Thứ Ba, ngày 31 tháng 5 năm 2016

The Sympathizer (1): “Kẻ Nằm Vùng” hay “Cảm Tình Viên”?

2016 đánh dấu 41 năm qua đi của một cuộc chiến, một cuộc chiến mang nhiều tên gọi khác nhau, tùy theo quan điểm của các bên tham chiến cũng như nhận thức của cả thế giới. Về mặt văn học, năm 2016 cũng đánh dấu một bước “đột phá” của người Việt tại Mỹ trên văn đàn thế giới.

Lần đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam, một nhà văn người Mỹ gốc Việt, Viet Thanh Nguyen [1], nhận giải thưởng Pulitzer về tiểu thuyết năm 2016. Trước đó, năm 1973, một người Việt làm phóng viên ảnh cho hãng thông tấn Associated Press (AP), Nick Út [2], , đã nhận giải Pulitzer về ảnh báo chí [3].

(Viet Thanh Nguyễn - Nguồn: Politics & Prose)

Một tác giả người Mỹ gốc Việt thành công trên văn đàn là một chuyện khiến người đọc phải vừa thắc mắc vừa thú vị. Riêng đối với độc giả người Việt, cả ở trong lẫn ngoài nước, lại thêm thắc mắc về sự khó khăn, phức tạp trong ngôn ngữ của một đứa trẻ người Việt tị nạn mới 4 tuổi khi đến một đất nước xa lạ từ năm 1975 rồi lại được giáo dục như một người Mỹ.

Sự khó khăn về ngôn ngữ - văn hóa trong suốt quãng đời 35 năm của tác giả là một vấn nạn lớn. Riêng vấn đề ngôn ngữ cũng được chính tác giả bàn đến trên trang web của mình: “Tên Việt của tôi là gì? Viet Thanh Nguyen hay Nguyễn Thanh Việt? Tên những nhân vật “Man” và “Bon” của tôi là gì trong tiếng Việt? Mẫn và Bốn?”

Theo tiếng Việt, tên của Viet Thanh Nguyen phải đọc là Nguyễn Thanh Việt và cuốn tiểu thuyết của anh, “The Sympathizer”, nếu được dịch sang tiếng Việt cũng sẽ là một đề tài khá phức tạp về ngôn ngữ vì những khác biệt chính trị trước và sau thời điểm 1975.

Dưới thời VNCH, những người như nhân vật chính trong truyện thường được gọi là “nằm vùng”, một thuật ngữ có tính cách miệt thị đối với những kẻ “ăn cơm Quốc gia, thờ ma Cộng sản”. Có điều chắc chắn nếu tác phẩm này được phép xuất bản tại Việt Nam sẽ không thể nào mang tên “Kẻ Nằm Vùng”!

Tôi đoán cái tựa “”Cảm Tình Viên” hoặc gì gì đó có chữ “cảm tình” sẽ được dùng làm tựa đề cho “The Sympathizer”. Trong ngôn ngữ “hiện đại” ngày nay tại Việt Nam, người ta có những thuật ngữ như “cảm tình Đảng” (giai đoạn trước khi được xét gia nhập đảng CSVN) hay “đối tượng Đảng”.

Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả, là câu hỏi được đặt ra: “Sẽ có bản dịch tiếng Việt hay không?”. Tác giả tự trả lời trong một bài viết:

“Cách đây vài tháng, tôi đã ký hợp đồng với Nhã Nam (tên một nhà xuất bản tại Sài Gòn – chú thích của NNC) và bản dịch đang được tiến hành. Trong hợp đồng đó có một điều khoản là nếu chính quyền kiểm duyệt cuốn truyện, tôi sẽ lấy lại bản dịch. Tôi sẽ tìm cách khác để xuất bản. Đối với tôi, rõ ràng điều quan trọng là người Việt cần đọc tiểu thuyết này qua bản dịch không bị kiểm duyệt. Nếu cắt đi những phần chính quyền không hài lòng sẽ làm cuốn truyện trở nên vô nghĩa” [4]

Trong vòng 10 năm qua, Nguyễn Thanh Việt đã trở lại Việt Nam nhiều lần. Thời gian các chuyến trở về, theo anh, cộng chung lại cũng gần 1 năm. Trình độ tiếng Việt của anh cũng tương đối đủ để có thể tiếp xúc với mọi người trên đường phố Sài Gòn hoặc Hà Nội.

