Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân văn Giai phẩm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân văn Giai phẩm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2018

Những người đàn bà cầm bút


Tác Giả: Tưởng Năng Tiến
(01/11/20180) 



“Tôi không thể viết nổi bất cứ điều gì… nếu như nó không có đôi chút ý nghĩa chính trị. Tôi cũng chẳng còn điều gì khác nữa để cho nó là quan trọng”.
(I could not write anything… unless it has a certain political significance. I have nothing else to offer that remains important.)
Maryse Condé

Từ Paris, nhà báo Từ Thức vừa gửi đến độc giả đôi dòng thông tin (cập nhật) về giải thưởng The New Academy:

“Chúng ta chờ đợi, hy vọng giải thay thế cho Nobel Văn Chương rơi vào tay Kim Thúy, một nhà văn gốc Việt hiện cư ngụ tại Canada. Giải này vừa được trao cho Maryse Condé, một nhà văn nữ Pháp, 81 tuổi. Nếu Kim Thúy nói về xã hội đảo lộn ở miền VN sau 75, về đời sống, tâm trạng ngổn ngang của một nhà văn lưu vong, tác phẩm của Maryse Condé nói về đời sống của người dân da đen từ thời nô lệ tới thời thuộc địa Pháp.”

The Wall Street Journal cho biết thêm rằng Condé muốn chia sẻ vinh dự này với tất cả những người dân ở Guadeloupe. “Hải đảo trong vùng Caribbean nơi bà chào đời ‘chỉ được biết đến vì bão tố và động đất, bà nói, ‘và bây giờ chúng tôi rất vui là đang được nhìn nhận vì một điều gì khác, nhờ giải thưởng này.” (The island in the Caribbean where she was born “is known for hurricanes and earthquakes,” she said, “and now we are so happy to have been recognized for something else, for this prize.”)


Tôi không hay biết gì về những cơn bão, và những trận động đất, nơi quê hương của Maryse Condé. Với tôi, khi còn ở tuổi đôi mươi, Caribbean chỉ là một túp lều cũ nát (và một con thuyền mỏng mảnh, bé xíu, giữa đại dương bao la) của ngư ông Santiago – nhân vật chính trong cuốn Le Vieil Home et La Mer – thôi. Mãi đến những năm gần đây – qua phim ảnh – tôi mới có dịp được nhìn thấy những nông nô da đen (luôn nhễ nhại mồ hôi) đang quần quật giữa những cánh đồng mía bạt ngàn, cháy nắng, trên những quần đảo trong vùng biển xanh này.

Khó mà ngờ được giữa một nơi hoang dã (và man dã) như thế đã sản sinh ra một đoá hoa thơm ngát, vừa đoạt giải Nobel Văn Chương 2018.

Cùng thời với Maryse Condé là Lin Zhao (林 昭) hay còn gọi là Lâm Chiêu, theo âm tiếng Việt. Bà chào đời ở một vùng đất khác, thuộc về một nền văn hoá khác (lâu đời và nền nã hơn nhiều) nhưng vì sinh bất phùng thời nên phải trải qua một kiếp nhân sinh vô cùng nghiệt ngã:

Không mấy người ở phương Tây biết về nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc Lin Zhao, người đã bị xử tử vào tháng này cách đây 50 năm, vào thời cao trào của Cách mạng Văn hoá, vì tội mãnh liệt chống đối Mao, nhưng bà vẫn nổi tiếng ở Trung Quốc. Vào ngày giỗ của bà trong hai tuần tới, một số người hâm mộ sẽ thực hiện buổi tưởng niệm tại ngôi mộ của bà, và chính quyền Trung Quốc sẽ cố gắng ngăn chặn họ – điều này cho thấy sức mạnh của lời của bà, ngay cả sau nửa thế kỷ.

Sinh năm 1932 ở Tô Châu, Lin Zhao đi học ở một trường truyền giáo vào những năm 1940, bà theo Cơ đốc giáo ở trường rồi và lại đi theo Chủ nghĩa Cộng sản. Bà bí mật vào đảng ở tuổi 16 để vận động cho một xã hội công bằng mà trong đó “không có bọn quan chức tham nhũng.” Bà vỡ mộng với cuộc cách mạng vào khoảng những năm 1957-58, sau khi Mao phát động chiến dịch Chống-hữu-khuynh đối với các nhà trí thức tự do; khoảng 1,2 triệu người đã bị thanh lọc.

Bị gán là một tay hữu khuynh vào năm 1958 và buộc đi cải tạo, bà đã tự sát, nhưng không thành. Bà trở lại đạo với đức tin mãnh liệt, và bắt đầu sự nghiệp văn chương bất đồng chính kiến. Năm 1960, bà bị bắt.

Trong nhà giam, Lin Zhao đã sáng tác một loạt tác phẩm tràn đầy cảm xúc, bà viết bằng máu khi không có mực. Bà cắt ngón tay, nhỏ máu vào một chiếc muỗng nhựa rồi dùng một cọng rơm hoặc tre để viết lên quần áo hoặc ra giường. Khi có bút, bà chép lại chúng lên giấy. Nội quy của nhà tù tước đoạt các bài viết đó và giữ lại làm bằng chứng chống bà, và không nhân viên nào dám hủy hoại chúng.

Trong thơ, tiểu luận và thư, Lin Zhao đã viết về sự thiêng liêng của tự do cá nhân và tội ác của chế độ độc tài của Mao. Một trong những bài thơ trực tiếp về Mao, được viết trên áo: ‘Đất nước của chúng ta phải thuộc về nhân dân; Thật vô lý khi núi sông biến thành đất riêng của một hoàng đế?’

  
Sự tập trung quyền lực trong tay của chủ tịch Tập Cận Bình đã tạo cho tiếng nói của Lin Zhao một sự cộng hưởng và khẩn trương mới đối với các nhà vận động dân chủ Trung Quốc. Với kỷ niệm 50 năm ngày bà qua đời sắp tới, những người tổ chức cuộc hành hương tới mộ của bà lại bị công an sách nhiễu. Mới đây một thông báo của chính quyền sở tại đưa ra khiến người ta lo ngại rằng ngôi mộ sẽ bị phá hủy, mặc dù ban quản lý nghĩa trang đã phủ nhận điều này.

(Lian Xi. Blood Letters: The Untold Story of Lin Zhao, a Martyr in Mao’s China. Trans. Thận Nhiên. Basic Books: 2018).

Ngoài tác phẩm này, cuộc sống của Lâm Chiêu còn được ghi lại qua một cuốn phim tài liệu (In Search of Lin Zhao’s Soul) dài 115 phút, với phụ đề Anh Ngữ.

Hào quang, cũng như tất cả những đớn đau tủi nhục, trong sự nghiệp cầm bút của hai vị nữ lưu thượng dẫn khiến tôi không khỏi liên tưởng đến một nữ sỹ Việt Nam với (không ít) đắng cay.

Bà là ai?

