hôm nay, tôi nghĩ, tôi không thể không viết xuống: “Nguyễn Ngọc Chính, người tháp linh hồn cho Ban Mê”.

“Và tôi, chính là một trong những người cảm-thụ được phần “linh hồn” tháp cho Ban Mê đó, của họ Nguyễn vậy.

Du Tử Lê,
(Calif. Sept. 2014)

Hình ảnh trong “Hồi ức Ban Mê”

Một người con của Ban Mê Thuột và cũng là một cựu học sinh trường TH BMT – nhà văn kiêm nhạc sĩ Phan Ni Tấn – cũng góp phần giới thiệu “Hồi ức Ban Mê” qua một bài phân tích chi tiết trước khi người đọc bước vào thế giới của hồi ức. Từ Canada, Phan Ni Tấn viết:

Quẩn Quanh Câu Hồi Ức

“Khi tôi bắt đầu đọc một vài trang “Hồi Ức Ban Mê” của Nguyễn Ngọc Chính, tôi không nghĩ mình sẽ chạm phải những mẩu chuyện nhân tình thế thái đầy thú vị trong cuộc sống thường nhật của chúng ta. Với tôi, đó là một khám phá hấp dẫn mà Nguyễn Ngọc Chính đã mở ra một cánh cửa tinh tế, hăng hái dẫn ta về xứ Thượng Ban Mê, miền đất của Hoàng Triều Cương Thổ, nơi mà anh đã gắn bó với thị trấn này như quê hương thứ hai của mình.                                                                    

“Hồi Ức Ban Mê” gồm tất cả 18 tiêu đề, từ “Ban Mê Đi Dễ Khó Về” đến truyện ngắn “Không Chốn Dung Thân”, là một tập hồi ký chứa đựng những hình ảnh sống động về kinh tế, xã hội, con người và địa dư. Ở đó ta bắt gặp những mẩu truyện tiêu biểu qua từng giai đoạn, hình kỷ niệm hay hình lịch sử, người còn đó hay đã ra đi...,  đánh dấu sự trưởng thành của một cây bút nói lên cốt tủy của cái gọi là chiều sâu văn hóa từ người.  

“Qua văn phong Nguyễn Ngọc Chính, mỗi câu chuyện viết về mỗi cảnh đời luôn luôn kèm theo nhìều hình ảnh minh họa chứa đầy những kỷ niệm long lanh của tác giả. Anh dắt người đọc đi từ trạng thái này qua trạng thái khác bằng nghệ thuật văn chương tả chân của riêng anh, cho thấy anh sở trường về thể loại hồi ký, tùy bút và truyện ngắn. Nói đến văn chương, Nguyễn Ngọc Chính không làm văn chương mà chỉ dùng văn chương để gởi gắm tâm tư của mình như một lời tri ơn. Đây là đặc tính trong cách hành văn của Nguyễn Ngọc Chính chủ tâm phản ánh tâm cảnh con người và chốn cũ. Hãy lướt qua những chương sách để thấy cái tâm tình của tác giả bắt đầu từ thị trấn heo hút miền núi Ban Mê Thuột, nơi mà anh theo gia đình từ Đà Lạt đến đây mưu sinh:

“Những phồn hoa của phố thị thuở nào, mà mỗi người, một đời đã sinh ra và lớn lên ở nơi này, hoặc đã một thời được sống trong sinh hoạt phố phường, chắc chắn không thể nào quên được BMT với những kỷ niệm riêng tư của đời mình”.

“Thập niên 40 - 50, những ai không vì cớ sự bắt buộc nào đó thì chẳng dại gì đặt chân lên cái chốn ma thiêng nước độc Buồn Muôn Thuở này. Nhưng một khi đã "tới đây thì ở lại đây". Đã vậy, có người dần dà gặp phải "định mệnh run rủi" như Nguyễn Ngọc Chính. Anh tâm sự:

“Riêng đối với tôi, nếu không vì lý do công vụ của bố phải chuyển gia đình từ Đà Lạt về BMT và nếu tôi có quyền lựa chọn, chắc chắn việc chọn lựa đó sẽ không có tên BMT. Thế nhưng, định mệnh run rủi, tôi đã lạc đến xứ Ban Mê và lập gia đình tại đây. Phải chăng là Đất lành chim đậu? Cũng tại đây, trên giấy khai sinh của đứa con trai đầu lòng vẫn còn mang con dấu của Xã Lạc Giao. 