Tuy nhiên, dùng số vốn liếng tiếng Việt khiêm tốn đó để viết về những đề tài “nhạy cảm” (sensitive) và “phức tạp” (complicated) như trong tiểu thuyết “The Sympathizer” sẽ là chuyện vô cùng khó khăn đối với một người được giáo dục trong môi trường Mỹ từ khi mới có 4 tuổi. Thế cho nên, Nguyễn Thanh Việt thích nói và viết bằng tiếng Anh hơn vì sẽ bảo đảm… không bị hiểu lầm!

Đó là lý do “The Sympathizer” cần một dịch giả đáng tin cậy cũng như cần một môi trường thông thoáng hơn tại Việt Nam để tác phẩm bằng tiếng Việt không bị chính quyền kiểm duyệt. Rất dễ giải quyết vấn đề về dịch giả nhưng cũng rất khó đáp ứng được yêu cầu của tác giả phải là bản dịch trung thực, không được “lách” lưỡi kéo kiểm duyệt tại Việt Nam. 

Viet Thanh Nguyen -  Nguyễn Thanh Việt

Trên trang web của mình, tác giả cho biết: “Khi lớn, tôi đọc sách, xem phim về Chiến tranh Việt Nam của Mỹ, nhưng rất ít điều nói về người Việt, họ được mô tả theo lối mòn, làm nền cho người hùng Mỹ.”

Chương đầu tiên của “The Sympathizer” lấy bối cảnh Sài Gòn trong những ngày cuối tháng 4/1975. Đặc điểm của cuốn truyện là nhân vật chính không tên, không tuổi. Từ đầu đến cuối người đọc chỉ biết anh ta qua danh xưng “tôi”. Ngay ở phần mở đầu, người đọc rất đỗi ngạc nhiên với lời trần tình:

“Tôi là một tên gián điệp, một kẻ nằm vùng, một con quỷ, một con người hai mặt. Có lẽ cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên, tôi cũng là một con người có hai đầu óc… có thể nhìn vào bất cứ vấn đề gì từ hai phía…” (“I am a spy, a sleeper, a spook, a man of two faces. Perhaps not surprisingly, I am also a man of two minds, . . . able to see any issue from both sides).

“Tôi” trong “The Symphathizer” vào lúc Sài Gòn đang ở trong “tháng tư hấp hối” là một Đại úy quân lực VNCH. Điều mà anh ta gọi là khả năng “nhìn vào bất cứ vấn đề gì từ hai phía” vì anh hoạt động trong lĩnh vực tình báo của Hà Nội.

Điểm đặc biệt trong thời thơ ấu của anh cũng bắt đầu từ hai phía: anh có đến hai giòng máu vừa Á vừa Âu. Bố của anh là một giáo sĩ người Pháp và mẹ là một thôn nữ người Việt. Thế cho nên anh được gắn một cái tên không lấy gì làm đẹp đẽ cho lắm ngay từ hồi còn nhỏ: “Tây Lai” hay “Con hoang”! Trong nguyên bản tiếng Anh, tác giả dùng từ “bastard” và tiếng Pháp còn được gọi là “métis”. 

Đối với một kẻ nằm vùng như anh, tháng 4/1975 là giờ phút vinh quang đang đến gần nhưng đối với người miền Nam lại là cái tháng đầy biến động, hỗn mang và tàn nhẫn. Thực tế lịch sử trong những ngày cuối cùng, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã bỏ nước ra đi.

Trong truyện, viên trùm CIA tại tòa Đại sứ Mỹ kể lại với viên Đại úy “nằm vùng” rằng đích thân anh lái xe đưa Tổng thống ra phi trường để đi Đài Loan và “thấy những vali nặng nề một cách bất thường của tổng thống nghe rổn rảng tiếng kim loại – được coi như là một phần khá lớn của kho vàng quốc gia”. (… noticed how the president’s inordinately heavy suitcases clanked with something metallic – presumably a hefty share of our nation’s gold).

