Thứ Năm, ngày 12 tháng 5 năm 2016

Hồi ức viễn du: Khám phá Miền Bắc

Bùi Dương Chi

Được sự đồng ý của Giáo sư Bùi Dương Chi [1], chúng tôi post lại ký sự và hình ảnh những chuyến đi về Miền Bắc Việt Nam, đến 4 địa danh: Bắc Kạn (1995), Điện Biên Phủ (1996), Yên Tử (2001) và Cao Bằng (2002).

Tựa đề và phần chú thích của NNC.  

***


Bắc Kạn (thời điểm Tháng 1/1995)

Ở mạn Đông Bắc Việt Nam, Bắc Kạn có dân số ít nhất, chưa đến 300.000 người, và đứng hạng 55 trên 63 tỉnh trong lĩnh vực kinh tế  (http://www.vi.wikipedia.org). Nói khác đi, Bắc Kạn ở thời điểm 2016 đứng hạng nghèo thứ 8 kể từ cuối bảng trở lên. Nhờ có hồ Ba Bể và mấy cánh rừng nguyên sinh, Bắc Kạn đã thu hút được một số du khách nội địa.


Diana [2] chụp ảnh tôi ở một cánh rừng nguyên sinh trên đường vào hồ Ba Bể.


Hồ Ba Bể có nhiều hang động đá vôi và nhiều chỗ có bờ đá thiên nhiên rất ngoạn mục.
Hy vọng chính quyền địa phương có đủ lý trí không phá bờ kè trời cho để xây bờ kè xi-măng như ở khúc sông Lô chảy qua thành phố Hà Giang.


Ba Bể là hồ nước ngọt lớn nhất ở Việt Nam và được xếp hạng trong danh sách 100 hồ nước ngọt lớn nhất thế giới.

***

Điện Biên Phủ (thời điểm Tháng 5/1996)


Điện Biên Phủ là địa danh đánh dấu thời điểm chấm dứt chiến cuộc Việt-Pháp cũng như được coi là yếu tố chính đưa tới Hiệp Định Genève 1954.

Năm 1996 khi tôi đi thăm tỉnh Lai Châu và thị xã Lai Châu thì Điện Biên Phủ mới chỉ là một thị trấn. Sau 2001, Điện Biên Phủ và một số vùng phụ cận được gom lại thành tỉnh Điện Biên Phủ với thủ phủ là thành phố Điên Biên Phủ. Đối với tôi, đây là một địa danh lịch sử không những khó quên mà còn là một lưu niệm cảm kích qua hai ‘câu chuyện giữa đường’ mà tôi tường thuật trong bài du ký “Ông lính già và bà bán rau”.  Chuyện “bà bán rau” tôi đã kể sơ qua trong bài “Hà Giang Phần 1”. Chuyện “ông lính già” tôi sẽ kể vắn tắt trong phần phụ đề hình ảnh dưới đây. 

Phong cảnh trên đường từ Sơn La tới Điện Biên Phủ.

Dân vùng này trồng rất nhiều xu xu trên những giàn tre cao để có thể đứng thẳng phía dưới hái quả. Có những giàn nhiều nhà kết nối, vòng vèo uốn lượn theo các triền đồi, dài tới hai, ba cây số.

Sông Mã gồm 102 km thuộc Lào và khoảng 410km thuộc VN. Sông chảy qua Thanh Hoá rồi đổ ra Biển Đông.

Nhiều nơi nông dân xếp đá cục dẫn nước quay guồng giã gạo suốt ngày. Nhờ kinh nghiệm bản thân và của cha ông  truyền lại, họ có thể tiên đoán thời tiết khá chính xác để tránh mưa làm ướt thóc gạo; để kê lại những viên đá cục làm tăng hay giảm lượng nước quay guồng; và nhất là để tháo gỡ toàn bộ “máy giã gạo”, rất xứng đáng được thưởng huy chương bảo vệ môi trường hạng danh dự nếu có lũ quét (flash flood).