“Là phụ nữ duy nhất, không viết bài cho NVGP, nhưng tên bà bị nêu lên hàng đầu trong ‘hàng ngũ phản động’, bà bị quy kết là ‘gián điệp quốc tế’, lãnh án 15 năm tù cùng với Nguyễn Hữu Đang…”

Về việc bà chọc mù mắt, dư luận chính thức loan rằng bà bị tai nạn ở mắt, khi đi lao động cải tạo. Chúng tôi hỏi nhà thơ Lê Đạt, người rất thân với bà trong suốt hành trình Nhân Văn Giai Phẩm: có phải trong Hỏa Lò chị Thụy An tự chọc mù mắt? Lê Đạt lặng lẽ gật đầu, không thêm một lời nào cả…” (Thụy Khuê. Nhân Văn Giai Phẩm và Vấn đề Nguyễn Ái Quốc. Tiếng Quê Hương: 2012).

Cái “gật đầu lặng lẽ” của Lê Đạt không giúp tôi bớt băn khoăn về hành vi “tự chọc mù mắt” của Thụy An. Có thật vậy sao? Ai có đủ can đảm để tự hủy thân thể một cách ghê rợn đến vậy?

Nỗi băn khoăn này chỉ mới chấm dứt tuần qua, sau khi tôi tình cờ đọc được một bài báo ngắn (“Nhân Văn – Giai Phẩm: Nhà Văn Thụy An”) của tác giả Nguyễn Chính:

“Cuối thập niên 80s tôi có một người học trò tuy tuổi đã cao nhưng cũng cố học Anh văn để được đoàn tụ cùng con cái ở nước ngoài. Đó là nhà văn Thụy An, người đã bị chính quyền miền Bắc thanh trừng trong vụ án Nhân văn – Giai phẩm trong những năm 1955-1957…

“Những ngày cuối đời, bà Thụy An sống cô đơn trong gian nhà nhỏ thuê gần đường Bùi Hữu Nghĩa, bên hông chợ Bà Chiểu, Sài Gòn. ‘Bạn vong niên’, theo lời bà vẫn thường nói đùa, chỉ có tôi năng lui tới.

“Trong thời gian cải tạo bà đã tự hủy hoại một con mắt để từ đó trở đi ‘chỉ nhìn đời bằng một con mắt’. Một hành động, theo tôi, là dũng cảm đối với một phụ nữ. Trên thế gian này chưa chắc có được một người đàn ông – chứ không nói gì một người phụ nữ – đủ can đảm, thừa nghị lực để tự chọc vào mắt mình!”


Maryse Condé được nhận giải văn chương Nobel vì đã nỗ lực ghi lại những di hại của Chủ Nghĩa Thực Dân. Lâm Chiêu được dân chúng Trung Hoa lập mộ và hằng năm vẫn lũ lượt đến thắp hương tưởng nhứ vì đã can đảm “cắt ngón tay, nhỏ máu vào một chiếc muỗng nhựa rồi dùng một cọng rơm hoặc tre để viết lên quần áo hoặc ra giường” về tội ác của Chủ Nghĩa Cộng Sản.

Còn Thụy An?

Bao giờ sẽ có một tác phẩm, một cuốn phim, một mộ phần trang trọng để lớp hậu sinh có thể đến thắp hương trước vong linh của người phụ nữ tài hoa, và rất đáng kính trọng này?

***

* Tham khảo bài viết “Nhân văn - Giai phẩm: Nhà văn Thụy An”

***

--> Read more..

Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013

“Mở Miệng & Giấy Vụn” và những hệ lụy

“Le Cri”

Bốn chàng trai tuổi đời trên dưới ba mươi – Bùi Chát, Lý Đợi, Khúc Duy, Nguyễn Quán – đã làm một cuộc “nổi loạn về văn hóa” tại Sài Gòn vào cuối năm 2000. Đến tháng 6/2002 họ chính thức xuất bản một tập thơ “chui” lấy nhan đề là Mở Miệng. Tập thơ được phổ biến bằng cách “chuyền tay” tại Sài Gòn, việc in ấn do chính “nhà xuất bản” của họ mang tên Giấy Vụn. 

Một trong “tứ nhân bang”, Bùi Chát – một bút hiệu dí dỏm vì vừa “ngọt bùi” lại vừa “chua chát” của Bùi Quang Viễn – cho biết họ là những sinh viên mới ra trường, đầy nhiệt huyết và cũng đầy tham vọng cống hiến cho xã hội. Rào cản trước mắt họ là sự phi lý, trì trệ “đến khó hiểu” trong sinh hoạt văn hóa – văn nghệ tại Việt Nam. Đó cũng là lý do những người trẻ quyết tâm… Mở Miệng (1).

Về việc thành lập nhà xuất bản, Bùi Chát cho rằng đó là hệ quả tất yếu của việc chọn lựa hướng đi, quan điểm thẩm mỹ và cách sinh hoạt văn chương. Họ cũng ý thức: làm thơ kiểu Mở Miệng thì chỉ có thể in theo kiểu Mở Miệng. Trong cuộc phỏng vấn với Nhã Thuyên trên trang web Tiền Vệ, Bùi Chát khẳng định:

“Ban đầu, chúng tôi cũng không có ý định thay đổi quan điểm của người khác, nhất là các biên tập viên ở các nhà xuất bản và các quan chức văn nghệ; chúng tôi chỉ muốn họ thấy dù thừa nhận hoặc không thừa nhận thì vẫn có một dòng văn chương khác đang tồn tại bên cạnh họ. Thay đổi để phù hợp với thực tế hay không là chuyện của họ không phải chuyện của chúng tôi”.

Bùi Chát (Ảnh AFP)

Còn Lý Đợi, một thành viên của nhóm Mở Miệng, cho biết nhóm được hình thành từ ý tưởng của Bùi Chát. Cái tên Mở Miệng lấy ý từ Kinh Thánh: “Khởi thuỷ là lời”, mà muốn phát ra thành lời thì phải… mở miệng. Nhóm bốn người này đến Sài Gòn từ hai miền đất nước: Lý Đợi, Khúc Duy, Nguyễn Quán gốc từ Quảng Nam – Đà Nẵng ở miền Trung và Bùi Chát từ Hố Nai, xứ của dân di cư Công giáo vào Nam năm 1954 khi đất nước bị chia cắt.

Cũng trong cuộc phỏng vấn của Nhã Thuyên, Lý Đợi nói rõ những suy nghĩ của mình: “Suy cho cùng, một tác phẩm văn chương cũng giống như một sản phẩm hàng hoá, đều có thể được mua bán, trao đổi, biếu tặng... Cho nên, nếu một cơ sở xuất bản chính thống nào có thoả thuận hay hợp đồng rõ ràng, thoả đáng cho việc dùng tác phẩm, thì tôi nghĩ việc in ấn chỉ còn là phương tiện. Chính thống hay ngoài luồng, chẳng qua cũng là cách xuất bản, vấn đề còn lại, làm thế nào để đôi bên cùng có lợi và cùng được tôn trọng. Tuy nhiên, theo tôi thấy, lúc mà Mở Miệng xuất hiện thì các cơ sở xuất bản chính thống chưa làm được điều này”.