Khi viết chi tiết này, tác giả dựa vào tin đồn 16 tấn vàng của miền Nam đã được tẩu tán ra nước ngoài. Nhưng thực tế, sau này các viên chức của chính quyền mới đã khẳng định vàng vẫn còn ở trong nước và nhà nước đã chuyển sang Liên Xô … Một tiểu thuyết gián điệp dựa vào “hư-cấu-của-những-hư-cấu” sẽ khiến người đọc cảm thấy thú vị nhưng cũng khó chịu khi biết sự thật!

Cũng từ Chương 1, người đọc làm quen với 2 người bạn khác của viên Đại úy “nằm vùng”. Cả ba người bạn đã gắn bó với nhau theo kiểu “cắt máu ăn thề”, một tích rất xưa “Kết nghĩa vườn đào” của Lưu Bị-Quan Văn Trường-Trương Phi trong Tam quốc chí.

Vết tích của lời thề lúc nào cũng nhắc nhở họ qua vết sẹo trên lòng bàn tay phải của từng người. Tác giả còn ví họ như bộ ba “Les Trois Mousquetaires” trong tiểu thuyết của Alexandre Dumas thời 1844 tại Pháp… để nói lên mối liên lạc còn mật thiết hơn anh em ruột thịt.

Lớn tuổi nhất là Man. Trong nguyên bản tiếng Anh không dấu cho nên nếu dịch sang tiếng Việt, cái tên hay nhất chỉ cần thêm một dấu ngã để trở thành Mẫn. Mẫn có tác phong của người chỉ huy trong cái tổ theo tổ chức “tam tam chế” của Cộng sản. Chính Mẫn là người truyền đi những mệnh lệnh của cấp cao hơn cho kẻ nằm vùng hoạt động.

Kỳ thật, trong cái tổ đó, chỉ Mẫn và kẻ nằm vùng là những người hoạt động trong cái hệ thống bí mật còn người bạn thứ ba, Bon (có lẽ dịch sang tiếng Việt sẽ là Bốn), lại là một sĩ quan VNCH chống cộng triệt để!

Bốn căm thù Cộng sản kể từ khi cha anh bị đem ra đấu tố. Lòng hận thù đó đã khiến anh trở thành một người tình nguyện chiến đấu trong hàng ngũ quốc gia. Và đó cũng là cách tác giả dựng lên một cốt truyện gián điệp hư cấu với các tình tiết éo le.

Người mệnh danh “Ông Tướng” (the General) là vị chỉ huy Cảnh sát Quốc gia VNCH, một sĩ quan đã từng tham gia chiến trường từ thời Điện Biên Phủ. Một chi tiết nhỏ nhưng, theo tôi, lại là một điều nói lên tinh thần của một vị tướng VNCH.

Trên đường ra phi trường để “di tản” sang Mỹ, ông không quên ghé qua trụ sở Quốc hội, ngày nay là Nhà hát Thành phố. Tại đây, ông đứng nghiêm chào bức tượng hai người lính Thủy quân Lục chiến trong tư thế xung phong. Cử chỉ này đã khiến cho Đại úy “nằm vùng” và Bốn xúc động. Họ cũng đứng nghiêm chào bức tượng.

Khi đó, viên Đại úy quên hẳn nhiệm vụ “nằm vùng” của mình. Anh cảm động nhìn cảnh tượng qua con mắt của một sĩ quan quân lực miền Nam, dù đang âm thầm phục vụ cho miền Bắc. Đó chính là hai cuộc đời tương phản nhau qua hai vị trí thù nghịch trong nội tâm. Chi tiết hư cấu của câu chuyện khiến ta nhớ đến Trung tá Cảnh sát Nguyễn Văn Long đã dùng súng tự sát dưới chân bức tượng ngày 30/4/1975 khi Sài Gòn thất thủ.