Cánh đồng Mường Thanh nơi lính nhẩy dù Pháp mở chiến dịch chiếm đóng Điện Biên Phủ. Vệt mầu trắng phía trái là đường bay.

Ông lính già tên Tài, 67 tuổi và thầy giáo tên Chi, 57 tuổi. (Thời điểm Tháng 5/1996)

Đang tìm đường đi xem các khu di tích trên sơ đồ, tôi nghe tiếng trách cứ ban quản lý vô tâm. Ngoái nhìn, tôi thấy 2 người cao tuổi đang đòi bảo vệ mở cổng. Bảo vệ nhất định có vé thì mới được vào. Tôi bước đến hỏi chuyện. Người trông già hơn nói xưa kia ông đánh trận ở đây. Ngót 50 năm rồi con cháu mới có tiền biếu hai anh em đi gần hai ngày đường để thăm chiến trường cũ mà phải mua vé thì có ức không. Tôi nháy mắt ghé tai bảo bảo vệ để họ vào, tôi trả tiền. 

Chung bước một quãng, tôi hỏi chuyện thì ông anh giải thích gia đình chỉ có hai giai nên chú em được miễn nghĩa vụ quân sự. Khi đấy ông mới 18. Tập tành gần một tháng là lên đường.

Cái cứ điểm A1 này (tên tiếng Tây là Eliane 2), ông không sao quên được. Đại pháo, súng cối, bộc phá, đại liên, trung liên, súng trường, lựu đạn nổ inh tai nhức óc. Mình chiếm được thì nó phản công. Nó lấy lại thì mình phản kích. Hai bên chết như rạ. Sau nghĩ lại cũng thương tụi nó, xa bố mẹ vợ con, tan xương nát thịt, chả biết có mang được xác về quê hương khói hay không. 

“Tình thương nhân thế bao la,
Yêu người năm trước khiến cho ta giận hờn.”
(“Xuân Thì”. Phạm Duy)


“Và thương cây súng cô đơn,
Hoa đào đã xóa vết mòn bao chiến xa.”
(“Xuân Thì”. Phạm Duy)


“Đường đi êm quá,
Có phải giấc mơ đã thành tiếng thơ?”
(“Xuân Thì”. Phạm Duy)


***

Yên Tử (thời điểm Tháng 1/2001)


Yên Tử là địa phương nổi tiếng thuộc tỉnh Quảng Ninh ở Đông Bắc VN nhờ di sản văn hoá tôn giáo Thiền Viện Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông khởi sự thành lập từ năm 1299.


Tháng Giêng Tây khi tôi viếng thăm quần thể  đền, chùa và bảo tháp, thời tiết ở chân núi khá ấm áp nhưng trèo tới đỉnh Phù Vân khoảng giữa trưa thì trời vẫn còn mờ sương. Tôi lên xuống mất cỡ 4 tiếng, chưa tính giờ nghỉ mệt và chiêm ngưỡng cảnh quan. Bà lão bán măng trúc ở bãi đậu xe khen tôi “Có tuổi mà còn đủ sức lên xuống trong một ngày là khỏe lắm đấy!”.  

Đường vào Thiền Viện Trúc Lâm.

Quanh Yên Tử có rừng trúc nên thiền phái lấy tên là “Trúc Lâm” chăng? 
Rừng trúc đang bị tàn phá vì cư dân hái măng và chặt cây làm gậy
lên xuống núi để bán cho khách thập phương.


“Đền Trình”. Theo tập tục, nhiều chùa có “Đền Trình” để tín hữu trình báo 
Thổ Thần hay Hộ Pháp trước khi viếng thăm, thờ cúng.


Vì các bậc đá cao thấp và có bề sâu khác nhau nên lên xuống khó và mệt hơn thường lệ. Khách mang nhiều đồ cúng và vật dụng cá nhân để ngủ sạp (nhà tranh tập thể, sàn bằng nan tre) thường phải thuê dân địa phương gồng gánh. Người khỏe một ngày có thể lên xuống 4 lần, tiền công cao hơn lương kỹ sư lục lộ (công chánh).