Như vậy, Mở Miệng muốn bày tỏ quan điểm của mình đối với cuộc sống hiện nay qua đường văn chương, chữ nghĩa. Việc thành lập Mở Miệng và Giấy Vụn là phản ứng của họ trước vấn đề kiểm duyệt và cấp phép xuất bản hiện hành. Họ chỉ muốn “bình thường hoá” việc tự do ngôn luận, tự do sáng tác và tự do xuất bản.

Lý Đợi (Ảnh Trần Việt Đức)

Trong con mắt của chính quyền, nhóm Mở Miệng biểu hiện cho một sự bất an về chính trị khi họ đứng ra thành lập “nhà xuất bản” Giấy Vụn với phương tiện in ấn bằng máy photocopy. Giấy Vụn mặc nhiên từ chối, thậm chí còn thách thức sự kiểm duyệt của nhà nước để tự hiện hữu như một “đối trọng” của hệ thống xuất bản chính thống do nhà nước kiểm soát từ đầu đến cuối.

Bản thân Bùi Chát, người phụ trách nhà xuất bản Giấy Vụn, đã nhiều lần bị bắt bớ. Những người trong nhóm cũng không ít lần bị gọi lên công an. Dưới mắt chính quyền, Mở Miệng và nhà xuất bản Giấy Vụn không phải là “một hiện tượng văn học”, mà lại là “một hiện tượng chính trị”.

Trong bài viết Meike Fries – Kẻ thù của nhà nước (1) do Phạm thị Hoài dịch có đoạn đối thoại giữa Bùi Chát và phóng viên báo Zeit sau một cuộc thẩm vấn tại trụ sở công an:

“Họ nhắc đi nhắc lại các biên bản từ những cuộc thẩm vấn trước đây và lặp lại toàn các câu hỏi giống nhau”, Bùi Chát kể. “Ai đứng đằng sau các anh, ai tài trợ? Mở Miệng có quan hệ với những nước nào? Có liên lạc với những văn nghệ sĩ, trí thức, luật sư nào?” Rồi họ cho anh xem những văn bản luật pháp và bảo rằng in sách không có giấy phép của nhà nước là bị nghiêm cấm. Bùi Chát cho biết, anh đã quen với những vụ “làm việc” như vậy với công an ở TP Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, nỗi sợ vẫn thường xuyên rình rập.
…

“Anh đến ăn mừng với bạn bè vì anh vừa được thả. Trên đường về nhà, có bốn người đàn ông đi xe máy bám theo anh. Anh dừng xe, hỏi vì sao. Không một lời đáp, họ đánh anh vào ngực, vào lưng và rất nhiều lần vào đầu. Vài ngày sau, Bùi Chát gửi email cho tôi [phóng viên báo Zeit], thông báo. Một trong số những người đó bảo: “Mày còn thò mặt đến con hẻm này thì chúng tao giết.”

Bùi Chát sống ở chính con hẻm đó”.

Bùi Chát, Khúc Duy, Lý Đợi, Nguyễn Quán cùng… Mở Miệng
(Ảnh chụp năm 2006)

Tập thơ Vòng tròn sáu mặt của 6 tác giả Mở Miệng – Bùi Chát, Lý Đợi, Khúc Duy, Nguyễn Quán, Hoàng Long và Trần Văn Hiến – ra đời năm 2002 và tiếp theo là sự xuất hiện của nhà xuất bản Giấy Vụn. Khác với các nhà xuất bản “ngoài luồng” khác chỉ cho ra đời một vài tác phẩm rồi dừng, Giấy Vụn không chỉ xuất bản các tác phẩm của Mở Miệng mà còn của nhiều tác giả khác.

Bùi Chát khẳng định: “Các tác phẩm do Giấy Vụn xuất bản luôn tôn trọng bản quyền của tác giả”. Đã có hơn 40 đầu sách thuộc nhiều thể loại, lĩnh vực được Giấy Vụn giới thiệu đến tay bạn đọc gần xa, trong có hơn 10 cuốn của nhóm Mở Miệng.

Theo lời Lý Đợi, những cuốn sách đầu tiên anh và Bùi Chát phải tự làm theo cách thủ công tất cả các công đoạn từ việc biên tập, sửa lỗi chính tả, vẽ bìa, in ấn, xén giấy, đến dán bìa, đóng gáy… Nếu trước đây Giấy Vụn phải in sách bằng “công nghệ tự mình đến tiệm photocopy” thì hiện nay chỉ cần gởi bản thảo hoàn chỉnh qua email, cùng với những yêu cầu là sẽ có sách.

Bùi Chát, người chịu trách nhiệm chính của Giấy Vụn, tiết lộ: “Nhiều đầu sách do độ nhạy cảm cùng với yêu cầu cao đã bị nơi photocopy tăng giá, nhưng để có cuốn sách hoàn hảo phải chấp nhận”. Có lẽ vì thế mà blogger Nhị Linh (dịch giả Cao Việt Dũng) nhận xét: “Sách của Giấy Vụn đủ đẹp để làm ghen tị toàn hệ thống xuất bản Việt Nam từ chính thống đến ngoài luồng”.

Tập thơ Khi kẻ thù ta buồn ngủ của Lý Đợi được in thành 2 phiên bản. Bản bìa màu vàng do nhà xuất bản Giấy Vụn in và phát hành trong giới độc giả tiếng Việt và bản bìa màu xanh do quỹ thơ Eva Tas Book xuất bản tại châu Âu, phục vụ người đọc trong cộng đồng tiếng Anh.

“Khi kẻ thù ta buồn ngủ”, bản tiếng Việt, Nxb Giấy Vụn

Khi kẻ thù ta buồn ngủ
………………
Thì chúng ta đã ngủ
Vợ và con gái và bọn đàn bà [nói chung] đang mơ ăn thù đủ
Đám nhà thơ nghĩ mình nằm trong hũ
Bọn chính khách thì móc đứng mình trong tủ
Bọn công an mắt bị bưng mủ
Tất cả là giấc ngủ
Quên đi chuyện ấp ủ
Nguyên đây chỉ vần… ủ!
Chúng đột kích ta từ phía sau
Mở toang cửa vào vườn rau
Đắp đường làm cầu
Diệt xong bến Văn Lâu
Giành đánh trống chầu
Có trời mới biết nó là gì
Có trời mới biết nó là gì…

Thì đó là bản sắc văn hóa Việt Nam
Nó giống như một xác chết thối
Giống như một cái gối cũ
Như một vết thương bưng mủ
Được lôi lên từ vũng bùn
Đầy mùi xú ế…
Chứ còn nghi ngờ gì nữa, rõ khổ…

When Our Enemy Falls Asleep, Nxb Eva Tas Book

Ở nước ngoài, hoạt động của Bùi Chát và nhóm Mở Miệng trong việc đương đầu với kiểm duyệt của chính quyền đã gây được tiếng vang. Trung tâm Văn bút Thụy Điển đã chọn anh làm thành viên danh dự. Hiệp hội các Nhà xuất bản Quốc tế (The International Publishers Association, IPA) chọn để trao giải Tự do Xuất bản năm 2011. Lễ trao giải diễn ra tại Hội chợ sách Buenos Aires, Argentina.