Trung tá Nguyễn Văn Long tự sát dưới chân bức tượng Thủy quân Lục chiến ngày 30/4/1975

Ông Tướng đã từng thú nhận, ông chọn viên Đại úy sĩ quan tùy viên là căn cứ vào trình độ và, hơn thế nữa, “lòng trung thành” cả trong công việc lẫn cuộc sống hàng ngày. Viên Đại úy “nằm vùng” là người sĩ quan duy nhất được tin cậy đến độ sống ngay trong biệt thự của ông.

Anh tốt nghiệp đại học tại Hoa Kỳ, nói tiếng Anh lưu loát đến độ những người Mỹ cứ tưởng anh là dân Mỹ “thứ thiệt” khi nói chuyện qua điện thoại! Anh có trình độ hiểu biết về lối sống Mỹ, văn hóa Mỹ và cả đến cách suy nghĩ của người Mỹ.

Vì những đặc tính đó, mối liên lạc giữa Ông Tướng và người Mỹ luôn ở trong tình trạng tốt đẹp qua cầu nối của viên sĩ quan tùy viên. Claude, trùm CIA của Mỹ trong tòa Đại sứ, coi viên Đại úy như một người thân và chính sĩ quan tùy viên đã đứng ra dàn xếp, kể cả việc phải hối lộ, để gia đình và họ hàng của Ông Tướng được đến Hoa Kỳ bằng một chuyến phi cơ đặc biệt. Trong chuyến bay đó, dĩ nhiên có cả anh và Bốn trong khi Mẫn ở lại Sài Gòn.

Khi báo cáo với “tổ chức” Ông Tướng đã từng khẳng định với anh “sẽ trở lại Việt Nam” một ngày không xa, Mẫn đã truyền đạt lệnh từ trên xuống: anh phải theo dõi ông trong suốt thời gian sống tại Mỹ.

Viet Thanh Nguyen nhận “Giải thưởng Tiểu thuyết Đầu tay” của  “Center for Fiction First Novel Prize”, ngày 8/12/2015, với tác phẩm “The Sympathizer” (Ảnh: Center for Fiction)

Cốt truyện của Nguyễn Thanh Việt mang màu sắc gián điệp (kiểu Điệp viên James Bond 007 của Ian Flemings). Dù là “hư cấu” nhưng cuốn truyện lại được dựa trên chuyện có thật trong bối cảnh Việt Nam trước năm 1975. Đó là những nhân vật “nằm vùng” tại miền Nam phục vụ cho tình báo Hà Nội [5].

Đã có những nhân vật “nằm vùng” nổi tiếng trong chính phủ VNCH như Đại tá Phạm Ngọc Thảo, từng làm tới chức Tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre ngày nay) dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm. Tiểu thuyết “Ván Bài Lật Ngửa” của nhà văn Nguyễn Trương Thiên Lý (Trần Bạch Đằng) được mở đầu bằng câu: "Tưởng nhớ anh Chín T. và những người đã chiến đấu hy sinh thầm lặng". Nhân vật chính trong truyện, Nguyễn Thành Luân, chính là hình ảnh của Phạm Ngọc Thảo, bí danh Chín T. hay Chín Thảo. 

Nhân vật “nằm vùng” thứ hai là Phạm Xuân Ẩn là một Thiếu tướng tình báo của Hà Nội với bí danh Trần Văn Trung hay Hai Trung. Trong suốt thời gian chiến tranh, Phạm Xuân Ẩn sống tại Sài Gòn dưới vỏ bọc “ký giả” làm việc tại Việt Tấn Xã, cộng tác với hãng thông tấn Reuters và có nhiều bài viết trên tạp chí Time, New York Herald Tribune, The Christian Science Monitor... 

“Tôi” trong “The Sympathizer”những hoạt động hao hao giống Phạm Xuân Ẩn ngoài đời. Chỉ khác là nhân vật của Nguyễn Thanh Việt đã “di tản” sang Hoa Kỳ năm 1975 nhưng Phạm Xuân Ẩn, dù đã chuẩn bị đi, nhưng vào giờ chót nhận được chỉ thị đình hoãn.