Một cụ bà khuyên tôi đừng nhìn lên, nhìn xuống chân, vừa tránh vấp ngã, vừa đỡ nóng lòng. Cứ thanh thản mà đi, lúc nào tới thì tới. Thiền hành Trúc Lâm chăng?  

Bảo tháp (chỗ để tro cốt của các thầy trụ trì) ở chùa Hoa Yên.

Đường lên chùa trên. Bây giờ đã có cáp treo từ chân núi lên tới đỉnh

Chùa Một Mái nép bên sườn núi. 
Quanh chùa có nhiều chanh và bưởi, hoa nở trắng xóa, hương thiền ngào ngạt.

Đường Tùng. Nghe nói các cây tùng đều hơn 700 tuổi và do những người hầu cận vua Trần Nhân Tông trồng.

Chùa Bảo Sái, nơi có chép lại mấy bài kệ ghi là của nhà vua (?). 
Quanh chùa có rất nhiều bụi dương sỉ. Phong cảnh rất đẹp.

Đoạn đường khó lên xuống nhất và rất nguy hiểm vì hẹp,
đá tảng lổn nhổn và khe núi gần như thẳng đứng.

Chùa Đồng.

Cụ từ (người giữ chùa) bảo tôi chùa nguyên thủy làm bằng đồng nhưng thời cách mạng bị trưng dụng để lấy kim loại (?). Chùa trong hình làm bằng gạch, gỗ và vữa.

Từ khi có cáp treo, “Chùa Đồng” được “tân tạo” rất “hoành tráng”. Suối “Giải Oan” cũng vậy và số cung phi trầm mình vì vua Trần Nhân Tông xuống tóc đi tu đã được tăng thành 100 người cho thêm “linh thiêng”. Ai bị hàm oan cứ đến khấn vái là được giải oan. Dần dà, để khuyến dụ du khách, những tay có máu làm ăn quảng bá thêm rằng cứ “thành tâm cúng dường” là cầu gì được nấy.

Khách thập phương đổ về nườm nượp. Mấy nhà sử học ở Viện Hán Nôm phải cải chính chẳng có chứng cứ gì về vụ cung phi tự vẫn cả, ấy là chưa kể vua Trần Nhân Tông có tâm Bồ Đề thì không lẽ ngài “nuôi” cả trăm cung phi rồi còn để họ tự vẫn sao? 

TB: Tôi ham ngắm cảnh và bị nhờ bấm máy nên quên chụp ảnh chùa Vân Tiêu và An Kỳ Sinh.          

***

Cao Bằng (thời điểm Tháng 3/2002)


Tỉnh Cao Bằng - thủ phủ là thành phố Cao Bằng - Bắc và Đông giáp TQ; Nam giáp Bắc Kạn và Lạng Sơn; Tây giáp Hà Giang. Dân số khoảng 520.000 người với 90% diện tích toàn tỉnh là rừng rậm và núi đồi trùng điệp [vi.wikipedia]. Chắc vì vậy mà trước kia mới có câu đồng dao:   



Nàng về nuôi cái (= cha mẹ) cùng con, 
 Để anh xuôi chẩy (= đi kiếm ăn) nước non Cao Bằng”. 

Cũng như ở tỉnh Hà Giang và một vài nơi khác, dù dân số chỉ vào khoảng 500.000 
nhưng các công sở rất to và “hoành tráng” hơn ở cấp quận của thủ đô Washington DC.
Trong Bưu Điện, tôi thấy nhân viên đông hơn dân chúng vào dùng dịch vụ bưu chính.


Cầu Bằng Giang trên sông Bằng Giang đi vào thị xã.

Khu công sở.