IPA đã giữ kín thông tin này, trước khi Bùi Chát rời khỏi Việt Nam đến Argentina nhận giải. Nhưng khi về nước, anh bị công an bắt và tạm giam 48 tiếng đồng hồ. Các tập thơ anh mang theo, giải thưởng và bằng chứng nhận đều bị tịch thu.

Bùi Chát nhận giải thưởng Tự Do Xuất bản năm 2011
tại Hội chợ sách Buenos Aires

Gần đây, khi bàn đến những hệ lụy của “Mở Miệng & Giấy Vụn” người ta nghĩ ngay tới Nhã Thuyên, người đã nhiều lần phỏng vấn các thành viên của nhóm Mở Miệng, lần thứ nhất ngày 05/11/2010 và lần phỏng vấn bổ sung ngày 09/01/2011. Nhã Thuyên viết phần tựa bài phỏng vấn đăng trên Tiền Vệ như sau:

“Vào tháng 11 năm 2010, khi nhóm Mở Miệng và hoạt động xuất bản của nhóm thông qua “cơ quan ngôn luận” là nhà xuất bản Giấy Vụn đã đi được một chặng đường dài gần 9 năm, tôi đã đề nghị phỏng vấn Lý Đợi và Bùi Chát, với mục đích ban đầu là làm tư liệu cho một nghiên cứu cá nhân về “những tiếng nói ngầm trong thơ Việt Nam hậu đổi mới” (nghiên cứu này vẫn đang được tiến hành với sự hỗ trợ một phần của tổ chức ANA - Artsnetworkasia).

“Thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi muốn tìm hiểu một cách tương đối kĩ lưỡng về sự hình thành, phát triển, những hoạt động cũng như những vấn đề xung quanh sáng tác và hoạt động xuất bản của Mở Miệng và nhà xuất bản Giấy Vụn. Một phần vì khoảng cách địa lý [Nhã Thuyên ở Hà Nội còn nhóm Mở Miệng ở Sài Gòn], một phần vì cuộc phỏng vấn sẽ phải kéo dài và nhiều vấn đề có lẽ chỉ có thể rõ ràng và thuận tiện trình bày trên văn bản, chúng tôi thống nhất là phỏng vấn qua email.

Từ phía người phỏng vấn, tôi cũng cảm thấy vài bất lợi như sự đứt đoạn hay việc không được cảm nhận trực tiếp thái độ, cảm xúc của những người cùng trò chuyện. Do đó, sau khi nhận được trả lời phỏng vấn lần 2 vào ngày 9/1/2011, tôi có nghĩ tới một dịp tiếp xúc trực tiếp để trao đổi thêm một vài vấn đề để hoàn tất cuộc phỏng vấn”.

Nhà văn Nhã Thuyên

Nhã Thuyên là bút hiệu của cô giáo Đỗ Thị Thoan, giảng viên Đại học Sư phạm Hà Nội. Cô giáo Thoan vào năm 2010 đã soạn một luận văn thạc sĩ nghiên cứu về nhóm thơ Mở Miệng với nhan đề “Vị trí của kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa”.   

Đề tài luận văn đụng chạm đến một hiện tượng rất mới mẻ của văn học đương đại nhưng Đỗ Thị Thoan đã được bộ môn Lý luận Văn học của khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, chấp nhận. Luận văn đó đã được chấm điểm 10, tức là điểm tuyệt đối, từ năm 2010 nhưng không hiểu sao năm 2013, tức là 3 năm sau, lại có cả một làn sóng phê phán gay gắt luận văn này. Có nhiều bài viết chỉ trích cả người viết Đỗ Thị Thoan, người hướng dẫn (Phó giáo sư TS Nguyễn Thị Hòa Bình, trưởng Khoa Văn trường Đại học Sư Phạm Hà Nội), người chấm và cơ quan chủ quản.

Luận văn Thạc sĩ của giảng viên Đỗ Thị Thoan

Tại Hội nghị Lý luận - Phê bình Văn học lần thứ III do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức đầu tháng 06/2013 ở Tam Đảo, nhiều nhà phê bình văn học trong hội đã phê phán luận văn của Đỗ Thị Thoan, với giọng điệu gay gắt, phẫn nộ, đòi “xử lý trách nhiệm” của tất cả những ai có dính líu đến bản luận văn.

Nhà nghiên cứu-phê bình văn học Nguyễn Văn Lưu gọi đó là “một luận văn kích động sự phản kháng và chống đối”. Có người còn nói rằng: “Đây là một luận văn trá hình mang nội dung chính trị phản động…”.

Riêng đối với báo chí “lề phải”, theo tác giả Thanh Phương, tờ Quân đội Nhân dân số ra ngày 07/07/2013 có một trong bài chính luận mang tựa đề “Một góc nhìn phản văn hóa và chính trị”, đã kịch liệt lên án bản luận văn của Đỗ Thị Thoan. Tờ báo cho rằng các thi sĩ trong nhóm Mở Miệng đã dùng thơ để “hạ bệ các thần tượng, giải thiêng lãnh tụ và các danh nhân... xúc phạm tình cảm của hàng triệu đồng bào ta đối với Bác Hồ kính yêu”.

Có lẽ tờ báo dựa vào đoạn thơ dưới đây trong bài thơ Cùng khổ của Bùi Chát để kết tội nhóm Mở Miệng đã “phạm thượng” với chữ Hồ được viết hoa trong câu “Chúng ta cùng chảy một Hồ nước mắt” (?):

“…Chúng ta cùng tồn tại trong một môi trường
Chúng ta được tạo ra làm những cỗ máy
Chúng ta cùng nhai một loại thực phẩm
Chúng ta cùng chảy một Hồ nước mắt…”

Bài viết trên tờ Quân đội Nhân dân số ra ngày 7/7/2013

Nói theo ngôn ngữ ngày nay, Nhã Thuyên và nhóm Mở Miệng đã bị “ném đá” không thương tiếc. Hệ lụy trước mắt không chỉ bài luận văn bị đả kích, cô giáo Đỗ Thị Thoan nghe nói còn bị chấm dứt hợp đồng giảng dạy ở khoa Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội và giáo viên hướng dẫn cô cũng bị thôi chức trưởng bộ môn.

Trong một chừng mực nào đó, sự kiện này khiến người ta nhớ lại vụ Nhân Văn – Giai  Phẩm (3) cách đây nửa thế kỷ. Theo Phạm Xuân Nguyên trong cuộc trả lời phỏng vấn RFI từ Hà Nội, kiểu đả kích luận văn của Đỗ Thị Thoan là một lối phê bình “chỉ điểm”. Hiểu theo hình tượng những “mật thám” ngày xưa “chỉ điểm” để chính quyền bảo hộ bắt những người chống đối. Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên nhận xét:

“Về nhóm Thơ Mở Miệng, tôi cũng có thể nói rằng là phần lớn những người phê bình có thể chưa đọc hoặc không biết gì về nhóm này. Nhóm Mở Miệng bao gồm những người trẻ ở Sài Gòn, đều đã tốt nghiệp đại học.