“Ban Mê đi dễ khó về
Trai đi có vợ, gái về có con.

“Những lời tình tự như vậy là cánh cửa đưa ta vào thế giới của hồi ức, bắt đầu từ thị trấn Ban Mê Thuột băng đèo vượt núi xuống miền đồng bằng, xuyên qua nhiều nơi chốn lao xao cho đến cái nhân tình thế thái - nhất nhất đều được tác giả ghi lại, kể ra, không những suốt chiều dài của một phần đất nước mà còn cà kê cả những mẩu chuyện nhỏ to ngoài nước.   

Không riêng gì tác giả “Hồi Ức Ban Mê”, những ai từng dính dáng tới miền đất Buồn Muôn Thuở nói chung và trường Trung học Ban Mê Thuột nói riêng đều có ít nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Khi người học trò xếp bút nghiên đi vào đời thì hình ảnh cổng trường, lớp học, phấn trắng, bảng đen, bàn ghế, sách vở, bạn học, thầy cô... tất cả đều trở thành hành trang kỷ niệm. Riêng tâm hồn Nguyễn Ngọc Chính nghiêng xuống nỗi nhớ bạn bè cùng lớp, nhất là tình nghĩ thầy trò sau những năm mài đũng quần trên ghế nhà trường trung học Ban Mê Thuột. Mặc dù Nguyễn Ngọc Chính học chỉ có bốn năm rồi chuyển trường về Đà Lạt, nhưng hầu như tất cả học sinh khác đều có cảm nghĩ như anh: Trung học BMT là một ngôi trường nhỏ với một dãy lớp học nên thầy trò luôn có cảm giác gần gũi như trong một gia đình.

“Viết về Ban Mê Thuột mà không nhắc đến người Thượng là một thiếu sót lớn. Cho nên đọc bài viết “Người Thượng Xứ Ban Mê”, ngoài những kỷ niệm sâu sắc về thầy cô, bạn học, trường xưa, đường phố cũ..., Nguyễn Ngọc Chính còn cất công sưu tầm tài liệu dẫn chứng rất công phu và thuyết phục về đời sống, phong tục tập quán và hình ảnh các dân tộc thiểu số sinh sống trên cao nguyên Nam Trung phần, vốn là vùng đất cổ xưa của nhóm sắc tộc Rhadé, M' Nông, Djarai, M'dhur...

“Ngoài ra, Nguyễn Ngọc Chính cũng không quên miêu tả thật ngoạn mục và trích dẫn tài liệu về trận đánh lịch sử vào thị trấn Ban Mê Thuột ngày 10/3/1975 dẫn đến việc kết thúc cuộc chiến ngày 30/4/1975 giữa hai miền Nam Bắc sau 30 năm tương tàn.

“Ngoài những câu chuyện trên, ta còn gặp Nguyễn Ngọc Chính ở những trang viết về nữ sĩ Thụy An gây chú ý đến người đọc. Trong vụ án Nhân Văn - Giai Phẩm của "ngũ nhân bang " xẩy ra trong những năm 1955-1957, bà Thụy An là người phụ nữ duy nhất trong nhóm đã bị chính quyền miền Bắc kết tội làm gián điệp cho mật vụ Pháp. Những ai từng quan tâm đến vụ án trên chắc cũng đều biết, dù nữ sĩ Thụy An có bị hoàn cảnh tù đày làm cho phôi phai, song bà vẫn giữ được phẩm cách, lòng can đảm và tinh thần bất khuất của người phụ nữ Việt Nam. Cuối bài viết Nhân Văn - Giai Phẩm: Nhà Văn Thụy An, Nguyễn Ngọc Chính kết:

“Hình như chúng ta vẫn nợ Một Lời Kết về bà Thụy An. Những người trong cuộc đã minh oan cho bà, vấn đề còn lại là trả lại danh dự cho một người đã khuất.”