Vợ con Phạm Xuân Ẩn đã rời Việt Nam theo chiến dịch di tản của người Mỹ và, theo một số tài liệu, Phạm Xuân Ẩn đã "đề nghị" cấp trên cho ngưng công tác vì lý do đã “hoàn thành nhiệm vụ”. Kế hoạch thay đổi, vợ con ông đã phải mất một năm để quay lại Việt Nam theo đường vòng: Paris - Moscow - Hà Nội - Sài Gòn.  

*** 

Từ Sài Gòn, người đọc theo chân viên Đại úy “nằm vùng” cùng dòng người di tản đến Hoa Kỳ. Ông Tướng vẫn bị theo dõi chặt chẽ, mọi hành động của ông đều được viên sĩ quan tùy viên thân cận báo cáo về Hà Nội vì họ tin rằng ông sẽ có những hoạt động “chống phá cách mạng”.

Quả đúng như nghi ngờ. Viên tướng đã tổ chức một lực lượng “phục quốc” tại Mỹ và lên đường trở về Việt Nam. Đến đây, truyện bước sang thể loại “tiểu thuyết gián điệp” (theo kiểu CIA - Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ). Mọi hoạt động của vị tướng được “kẻ nằm vùng” báo cáo đầy đủ từ Hoa Kỳ với những kỹ thuật tình báo như trong phim ảnh: các bản báo cáo được mã hóa, viết bằng mực “vô hình”…

Một lần nữa, “The Symphtizer” dù là một tiểu thuyết hư cấu nhưng có những nét bàng bạc của một chuyện thật! Ông Tướng trong chuyện khiến người ta liên tưởng đến Võ Đại Tôn, một nhân vật có thật trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại.

Ký giả người Úc, Norman Aisbett, gọi ông là “Ðại Tá Cô Ðơn”. Còn rất nhiều tên gọi Võ Đại Tôn, bí danh Wòng A Lìn và bút hiệu Hoàng Phong Linh. Đối với thi sĩ Nguyên Sa, ông là “Kinh Kha”, nhà văn Hư Trúc gọi ông là “Mặt Trời Không Bao Giờ Lặn”. Đối với người Việt tại Úc, ông là  “Chiến Sĩ” và tại Hoa Kỳ ông là “Người Tù Anh Hùng”. Trong khi bản thân ông tự coi mình là “Viên Gạch Lót Ðường” [6].

(Còn tiếp)

***

Chú thích:

[1] Viet Thanh Nguyen, người Mỹ gốc Việt, Nguyễn Thanh Việt, ngày 18/4/2016 đã được Giải thưởng Pulitzer công bố đoạt giải dành cho cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh, The Sympathizer, xuất bản năm 2015. Ban giám khảo Pulitzer ca ngợi cuốn tiểu thuyết là “câu chuyện nhiều tầng nấc về người nhập cư, được kể bằng giọng điệu giễu cợt, thú nhận của một ‘người đàn ông có hai tâm trí’ – và hai đất nước, Việt Nam và Mỹ”.

Gia đình ông bà Nguyễn Ngọc Thanh, chủ nhân tiệm vàng Kim Thịnh tại Ban Mê Thuột, rời Việt Nam năm 1975 và đặt chân đến Hoa Kỳ tại trại Fort Indiantown Gap, Pennsylvania, miền đông nước Mỹ. Năm 1978 họ di chuyển về San Jose, California, để mở một trong những cửa hàng đầu tiên của người Việt tại đây.

Tại San Jose, Việt theo học trường St. Patrick và Bellarmine. Sau cấp trung học anh tiếp tục việc học tại UC Riverside và UCLA, rồi UC Berkeley với bằng Tiến sĩ về Anh ngữ và Nghiên cứu về Dân tộc học. Ông là Phó Giáo sư tại Đại học Nam California (USC) từ năm 2003.