Họ làm một thứ thơ trước hết là nhằm phản ứng lại những thứ thơ đang thịnh hành: thứ thơ du dương, véo von, hoặc thứ thơ không đi sát đời sống... Họ làm một thứ thơ mà bản thân họ tự nhận là “thơ dở”, “thơ rác”, “thơ nghĩa địa”, thứ thơ nên “đào đất chôn đi”. Họ thực hành một thứ thơ nhằm biểu lộ một thái độ. Thơ của họ có những bài tục, có những bài thơ nhại, tức là lấy một bài thơ quen thuộc, nổi tiếng, sửa đi một vài từ, thêm một vài từ, biến một bài thơ nghiêm túc thành một bài thơ cợt nhả…”

Tập "Bài Thơ Một vần" của Bùi Chát, Nxb Giấy Vụn

Tôi vốn là người thích loại thơ tiền chiến, đặc biệt là thơ tình. Chẳng hạn như những câu trong bài Chiều của Xuân Diệu: “Hôm nay trời nhẹ lên cao / Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”. Thơ của thời đó vừa trau chuốt với ngôn từ, vừa mới lạ với ý tưởng.

Quả thật rất khó “tiêu hóa” những ngôn từ & ý tưởng của thơ Mở Miệng như trong bài thơ Vần ‘inh’ của Bùi Chát trong tập thơ Cái lồn bỏ đi & những bài thơ chửi rủa [bới, lộn], Nxb Giấy Vụn, 2004:

tôi buồn khóc như buồn nôn
ngoài phố
nắng thuỷ tinh
tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ
thanh tâm tuyền
[í quên, bùi chát chớ!]
...
tôi thèm giết tôi
loài sát nhơn muôn đời
tôi gào tên tôi thảm thiết
buồi chét! buồi chét! bù ù ù ồ ồ ì ì ì ché é é t t t !
bóp cổ tôi chết gục
để tôi được phục sinh

vợ tôi hôm nay bất ngờ có kinh…

Người ta có nhiều “gout” khi thưởng thức một bài thơ, người thì thích ngôn ngữ của nhà thơ, kẻ thì thích ý tưởng của người làm thơ. Nhưng nếu đọc thơ Mở Miệng người ta có lẽ phải gạt bỏ những sở thích “sáo mòn” đó để bước vào một thế giới thơ… “lạ”. Lạ từ cách dùng từ như Xáo chộn chong ngày (2003) một hình thức sử dụng chính tả ngược ngạo: trộn thành chộn, trong thành chong…

Xáo chộn chong ngày là một tập thơ khiến các nhà ngôn ngữ học phải nhíu mày vì cách phát âm và chính tả. Ẩn ý ở đây nằm trong sự khác biệt về cách phát âm của hai miền Nam-Bắc. Không phải chỉ mình Hà Nội nói ngọng (Bùi Chát là người Bắc di cư) cũng không phải giọng Hà Nội “ngọng” hơn Quảng Nam, quê hương của 3 thành viên còn lại trong nhóm Mở Miệng. Bài Hiện chạng có thể coi là điển hình về phát âm và chính tả trong tập thơ Xáo chộn chong ngày:

Không jì có thể đoạt tôi khỏi những bàn tay
cái nhìn không tương xứng lăm ngón
Jữa con mắt fải và chái
không fải cái mũi thò nò xanh
thế jới lày không thể bóp tôi
những hình ảnh cũ thay đổi tôi như mới
thái độ nên cầu ngồi xổm để jơi một vật jưới lước

Người đọc có cảm giác Mở Miệng muốn đảo lộn tất cả. Ngay cả ca dao cũng bị họ “chọc ngoáy” như trong bài Du lịch, tập thơ Xin lỗi chịu hổng nổi, Nxb Giấy Vụn, 2007:

“Đường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh bờ hồ
Ai vô xứ Huế thì vô... quầy lưu niệm”

Bùi Chát nói với Nhã Thuyên: “Đối với chúng tôi, văn chương đôi khi là phương tiện, đôi khi là mục tiêu để đạt tới (đôi khi cả 2), nhưng dù là gì đi nữa chúng tôi cũng không bao giờ giống với thế hệ đi làm cách mạng ở Việt Nam, nghĩa là không đời nào chúng tôi chịu làm công cụ cho một ý thức hệ hay tư tưởng nào sai khiến cả”.

Thích hay không thích thơ Mở Miệng còn tùy thuộc vào sở thích riêng của từng cá nhân. Có điều ta phải “ngả mũ” trước Mở Miệng và Giấy Vụn đã dũng cảm dấn thân, bất chấp những hệ lụy trước mặt.

Khúc Duy, Lý Đợi, Nguyễn Quán, Bùi Chát

***

Chú thích:

(1) Tác phẩm đã in của nhóm Mở Miệng:

·         Bùi Chát: Xáo chộn chong ngày (2003);  Cái lồn bỏ đi & những bài thơ chửi rủa [bới, lộn] (2004);  Tháng tư gãy súng (2005); Xin lỗi chịu hổng nổi (2007); và Bài thơ một vần/One-rhyme poems – thơ song ngữ Anh Việt (2009)

·         Lý Đợi: Bảy biến tấu con nhện (2003); Trường chay thịt chó (2005); Khi kẻ thù ta buồn ngủ / When our enemy falls asleep – thơ song ngữ Anh Việt (2010)

·         Các dự án chính: Vòng tròn sáu mặt (tập thơ 6 tác giả), Mở Miệng (tập thơ 4 tác giả); Khoan cắt bê tông (tập thơ chung 23 tác giả), Có jì dùng jì có nấy dùng nấy (tập thơ chung 47 tác giả).

(2) Meike Fries: “Der Staatsfeind”, tạp chí Zeit Campus số 2 (tháng 3&4 2012) của tuần báo Zeit, trang 70-73.

(3) Đọc thêm về Nhân văn – Giai phẩm:

·         Nhân văn – Giai phẩm: Những nhân vật có liên quan

·         Nhân văn – Giai Phẩm: Trần Dần, phản cách mạng hay cách tân?

·         Nhân văn - Giai phẩm: Nhà văn Thụy An

***


--> Read more..

Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012

Báo chí miền Bắc giai đoạn 1954-1975

Phạm vi của bài viết này là báo chí miền Bắc dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1954-1975), kể từ khi hiệp định Geneva chia cắt hai miền lãnh thổ Nam và Bắc Việt Nam. Chính quyền miền Bắc gọi nền báo chí trong thời kỳ này là “Báo chí Cách mạng”, hay hiểu một cách khác, là báo chí theo chế độ Xã hội Chủ nghĩa. Đối với chính quyền miền Nam, còn được gọi là “Báo chí Cộng sản”.