“Nữ sĩ Thuỵ An mất năm 1989 tại Sài Gòn. Đám tang của bà chỉ có vài người họ hàng thân thuộc và chòm xóm. Đó là một cái chết lặng lẽ và buồn thảm như anh cho biết.

“Nhưng mà điều tôi muốn nói lại đơn giản và... dễ thở hơn nhiều. Đó là sự trớ trêu của Nguyễn Ngọc Chính như anh cho biết, xưa kia anh là học trò của con bà, thầy Bùi Dương Chi, dạy Anh văn trên Ban Mê Thuột, nay anh lại là thầy dạy Anh văn cho bà và là "bạn vong niên" của bà trong những tháng ngày cuối đời.

“Đọc “Hồi Ức Ban Mê” của Nguyễn Ngọc Chính, mỗi câu chuyện đều có một tiêu đề với nội dung vẽ ra những bức tranh đời sống, xã hội, học đường, tình người v.v... Tuy có nhiều góc cạnh, nhưng cách dùng từ vừa mộc mạc, giản dị mà thâm trầm, vừa mạch lạc, trôi chảy, phóng khoáng nhưng tâm thức sâu sắc, chuyện nào ra chuyện nấy, thật gần gũi, thường ngày, thât sôi nổi vì bàng bạc chất người.

Cái hay ở đây, là Nguyễn Ngọc Chính đã chấm ngòi bút của mình vào quá khứ để chín chắn mang chữ nghĩa, hình ảnh lên trang giấy với biết bao là xôn xao kỷ niệm.  Từ cách hành xử cuộc đời, cách nhìn vào xã hội, lan man chuyện lính tráng, binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, ngay cả Nữ Quân Nhân và nét đẹp của phụ nữ Sài Gòn xưa cũng được tác giả ưu ái nhắc tới một cách hết sức tinh tế. Ngay cả hòn đất, ngôi nhà, trường học, miếng ngói, miếng cá khô nướng, chút rượu đưa cay, nén nhang muộn màng..., những cảnh nhân sinh thường tình đang xẩy ra eo xèo hằng ngày ngay trước mắt mà ta vì lo toan cuộc sống nhiều khi lơ là, hờ hững bỏ qua

“Còn nữa, còn nhiều điều thú vị được tác giả cần mẫn nhặt ra từ thực tại xã hội, kinh tế, chính tri, văn hóa, học đường góp phần vào sức sống vạm vỡ giữa đời kia.

“Càng đi sâu vào nội dung “Hồi Ức Ban Mê” của Nguyễn Ngọc Chính tôi càng nhận thấy, với sự kết hợp chặt chẽ khoa học kỹ thuật, tài liệu dẫn chứng và đức tính cần cù của một bản năng tìm vừa về nguồn cội, vừa khát khao khám phá, tác giả không ngớt dò dẫm tìm hiểu về những điều kỳ lạ, bí ẩn của con người và đất đai địa lý, cũng như thế giới bên ngoài. Nói rõ ra, "tham vọng văn chương" của Nguyễn Ngọc Chính đã nói lên tinh thần dấn thân của một người tìm tòi, tra cứu nhưng lúc nào cũng hướng về người xưa, trường xưa, đất xưa, thành phố cũ, là Ban Mê Thuột. Có thể nói suốt đời Nguyễn Ngọc Chính đi lang thang đâu đó, dọc đường xa về quê đất Bắc hoặc đắm mình trong văn vẻ, lúc rảnh rỗi lại hăm hở lội về quanh quẩn nơi Ban Mê Thuột, quê hương thứ hai của anh.

“Nhìn chung, văn Nguyễn Ngọc Chính viết theo lối tả chân, không quen kiểu lừng khừng triết lý. Những gì gọi là triết lý thâm sâu qua ngõ ngách cuộc đời đều được ngòi bút của Nguyễn Ngọc Chính giản lược, bình dị, tạo nên một bút pháp tự nhiên, hào hứng và thân tình. 