[2] Xem “Phóng viên chiến trường Nick Út và ‘cô bé napalm’ Kim Phúc”

[3] Pulitzer là một giải thưởng cao quý của Mỹ mang tên Joseph Pulitzer (1847-1911), chủ bút báo “New York World”, người đã để lại di chúc sẽ tặng thưởng cho các tác giả hoạt động trong 13 lãnh vực, gồm 4 giải cho báo chí, 4 cho văn học, 4 cho sân khấu và 1 cho giáo dục.

Trong số những giải thưởng trao tặng hàng năm, bắt đầu từ 1917, danh giá nhất là những giải về báo chí và văn học. Riêng về văn học, đã có những tác phẩm danh tiếng đoạt giải như “Cuốn theo chiều gió” (Gone with the Wind - tác giả Margaret Mitchell, được trao tặng năn 1937), “Chùm nho uất hận” (The Grapes of Wrath - John Steinbeck, 1940), “Lão ngư ông và biển cả” (The Old Man and the Sea - Ernest Hemingway, 1953) và gần đây nhất, “The Sympathizer” (Viet Thanh Nguyen, 2016).

Giải thường Pulitzer

[4] “I signed a contract with Nhã Nam a few months ago and the translation is underway. My contract includes a clause that if the government censors the novel, I can have the translation back. I would find another way to publish it. It's incredibly important to me that Vietnamese people read this novel, but only in its uncensored version. To remove the parts that might offend the government would make the novel meaningless”.

[5] Đọc “Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Những từ ngữ đã đi vào quá khứ”

[6] Võ Đại Tôn đã từng được biệt phái ngoại ngạch qua nhiều công tác dân sự tại miền Nam trước 1975 với chức vụ Phụ tá Tổng trưởng Bộ Thông tin và Giám đốc Công tác Bộ Chiêu hồi. Năm 1976 ông vượt biên, định cư tại Úc Châu, tháng 10/1981 ông trở về Việt Nam trong toán Kháng chiến Phục quốc” qua ngả đường rừng giữ TháiLào.

Ông bị Hà Nội bắt vào tháng 10/1981, tại biên giới Lào-Việt. Ngày 13/07/1982, Võ Đại Tôn được đưa ra trình diện trong một cuộc họp báo quốc tế tại Hà Nội. Tại đây, ông đã dõng dạc tuyên bố:

“Tôi, Võ Ðại Tôn, chỉ huy trưởng Chí Nguyện Ðoàn Phục Quốc, tôi xác nhận hoàn toàn chịu trách nhiện về dự mưu xâm nhập Việt Nam... Tôi xin các nhà báo vì lương tâm chức nghiệp của người cầm bút, xin hãy tường thuật trung thực…”

Sau đó, Võ Đại Tôn bị biệt giam tại trại tù Thanh Liệt (B-14). Nhờ sự can thiệp của quốc tế và chính phủ Úc, ngày 11/12/1991 ông được ra tù và trở về Úc châu.

***

(Trích Hồi ức một đời người – Chương 10: Thời xuống lỗ)

Hồi Ức Một Đời Người gồm 9 Chương:

  1. Chương 1: Thời thơ ấu (từ Hà Nội vào Đà Lạt)
  2. Chương 2: Thời niên thiếu (Đà Lạt và Ban Mê Thuột)
  3. Chương 3: Thời thanh niên (Sài Gòn)
  4. Chương 4: Thời quân ngũ (Sài Gòn – Giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội)
  5. Chương 5: Thời cải tạo (Trảng Lớn, Trảng Táo, Gia Huynh)
  6. Chương 6: Thời điêu linh (Sài Gòn, Đà Lạt)
  7. Chương 7: Thời mở lòng (những chuyện tình cảm)
  8. Chương 8: Thời mở cửa (Bước vào nghề báo, thập niên 80)
  9. Chương 9: Thời hội nhập (Bút ký những chuyến đi tới 15 quốc gia và lãnh thổ)

Tác giả còn dự tính viết tiếp một Chương cuối cùng sẽ mang tên… Thời xuống lỗ (thập niên 2000 cho đến ngày xuống lỗ)!


***

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

:) :( :)) :(( =))

Popular posts