Tác giả cũng xin giải thích thêm, vì những liên quan trước đó trong kháng chiến chống Pháp nên cũng cần phải nhắc đến sinh hoạt báo chí trong thời kỳ này, hay nói khác đi, là thời kỳ báo chí kháng chiến hay “báo chí tiền-cách-mạng” (Pre-Revolution Press).

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi tờ Le Paria (Người cùng khổ) là cột mốc lịch sử trong giai đoạn báo chí tiền-cách-mạng vì một lý do dễ hiểu: một trong những người sáng lập kiêm chủ bút là Nguyễn Ái Quốc, người sau này đứng đầu nhà nước VNDCCH qua tên Hồ Chí Minh.

Le Paria (Người cùng khổ)

Le Paria là tờ báo được xuất bản vào năm 1922 tại Paris, cơ quan chủ quản là Hội Hợp tác Người cùng khổ, trực thuộc Hội Liên hiệp Thuộc địa. Báo được in bằng tiếng Pháp với tên báo bằng ba thứ tiếng: Pháp, Ả Rập và Hán văn trên khổ giấy 36 x 50cm. Điều đáng nói là trên tờ báo không dùng ngôn ngữ Việt nên rất khiên cưỡng khi xếp Le Paria vào loại báo chí Việt Nam!

Trên số 1 ra ngày 1/4/1922, Le Paria đã đăng lời nói đầu, tuyên bố tờ báo “là vũ khí để chiến đấu, sứ mạng của nó đã rõ ràng là giải phóng con người”. Nguyệt san Le Paria, số 14, tháng 5/1923 (một năm sau ngày ra mắt), Nguyễn Ái Quốc kêu gọi: “Các bạn Pháp, các đồng bào ở thuộc địa cư trú trên đất Pháp, các anh em bản xứ ở các thuộc địa, hãy đáp lại lời kêu gọi của chúng tôi. Hãy làm việc cho Le Paria, cho sự diệt trừ chế độ độc đoán chống lại bọn cá mập thực dân!”

Tờ báo là “Diễn đàn của các dân tộc thuộc địa”, sau đó đổi thành “Diễn đàn của vô sản thuộc địa”, tồn tại đến tháng 4/1926, tổng cộng ra được 38 số. Le Paria được bí mật chuyển về Đông Dương và đã làm tròn mục tiêu, tôn chỉ của tờ báo là chống chế độ thực dân Pháp.

Có những số báo Le Paria Nguyễn Ái Quốc viết tới 3 hoặc 4 bài. Đồng thời, hầu hết các “công đoạn làm báo” như viết tin bài, biên tập, trình bày, minh họa, vẽ tranh châm biếm, viết mẫu chữ, đưa bài sang nhà in… cho đến việc vận chuyển báo từ nhà in về tòa soạn và phát hành báo… Nguyễn Ái Quốc đều đứng ra đảm nhiệm.

Bên cạnh các bài báo trên Le Paria, Nguyễn Ái Quốc còn là tác giả của nhiều tranh minh họa, châm biếm, với nét vẽ đơn giản ký tên Nguyen A.Q. Đối tượng của những bức tranh châm biếm là người Pháp tại thuộc địa, tự xưng là “giàu lòng bác ái” thông qua “chính sách khai hóa”.

Biếm họa của Nguyen A.Q. trên ‘Le Paria’

“Báo chí cách mạng” trong giai đoạn 1925-1945 có hai tờ báo ra đời ở hai thời điểm khác nhau, có vai trò quan trọng trong việc đấu tranh chống thực dân Pháp, cả hai tờ báo đều do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và trực tiếp chỉ đạo. Đó là tờ Thanh niên, xuất bản 1925 và tờ Việt Nam Độc lập, xuất bản 1941.

Tháng 6/1925, Nguyễn Ái Quốc chọn một nhóm người trong tổ chức Tâm Tâm Xã để thành lập một đoàn thể cách mạng có xu hướng Mác-xít với tên gọi Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội và xuất bản tờ báo Thanh niên, làm cơ quan tuyên truyền đường lối, mục đích và chương trình hành động của hội. Ngày 21/6/1925 số 1 báo Thanh Niên ra đời. Ngày nay, 21/6 cũng được chọn là ngày “Báo chí Cách mạng” Việt Nam.

Trong thời kỳ đầu ra báo Thanh Niên, Nguyễn Ái Quốc là Tổng biên tập, trực tiếp chỉ đạo và viết những bài quan trọng, ngoài ra còn sửa bài, vẽ tranh minh họa. Nội dung chủ yếu của tờ Thanh Niên là tập trung vào việc chống Pháp, tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin và tập hợp lực lượng để đi đến việc thành lập một chính đảng làm cách mạng.

Khi tờ Thanh Niên mới xuất bản được khoảng 70 số, Chánh mật thám Đông Dương L. Marty, người đã theo dõi sự xuất hiện của Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu từ cuối năm 1924, trong một báo cáo gửi Bộ Thuộc địa có nhận xét:

“Người chủ tờ báo này tỏ ra hết sức khôn ngoan, suốt 60 số đầu, không hề để lộ tính cách Mácxít của tờ báo, chỉ nói chuyện yêu nước, dân tộc và lòng căm thù chế độ thuộc địa của chúng ta, để rồi từ số 61 (ngày 18/12/1926), ông ta dẫn bạn đọc đến kết luận: muốn giành được độc lập, không có con đường nào khác là theo Lênin và Quốc tế III, lập Đảng Cộng sản…”

Báo Thanh Niên

Đến khi thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh hội, gọi tắt là Việt Minh, ngày 1/8/1941 Việt Minh ra tờ Việt Nam Độc lập, làm cơ quan tuyên truyền tại tỉnh Cao Bằng. Tôn chỉ mục đích của báo được nói rõ trong số đầu: “Cốt làm cho nhân dân ta hết ngu hèn, biết các việc, biết đoàn kết, đặng đánh Tây, đánh Nhật cho Việt Nam độc lập, tự do”.

Tố cáo Nhật và kêu gọi đồng bào đoàn kết, báo Việt Nam Độc lập viết: “Đồng bào ta đã bị Pháp bóc lột chẳng kém gì Nhật bóc lột dân Cao Ly. Nay lại bị Nhật bóc lột nữa. Một cổ hai tròng sống làm sao được? Muốn sống thì phải mau mau đoàn kết lại đánh đuổi Pháp Nhật giành lấy quyền độc lập tự do”.

Báo Việt Nam Độc lập

Báo Sự Thật là tiền thân của báo Nhân Dân ngày nay, phát hành số đầu tiên ngày 5/12/1945 với danh nghĩa là cơ quan tuyên truyền cổ động của Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương, nhưng thực chất đây là tờ báo của Đảng Cộng sản, do Tổng Bí thư Trường Chinh làm Chủ nhiệm.