“Con người có thói quen hay ra sức tưởng tượng và chủ quan. Chúng ta đều biết thực tại của mơ tưởng khác với thực tại của ý thức hệ. Ở đây, Nguyễn Ngọc Chính không hì hục khiêng cái hư tưởng của mình lên trang giấy. Anh đã từng đi qua nhiều quốc gia, nhiều vùng đất đai địa lý để ghi chép theo lối suy nghĩ, lối cảm nhận, lối qui nạp những điều hay, lẽ phải từ cái đẹp, cái lành để làm thành một tác phẩm văn chương nghệ thuật: “Hồi Ức Ban Mê”.

“Nguyễn Ngọc Chính sinh ngày 19/6/1946 tại Vĩnh Yên, Bắc Việt. Theo gia đình di cư vào Nam trước năm 1954. Cựu học sinh trường Trung học Ban Mê Thuột niên khóa 60-67. Nguyễn Ngọc Chính là một nhà văn, người nghệ sĩ có thực tài.

Bìa sau “Hồi ức Ban Mê”

Một trong những điều khó nhất trong hoạt động văn chương là… bình luận về tác phẩm của mình. Thế cho nên, xin miễn cho tôi bàn về văn của mình kẻo mang tiếng… “mèo khen mèo dài đuôi”. Chỉ xin nói một điều: những gì viết ra trên Blog “Hồi ức một đời người” cũng như trên những trang sách “Hồi ức Ban Mê” chỉ là chứng nhân cho một thời đã qua và đồng thời cũng đề cập đến những đề tài thời sự trước mắt.

Hay hay dở còn tùy thuộc vào quan điểm, chính kiến cũng như cách suy nghĩ của mỗi người đọc.

Một thuở học trò tại xứ Ban Mê

***

(Trích Hồi Ức Một Đời Người)

Hồi Ức Một Đời Người gồm 9 Chương:

1.            Chương 1: Thời thơ ấu (từ Hà Nội vào Đà Lạt)
2.            Chương 2: Thời niên thiếu (Đà Lạt và Ban Mê Thuột)
3.            Chương 3: Thời thanh niên (Sài Gòn)
4.            Chương 4: Thời quân ngũ (Sài Gòn – Giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội)
5.            Chương 5: Thời cải tạo (Trảng Lớn, Trảng Táo, Gia Huynh)
6.            Chương 6: Thời điêu linh (Sài Gòn, Đà Lạt)
7.            Chương 7: Thời mở lòng (những chuyện tình cảm)
8.            Chương 8: Thời mở cửa (Bước vào nghề báo, thập niên 80)
9.            Chương 9: Thời hội nhập (Bút ký những chuyến đi tới 15 quốc gia và lãnh thổ) 

Tác giả còn dự tính viết tiếp một Chương cuối cùng sẽ mang tên… Thời xuống lỗ (thập niên 2000 cho đến ngày xuống lỗ)!

--> Read more..

Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2014

Chuyện về “Chiếc Ruy-băng Vàng” vòng thế giới

Chiếc ruy-băng vàng

Ngày 28/9/2014 người ta thấy xuất hiện hàng trăm ngàn chiếc ruy-băng màu vàng trên đường phố Hồng Kông sau khi sinh viên bãi khóa. Hàng ngàn người đã xuống đường tại khu vực trung tâm kinh tế, tài chính và cũng là nơi tập trung các văn phòng chính quyền ở Hồng Kông.

Sau đó, biểu tình lan qua khu mua sắm ở Causeway Bay và cả ở khu vực Mong Kok ở khu lục địa của Trung Quốc làm cho phần lớn việc lưu thông trong thành phố bị tê liệt. Cảnh sát Hồng Kông đã phải dùng gậy gộc và lựu đạn cay để giải tán đám đông phản đối chính sách mới của Trung Quốc về vấn đề Hồng Kông.

Trước khi Hồng Kông được người Anh trả về cho Trung Quốc vào năm 1997 theo mô hình “một quốc gia, hai chế độ”, chính quyền Bắc Kinh đã cam kết quyền tự trị và tự do chính trị cho Hồng Kông.