Đang chụp ảnh ở khu công sở thì một cậu xe thồ (xe ôm) mời đi xe. Tôi lắc đầu cảm ơn. Nó nói, cháu đưa chú đến phố Hiến Giang nhưng dân gọi là phố “Tham Nhũng” chụp ảnh mới đáng đồng tiền bát gạo.


Tôi siêu lòng. Sau khi ngã giá, trả tiền trước, nó dặn, thả chú xuống là cháu biến ngay. Tới nơi, chờ nó khuất bóng, tôi vừa đưa máy lên nhắm thì một ông áp sát lưng, sẵng giọng “Anh chụp làm gì?”. Tôi trả lời là tôi đã đi nhiều nước tư bản nhưng không đâu có kiến trúc tân kỳ như thế này. Chụp để khi có dịp tôi sẽ cho bọn tư bản thấy tận mắt Cao Bằng mình hơn xa chúng nó. Ông ta dịu giọng bảo tôi thế thì bác phải chụp cho thật rõ vào.


Nhà quan.

Nhà dân

Trên đèo Ngân Sơn. Phùng thị Lê, Phùng thị Lân, Triệu thị Dư, sắc tộc Dao,
học sinh lớp 7, nhà ở xóm Bản Đăm, xã Đức Vân, Huyện Ngân Sơn.
Tôi ghi tên, địa chỉ và gửi ảnh cho các cháu như đã hứa
khi các cháu đồng ý cho tôi chụp.


“Trường chúng cháu ở dưới đấy”. 
Theo wikipedia, thành phần cư dân ở Cao Bằng gồm người Việt gốc Tày 41%,
Nùng 31%, Dao 10%, H’Mong 10%, Kinh 6%, vài sắc dân khác 2%.


Phần thác Bản Giốc của Việt Nam. 
Ảnh này tôi mua ở một quán nuớc gần thác. Ảnh không ghi người chụp, không phụ đề.
Bà bán quán nói chụp từ phía Trung Quốc và trước kia phần của Việt Nam to hơn.


Phần thác của Trung Quốc.  
Theo vi.wikipedia thì phía Trung Quốc rất nhộn nhịp, mỗi năm có gần một triệu du khách. Khi tôi đến thăm phía Việt Nam, tôi không thấy khách sạn hay nhà hàng nào ngoài mấy quán ăn uống bình dân.

Toàn cảnh thác Bản Giốc.
Tôi tham khảo [en.wikipedia] và [Google Search] thì thấy Trung Quốc đưa ra các dẫn chứng qua các văn bản ký kết ấn định ranh giới giữa nhà Thanh và chính quyền Pháp.
Tôi không thấy văn bản ấn định phần thác của Việt Nam trước khi bị Pháp đô hộ.

***

Chú thích:

[1] Giáo sư Bùi Dương Chi dậy môn Anh văn tại trường Trung học Ban Mê Thuột, từ năm 1963 đến 1974. Ông là con của nhà văn Thụy An (Lưu Thị Yến), người phụ nữ duy nhất có liên quan đến vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm tại Hà Nội. Trước khi chọn ngành sư phạm, ông đã có 2 năm làm việc cho Cơ quan Chí nguyện Quốc tế (International Volunteer Service – IVS).

GS Bùi Dương Chi đi du học Hoa Kỳ tháng 9/1974, tốt nghiệp Cao Học về Giáo dục tại Boston, Massachusetts. Từ năm 1992-1995 và 1998-1999 ông là giáo sư hướng dẫn Chương trình Học kỳ Hải ngoại (College Semester Abroad) của School for International Training ở bang Vermont dành cho sinh viên muốn theo học một học kỳ ở Việt Nam.      

[2] Diana là tên phu nhân của GS Bùi Dương Chi. Cô người Mỹ và cũng là một cựu thành viên của IVS, hai người lập gia đình tại Ban Mê Thuột năm 1973. Vợ chồng GS Chi hiện sống tại thủ đô Washington D.C.


********

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

:) :( :)) :(( =))

Popular posts