Năm 1946, kháng chiến toàn quốc nổ ra, báo đã di dời trụ sở đến nhiều địa điểm. Cuối năm 1947, trụ sở báo được đặt tại khu vực Khuổi Đăm, thôn Nà Khằn, xã Nghĩa Tá thuộc huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn ngày nay. Nguyễn Ái Quốc dùng tên mới là Hồ Chí Minh trong các bài viết góp phần cổ động, giáo dục và tổ chức quần chúng đoàn kết đấu tranh. Ngày 2/12/1950, báo Sự Thật ra số cuối cùng, hoàn thành vai trò lịch sử của mình, nhường vị trí cho sự ra đời của báo Nhân Dân vào năm 1951.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chí Minh và Trường Chinh cùng sự đóng góp của Ban Tuyên huấn Trung ương do Tố Hữu đứng đầu, báo Nhân Dân số đầu tiên ra mắt ngày 11/3/1951 tại chiến khu Việt Bắc với danh nghĩa “Cơ quan trung ương của Đảng Lao động Việt Nam”.

Báo Nhân Dân

Giữ vai trò là cơ quan ngôn luận của Đảng và Nhà nước, báo Nhân Dân rất quan trọng trong thời kỳ 1954-1975 và tiếp đến là từ 1975 cho đến ngày nay. Nhiều cán bộ cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng làm việc tại báo Nhân Dân hoặc tham gia viết bài. Trường Chinh và Tố Hữu đã từng làm chủ bút của báo này. Các đời Tổng biên tập đều giữ chức vụ từ Ủy viên Trung ương Đảng trở lên, đồng thời kiêm nhiệm một số chức vụ quan trọng khác trong Đảng.

Bùi Tín, nguyên phó tổng biên tập báo Nhân Dân đã tỵ nạn chính trị tại nước ngoài, cho biết số độc giả đại chúng không mấy ai mua báo hay tìm đọc tin tức của Nhân Dân vì báo không có gì mới mẻ mà chỉ đưa những tin chính quyền muốn nói. Ông cũng nói thêm về ngân sách khá lớn mà chính phủ VNDCCH chu cấp cho báo Nhân Dân: “Tôi là phó tổng biên tập mà lương ngang với trung tướng bên quân đội”.

Từ tháng 10/1954, sau chiến thắng Ðiện Biên Phủ, báo Nhân Dân chuyển về Hà Nội, xuất bản hằng ngày, tòa soạn đặt trụ sở tại số 71 Hàng Trống và có nhà in riêng ở phố Tràng Tiền. Sang thế kỷ 21, Nhân Dân phát hành 180.000 bản mỗi ngày, báo Nhân Dân Cuối tuần có lượng phát hành 110.000 tờ mỗi kỳ, và Nguyệt san Nhân Dân được phát hành 130.000 số/kỳ. Ngoài ra, Nhân Dân Điện tử được ra đời trên Internet vào ngày 21/6/1998, ngày kỷ niệm Báo chí Cách mạng tại Việt Nam.

Sau Hội nghị Trung ương lần thứ sáu năm 1954, báo Nhân Dân chuyển sang tuyên truyền, cổ động, chuẩn bị tư tưởng xã hội cho việc thực hiện những nhiệm vụ mới. Báo là một công cụ tham gia tích cực trong việc chống Mỹ và chính quyền miền Nam. Tờ báo cổ vũ cuộc đấu tranh tại miền Nam, sau đó là các cuộc chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, chiến tranh bằng không quân chống miền Bắc, chiến tranh Việt Nam hóa.

Tờ báo tự hào viết: “Báo Nhân Dân là cơ quan của Trung ương có bước đi dài nhất và vì quá trình hoạt động của nó đi liền với những cuộc chiến đấu lớn, những giai đoạn phát triển lớn của cách mạng nước ta cho nên lịch sử của nó lâu dài nhất, phong phú nhất”.

Báo Nhân Dân, số đặc biệt ra chiều Thứ Năm, 4/9/1969
đăng Thông Cáo Đặc Biệt về việc Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần

Ngày 20/10/1950, tại Định Hóa, Thái Nguyên, báo Quân đội Nhân dân ra mắt số đầu tiên. Tiền thân của Quân đội Nhân dân là các tờ Tiếng súng reo, Quân giải phóng, Chiến thắng, Sao Vàng, Vệ quốc quân và Quân du kích. Tên gọi Quân đội Nhân dân được tờ báo giải thích: “Một đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ”.

Tiền thân của báo Quân đội Nhân dân

Báo Quân đội Nhân dân bắt đầu ra một tuần 6 số (nghỉ Thứ Bảy) kể từ ngày 19/5/1965. Tờ báo không được chuyển vào Nam, song nhờ Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam, qua mục giới thiệu báo và đọc báo, nội dung chủ yếu của báo vẫn đến được miền Nam vào thời điểm cuộc chiến tranh đi vào giai đoạn quyết liệt nhất.

Hiện nay báo Quân đội Nhân dân có 4 ấn phẩm: báo Quân đội Nhân dân hằng ngày (ra tất cả những ngày trong tuần, 8 trang, in màu trang 1 và 8), báo Quân đội Nhân dân cuối tuần, nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng, báo Quân đội Nhân dân điện tử (tiếng Việt và tiếng Anh).

Báo Quân đội Nhân dân

Bên cạnh những nhật báo còn có các ấn bản định kỳ, nổi bật nhất là Nhân Văn do Phan Khôi làm chủ nhiệm với 5 số báo trước khi bị đóng cửa và Giai Phẩm ra được 4 số báo (Tháng Ba, Tháng Tư, Tháng Mười và Tháng Chạp 1956) trước khi phải đình bản. Nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm [*] nổi lên như một hiện tượng đặc thù trong bối cảnh miền Bắc đi theo con đường Xã hội Chủ nghĩa.

Theo Thụy Khê, hiện tượng Nhân Văn - Giai Phẩm trước hết là một trào lưu tư tưởng bùng phát vào thời điểm đặc biệt 1955-1957 trên các lĩnh vực triết học, tư tưởng, pháp luật, giáo dục, văn học nghệ thuật. Tiếp đó là một cuộc “cách mạng văn học” đòi hỏi dân chủ hóa ở miền Bắc thời kỳ 1960. Cuộc “cách mạng” này đã xảy ra trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam và trong quá trình đi từ chủ nghĩa dân chủ tư sản đến chủ nghĩa cộng sản.

Cái gọi là “Vụ án Nhân văn – Giai phẩm” thực ra bao gồm các báo Nhân Văn, Sáng Tạo, Trăm Hoa, Tự Do Diễn Đàn, Đất Mới - Chuyện Sinh Viên, Văn... và các sách thuộc dạng tạp chí Giai Phẩm Mùa Xuân, Giai Phẩm Mùa Thu, Giai phẩm Mùa Đông, Sách Tết, Vũ Trọng Phụng… Tất cả được gọi chung là “Nhân Văn – Giai Phẩm”

Tạp chí Nhân Văn

Những người khởi xướng hầu hết là số văn nghệ sỹ, trí thức tài năng, có nhiều công lao trong kháng chiến chống Pháp, trong quân đội. Họ bị đàn áp và xét xử như một vụ án chính trị, hoạt động gián điệp lật đổ chính quyền nhân dân… Theo sau đó là việc xử lý bằng các hình thức trừng phạt nội bộ với hàng trăm giáo sư, giáo viên, sinh viên, nhà văn, nghệ sỹ điện ảnh sân khấu, nhạc sỹ, họa sỹ, kiến trúc sư, phóng viên, kể cả những cán bộ lãnh đạo, nhân viên một số bộ ngành, cơ quan nhà nước...