Tuy nhiên, vào ngày 21/9/2014 Quốc hội Trung Quốc lại khẳng định người dân Hồng Kông chỉ được quyền bầu Đặc khu trưởng vào năm 2017 theo danh sách ứng cử viên phải được ủy ban bầu cử chấp thuận. Tuyên bố này đã đẩy mạnh lên làn sóng biểu tình phản đối, đòi bầu cử tự do.

Biểu tình tại Hồng Kông

Báo New York Times mô tả cuộc biểu tình ở Hồng Kông dù không có một nhà lãnh đạo chính thức nào nhưng có tính tổ chức “cực kỳ chuyên nghiệp”. Người biểu tình hành xử rất lịch thiệp trong hòa bình và bất bạo động. Hoàn toàn không có hiện tượng đập phá, hôi của, xả rác… như thường thấy ở nhiều nơi khác.

Báo Slate Magazine gọi họ là "những người biểu tình lịch sự nhất thế giới". Báo này còn cho rằng, đây không phải chỉ là những người có lý tưởng mà họ còn là những người hoạt động chính trị rất hiểu biết qua cuộc đầu tranh bất bạo động.

Người biểu tình Hồng Kông còn chọn bài hát "Do you hear the people sing" (Bạn có nghe mọi người hát) trong vở nhạc kịch “Những người khốn khổ” (Les Miserables) dựa theo tác phẩm cùng tên của nhà văn Victor Hugo làm bài hát tượng trưng cho phong trào đấu tranh. Trong vở nhạc kịch, đây là bài hát mà các nhà cách mạng Paris đã cất tiếng ca khi chuẩn bị cuộc nổi dậy chống Chính phủ Pháp.

Ban đầu người Hồng Kông sử dụng chiếc dù để che mưa, nắng khi biểu tình, nhưng khi cảnh sát dùng đạn cay, chiếc dù được dùng để bảo vệ bản thân. Cuộc biểu tình tại Hồng Kông từ đó còn được gọi là “Cách mạng dù” (Umbrella Revolution).

Mặt khác, những dải ruy-băng màu vàng được cột vào hàng rào, cài trên áo của người biểu tình và còn xuất hiện trên các trang mạng xã hội tại Hồng Kông. Người biểu tình ở Hồng Kông coi dải ruy băng vàng là biểu tượng của khát vọng dân chủ.

“Umbrella Revolution” & “Occupy Hong Kong”

Trước đó, ngày 16/4/2014, chiếc phà Sewol của Hàn Quốc bị chìm, trên phà chở 450 hành khách, phần đông là học sinh Trường Trung học Danwon đang trên đường từ thành phố Incheon đến đảo Jeju, một thắng cảnh của Đại Hàn Dân Quốc.

Các báo cáo ban đầu cho hay đã cứu được 179 người, đa số là học sinh, tuy nhiên báo cáo của Chính phủ Hàn Quốc đã đính chính lại tin này, nói rằng hiện vẫn còn 295 người mất tích.

Trong khi việc tìm kiếm những người sống sót được tiến hành, người ta thấy xuất hiện tại nhiều nơi trên khắp đất nước Đại Hàn những chiếc ruy-băng màu vàng để biểu thị niềm hy vọng, dù là mong manh, sẽ còn nhiều nạn nhân nữa được cứu vớt.

Những chiếc ruy-băng vàng trên đường phố Hàn Quốc

Trong chuyến đi thăm Hàn Quốc kéo dài 5 ngày, Đức Giáo Hoàng Francis, người đứng đầu Tòa thánh Vatican, đã dành thời gian gặp gỡ các học sinh sống sót trong thảm họa phà Sewol.

Trong cuộc gặp gỡ này, Đức Giáo hoàng đã tế nhị đeo một chiếc ruy-băng vàng rất nhỏ trên áo để tưởng niệm nạn nhân vụ chìm tàu. Chiếc ruy-băng tuy nhỏ nhưng quả thật nói lên sự quan tâm lớn lao của người lãnh đạo tinh thần Vatican trước sự mất mát mà người Hàn Quốc phải gánh chịu.

Đức Giáo hoàng Francis đeo miếng ruy-băng vàng
khi thăm Đại Hàn năm 2014

Vào thập niên 80 tại Phi Luật Tân nổi lên chiến dịch ruy-băng vàng trong thời kỳ thiết quân luật để ủng hộ nghị sĩ đối lập Benigno Aquino, Jr. Trên đường phố tại thủ đô Manila tràn ngập màu vàng để chào đón ông Aquino trên đường về nước sau khi bị lưu vong tại Hoa Kỳ.

Điều trớ trêu là ông Aquino không có cơ hội nhìn thấy những giải ruy-băng vàng dành cho ông vì ngay khi xuống máy bay tại Phi trường Quốc tế Manila ngày 21/8/1983 ông đã bị ám sát. Biến cố này dẫn đến phong trào chống đối Tổng thống đương nhiệm Ferdinand Marcos. Cuối cùng Marcos bị lật đổ và bà quả phụ của ông Aquino, Corazón Aquino, lên nắm quyền.  

Một lần nữa, ruy-băng vàng lại xuất hiện tại Phi Luật Tân năm 2009 để cầu nguyện cho bà Tổng thống Corazón Aquino lúc bà lâm trọng bệnh. Khi bà mất vào ngày 1/8/2009, nhiều người Phi mặc áo vàng, buộc ruy-băng vàng trên các đường phố và trên các mạng xã hội cũng xuất hiện biểu tượng ruy-băng vàng như là một hình thức để tang cho người quá cố. 

Ruy-băng Vàng và Chim bồ câu tại Phi Luật Tân

Tại Mã Lai, ruy-băng vàng là biểu tượng của những người cổ súy tự do báo chí trong khi đó ở Nam Dương người ta dùng ruy-băng vàng để tưởng niệm các nạn nhân của vụ bạo động từ ngày 13 đến 15/5/1998. Hầu hết những người thiệt mạng trong một chuỗi các vụ bạo động này là người Indonesia gốc Hoa.
     
Một nước khác trong khu vực Đông Nam Á là Tân Gia Ba dùng ruy-băng vàng để ủng hộ cho chiến dịch tạo điều kiện giúp những tội phạm có cơ hội làm lại cuộc đời. Đây là sáng kiến của chính phủ Singapore được tổ chức hàng năm vào tháng 9, những người ủng hộ “Chiến dịch Ruy-băng Vàng” cài lên áo của mình để khuyến khích những những cựu tù nhân có cơ hội hoàn lương.

Ruy-băng Vàng tại Singapore

Ý tưởng dùng giải ruy-băng vàng làm biểu tượng cho sự tha thứ của xã hội đối với những người phạm tội tại Singapore lại xuất phát từ Hoa Kỳ vào thập niên 70 với bài hát "Tie a Yellow Ribbon Round the Ole Oak Tree".

Bản nhạc đồng quê (country music) dựa theo cốt truyện một tù nhân trong thời gian trong tù đã yêu cầu người thân nếu tha thứ cho dĩ vãng xấu xa của mình thì hãy buộc giải ruy-băng vàng trên cây sồi già vào ngày anh ra khỏi tù. Vào ngày đó, nếu anh không thấy giải ruy-băng vàng trên cây sồi, anh sẽ ngồi trên xe buýt tiếp tục cuộc hành trình đến một nơi xa lạ chứ không xuống xe để về nhà. Đoạn kết của bài hát rất có hậu: khi xe gần đến nhà anh thấy xuất hiện giải ruy-băng vàng trên cây và mọi chuyện của quá khứ đã được thân nhân tha thứ!

Bài hát ruy-băng vàng trên cây sồi già đã được bán ra 3 triệu đĩa hát trong vòng 3 tuần lễ vào tháng 5/1973. Các đài phát thanh tại Mỹ trong suốt 17 năm đã liên tục phát sóng, tính ra có đến hơn 3 triệu lần. Trên YouTube, bản nhạc này đã có đến hơn 6 triệu người nghe: https://www.youtube.com/watch?v=7NCZ4l8FCFc.