Cũng vì thế, tác giả Thụy Khê có một cái nhìn bao quát hơn: “Với tất cả những gì đã xảy ra, xem xét vụ Nhân Văn Giai Phẩm nên được đánh giá dưới góc độ là một trào lưu tư tưởng dân chủ, một cuộc cách mạng văn học không thành thì đúng hơn, để đi tìm cách cắt nghĩa nó, gìn giữ những gì nó đặt ra, nó để lại cho đời sống chính trị, cho nền văn học nước nhà. Còn nếu coi là vụ án chính trị phản động thì không cần tốn giấy mực để viết về nó trong lịch sử văn học làm gì”.

Sau khi bị đàn áp, Nhân Văn - Giai Phẩm không chết ngay, trái lại, nó còn tồn tại dai dẳng trong một số sáng tác của Phùng Cung, Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Hữu Loan... thậm chí cả Nguyễn Chí Thiện, nhóm Văn nghệ Chân đất ở Hà Nội những năm 70-80, cho đến vụ Hoàng Cầm, Hoàng Hưng bị bắt năm 1982.

Trong giai đoạn Đổi mới, một số nhân vật chủ chốt trong vụ Nhân Văn – Giai Phẩm 50 năm về trước lại được trao Giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí Minh… Tuy nhiên, các mục tiêu tự do tư tưởng, tự do sáng tác, dân chủ xã hội pháp quyền, cách tân nghệ thuật mà Nhân Văn - Giai Phẩm đã đặt ra thì vẫn còn là vấn đề đối với các thế hệ người Việt Nam đến tận ngày nay.

Giai Phẩm Mùa Thu

Đặc điểm của nền báo chí miền Bắc thời kỳ 1954-1975 là sự kiểm soát chặt chẽ của Đảng và Nhà nước. Tất cả những báo lưu hành đều do các cơ quan, đoàn thể chủ quản, khái niệm về “báo của tư nhân” hoàn toàn xa lạ trong chế độ Xã hội Chủ nghĩa.

Cơ quan có nhiều tạp chí nhất là Viện Khoa Xã hội Việt Nam với trụ sở chính đặt tại Hà Nội, có tất cả không dưới 30 tạp chí chuyên ngành về lĩnh vực khoa học xã hội. Mỗi tạp chí thuộc một viện chuyên ngành hoặc trung tâm tương ứng như tạp chí Nghiên cứu Lịch sử thuộc Viện Sử học, tạp chí Châu Mỹ Ngày nay thuộc Viện Nghiên cứu châu Mỹ, tạp chí Địa lý và Nhân văn thuộc Trung tâm Địa lý và Nhân văn…

Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử

Những thông tin cung cấp cho báo chí đều qua hãng thông tấn đầu tiên và duy nhất của Nhà nước VNDCCH, được gọi là Thông tấn xã Việt Nam với trụ sở chính đặt tại phố Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Trước năm 1945, Việt Nam không có hãng thông tấn, tin tức chủ yếu do các hãng tin của Pháp và phương Tây phát ra, thông qua Sở Tuyên truyền Báo chí của Pháp. Ngay khi tiếp quản Hà Nội, Nha Thông tin thuộc Bộ Tuyên truyền trong Chính phủ lâm thời đã cho lập Việt Nam Thông tấn xã vào ngày 23/8/1945 với nhiệm vụ thu thập và khai thác tin của AFP ở Sài Gòn và Paris.

Đến ngày 15/9/1945, Việt Nam Thông tấn xã đã phát sóng ra thế giới bản tin đầu tiên cùng toàn văn Tuyên ngôn độc lập và chính thức chọn làm ngày thành lập. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, bộ phận biệt phái của Việt Nam Thông tấn xã ở Nam Bộ đã đứng ra thành lập Thông tấn xã Giải phóng - cơ quan thông tin chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam - vào ngày 12/10/1960.

“Báo chí Cách mạng” cũng có nhiều kỷ lục đáng ghi nhận. Báo đổi tên nhiều nhất là tạp chí Cộng sản, cơ quan lý luận và chính trị của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Số đầu tiên ra ngày 5/8/1930 với tên tạp chí Đỏ, sau đó đổi tên thành Cộng sản trong cùng năm, rồi lại lấy tên Bônsêvich (1935), Sinh hoạt nội bộ (1947), Học tập (1955-1976) và cuối cùng là Tạp chí Cộng sản cho đến ngày nay.

Báo in bằng nhiều thứ tiếng nhất thuộc về Báo ảnh Việt Nam của Thông tấn xã Việt Nam, ra đời năm 1954, xuất bản hàng tháng. Đã có thời kỳ báo in bằng 10 thứ tiếng, trong đó gồm tiếng Việt, Khơme, Nga, Anh, Pháp, Trung (Hán, Hoa), Lào, Đức, Tây Ban Nha và Esperanto (Quốc tế ngữ).

Báo ảnh Việt Nam

***

[*] Đọc thêm về Nhân Văn – Giai phẩm qua các bài viết của NNC:

  • Nhân văn – Giai phẩm: Những nhân vật có liên quan



  • Nhân văn – Giai Phẩm: Trần Dần, phản cách mạng hay cách tân?

  • Nhân văn - Giai phẩm: Nhà văn Thụy An

***

(Trích Hồi Ức Một Đời Người – Chương 10: Thời xuống lỗ)

Hồi Ức Một Đời Người gồm 9 Chương:

  1. Chương 1: Thời thơ ấu (từ Hà Nội vào Đà Lạt)
  2. Chương 2: Thời niên thiếu (Đà Lạt và Ban Mê Thuột)
  3. Chương 3: Thời thanh niên (Sài Gòn)
  4. Chương 4: Thời quân ngũ (Sài Gòn – Giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội)
  5. Chương 5: Thời cải tạo (Trảng Lớn, Trảng Táo, Gia Huynh)
  6. Chương 6: Thời điêu linh (Sài Gòn, Đà Lạt)
  7. Chương 7: Thời mở lòng (những chuyện tình cảm)
  8. Chương 8: Thời mở cửa (Bước vào nghề báo, thập niên 80)
  9. Chương 9: Thời hội nhập (Bút ký những chuyến đi tới 15 quốc gia và lãnh thổ)
Tác giả đang viết tiếp một Chương cuối cùng sẽ mang tên… Thời xuống lỗ (thập niên 2000 cho đến ngày xuống lỗ)!

--> Read more..

Popular posts