Ruy-băng Vàng trên cây sồi già

Tại Úc, những người phản đối việc biến Công viên Albert thành trường đua Grand Prix tại Melbourne năm 1996 lại dùng biểu tượng ruy-băng vàng để bày tỏ sự chống đối. Khi đó, cây cối trong công viên được tổ chức “Save Albert Park” gắn lên những chiếc ruy-băng vàng, tượng trưng cho sự phản đối việc đốn hạ cây trong công viên.

Cuộc phản đối cuối cùng cũng đi đến thất bại nhưng kể từ năm 1996 những giải ruy-băng vàng vẫn thấy xuất hiện trên cây khi cuộc đua xe diễn ra tại đây mỗi năm. Một lần nữa, ruy-băng vàng lại xuất hiện năm 2009 tại Úc để tưởng niệm những nạn nhân của vụ cháy rừng (bushfires) tại bang Victoria.

Cả hai sự kiện tại Úc cho thấy việc sử dụng những chiếc ruy-băng vàng có những mục đích khác nhau nhưng tựu chung chiếc ruy-băng vàng là một biểu tượng kêu gọi sự chú ý của mọi người đến những vấn đề thời sự của từng thời kỳ.

Tại Tân Tây Lan, nước láng giềng thân cận của Úc, ruy-băng vàng lại được sử dụng như điều nhắc nhở về tình trạng thanh niên tại nước này có tỷ lệ người tự tử cao nhất thế giới. Tại Hoa Kỳ cũng vậy. "The Yellow Ribbon Suicide Prevention Program" (Ruy-băng Vàng - Chương trình Ngăn ngừa Tự tử) được nhắm vào các đối tượng thanh thiếu niên từ 10 đến 25 tuổi. Chiến dịch được khởi đầu từ tháng 9/1994 sau khi Mike Emme, 17 tuổi, tự sát.  
 
Tại Âu châu, ngày 13/5/2011, Tổng thống Estonia, Toomas Hendrik Ilves, đã viết trên trang Facebook của mình: “Gia đình của 7 công dân Estonia bị bắt giữ làm con tin tại Liban cần sự quan tâm của toàn xã hội. Sự ủng hộ thầm lặng của chúng ta sẽ nói lên mối quan tâm không phải của riêng ai và chúng ta hy vọng cũng như tin tưởng mọi người sẽ luôn ở bên những người kém may mắn. Ngày hôm nay, để bày tỏ mối quan tâm này, tôi sẽ cài một chiếc ruy-băng vàng trên áo”.

Bảy công dân Estonia bị bắt làm con tin ngày 23/3/2011 tại phía Đông Liban khi họ đang thực hiện một chuyến dã ngoại bằng xe đạp. Mãi cho đến ngày 14/7/2011 những người Estonia mới được trả tự do.

Tháng 8/2008 ruy-băng vàng được buộc trên kính chiếu hậu phía bên trái xe cộ lưu thông trong thành phố The Galil ở Do Thái để yêu cầu thả một binh sĩ người Do Thái bị Hamas bắt giữ tại Giải Gaza. Quân nhân Gilad Shalit vốn sinh trưởng tại The Galil và cuối cùng cũng được Hamas trả tự do và trở về Israeli một cách an toàn.

Một số quốc gia ở Châu âu thường dùng ruy-băng vàng để bày tỏ sự hậu thuẫn các lực lượng vũ trang đã chiến đấu để bảo vệ tổ quốc. Tại Ý, người dân đeo ruy-băng vàng để bày tỏ sự ủng hộ và tri ân những “tù nhân chiến tranh” (POWs) trong các cuộc chiến đã qua. Ở Đức, Thụy Điển và Đan Mạch ruy-băng vàng tượng trưng cho lòng biết ơn các chiến sĩ đã bỏ mình trong các cuộc chiến tranh.

Ruy-băng Vàng tại Đan Mạch

Tại Hoa Kỳ, ngay từ thế kỷ thứ 19, khăn quàng cổ màu vàng đã là một trong những nét đặc thù của các kỵ binh Mỹ mà chúng ta thường thấy trong phim ảnh Holloywood. Trong chuyện tranh Lucky Luke mô tả những nhân vật huyền thoại của thời Wild Wild West (Miền Tây Hoang giã) cũng xuất hiện những kỵ binh trên lưng ngựa, họ thắt những chiếc khăn quàng cổ màu vàng nhưng riêng anh chàng cao bồi Lucky Luke lại có khăn màu đỏ.

Thật ra, nếu tham khảo các luật lệ của quân đội Hoa Kỳ về quân phục thời kỳ 1872 -1898, sẽ không có điều khoản nào quy định khăn quàng cổ màu vàng là một trong những điều bắt buộc của người lính kỵ binh. Người ta giải thích, khăn quàng cổ chỉ là hình thức thích nghi với môi trường hoạt động khắc nghiệt của nắng và gió tại miền Tây hoang giã.   

Tuy nhiên, Quân đội Hoa Kỳ có dùng hình tượng chiếc ruy-băng vàng trong một khúc quân hành mang tên “Round Her Neck She Wears a Yeller Ribbon" được George A. Norton sáng tác vào năm 1917. Cũng như tại một số quốc gia châu Âu, tại Mỹ, chiếc ruy-băng vàng với dòng chữ “Support Our Troops” là biểu tượng của tình quân-dân như cá với nước! 

“Support Our Troops”

Người ta thấy miếng ruy-băng vàng không những được đeo trên áo của mỗi cá nhân để bày tỏ mối quan tâm trong cuộc sống hàng ngày mà còn được Facebook tạo điều kiện để những thành viên của mạng xã hội này có thể chọn là hình biểu tượng (profile picture). Kể từ ngày 14/7/2011 trên mạng Facebook đã có 12.671 thành viên chọn ruy-băng vàng làm hình biểu tượng.

Gần đây các trang mạng xã hội như Facebook, Twitter xuất hiện ngày càng nhiều “Yellow Ribbon” như là một hình thức ủng hộ cuộc đấu tranh đòi tự do, dân chủ. Các bloggers người Việt ở trong nước cũng như hải ngoại cũng đã nhập cuộc. Sự nhạy bén về thời sự của các bloggers đã cho thấy sự đồng cảm của “thế giới phẳng”, bất chấp mọi ranh giới địa lý cũng như chính trị ngày nay.  

Riêng đối với cộng đồng mạng tại Việt Nam, đã có những avatar được thiết kế rất công phu và mang dòng chữ “Vietnamese Activists Support Hong Kong Democracy”  để nói lên sự ủng hộ của các nhà hoạt động xã hội người Việt đối với phong trào dân chủ tại Hồng Kông.

“Vietnamese Activists Support Hong Kong Democracy”  

Còn mạnh bạo hơn thế nữa, những người tranh đấu cho tự do, dân chủ tại Việt Nam truyền đi một bức thông điệp khẳng định “Hong Kong today, Viet Nam tomorrow…” qua avatar dưới đây:

“Hong Kong today, Viet Nam tomorrow…”

***

(Trích Hồi Ức Một Đời Người)

Hồi Ức Một Đời Người gồm 9 Chương:

1.            Chương 1: Thời thơ ấu (từ Hà Nội vào Đà Lạt)
2.            Chương 2: Thời niên thiếu (Đà Lạt và Ban Mê Thuột)
3.            Chương 3: Thời thanh niên (Sài Gòn)
4.            Chương 4: Thời quân ngũ (Sài Gòn – Giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội)
5.            Chương 5: Thời cải tạo (Trảng Lớn, Trảng Táo, Gia Huynh)
6.            Chương 6: Thời điêu linh (Sài Gòn, Đà Lạt)
7.            Chương 7: Thời mở lòng (những chuyện tình cảm)
8.            Chương 8: Thời mở cửa (Bước vào nghề báo, thập niên 80)
9.            Chương 9: Thời hội nhập (Bút ký những chuyến đi tới 15 quốc gia và lãnh thổ) 

Tác giả còn dự tính viết tiếp một Chương cuối cùng sẽ mang tên… Thời xuống lỗ (thập niên 2000 cho đến ngày xuống lỗ)!

***

Bình luận trên Facebook (www.facebook.com/notes/10201902179314367/?pnref=story)



***

--> Read more..

Popular posts