Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2013

Chóe & chân dung

Sau bài viết Xem lại những hí họa của Chóe (http://chinhhoiuc.blogspot.com/2013/10/xem-lai-nhung-hi-hoa-cua-choe.html) tôi vẫn cảm thấy chưa viết được hết về người họa sĩ tài hoa Nguyễn Hải Chí… hình như còn thiếu một lãnh vực quan trọng trong sự nghiệp cầm cọ của ông. Đó là hí họa chân dung gồm hai mảng “tự họa” và chân dung các nhân vật của Việt Nam lẫn quốc tế.

Trước hết, chúng ta hãy xem lại những bức tranh tự họa của Chóe. Đáng chú ý nhất là bức tự họa chỉ với hai màu trắng đen với một ổ khóa to nơi miệng trong tư thế hai tay bắt chéo giữ lấy hai bàn chân. Hình như tác giả muốn nói ý “khóa miệng, trói chân”? Đặc biệt hơn nữa, ổ khóa được tô màu làm nổi bật trên nền đen trắng và cặp mắt là hai chiếc bánh xe đạp…

Đó là hình tượng Chóe bị “khóa miệng” trong 12 năm cải tạo và nhà văn Trần Dạ Từ (tức Lê Hạ Vĩnh, phu quân của nhà văn Nhã Ca), đã chọn làm hình bìa cuốn sách mang tựa đề Writers and Artists in Vietnamese Gulag (1) do nhà xuất bản Century phát hành tại Hoa Kỳ tháng 1/1990.

Hình bìa cuốn sách của Trần Dạ Từ

Trong bức chân dung tự họa năm 1973, Chóe dùng hình tượng một con bọ cạp với cái đuôi châm chích để nói lên tính chất công việc của mình. Khuôn mặt của bọ cạp vẫn là Chóe nhưng ở cặp chân ta thấy là của một anh cao bồi Mỹ, mang đôi bốt có gắn thêm đinh thúc ngựa.

Đôi giày bốt của Chóe ôm lấy một biểu tượng hình tròn trên có dòng chữ “Yippee!" viết ngược, mới thoạt nhìn cứ tưởng là tiếng Nga! Trong tiếng Anh, Yippee là sự sảng khoái, vui vẻ… Hình như Chóe muốn tự giới thiệu mình là người chuyên vẽ những bức tranh châm chọc chỉ nhằm mục đích vui đùa, không hại một ai?

Chân dung tự họa (1973)

Ở một bức chân dung tự họa khác không ghi ngày vẽ, chúng ta thấy Chóe ôm ấp một trái tim thật lớn. Nếu trái tim tượng trưng cho sự yêu thương thì chắc họa sĩ muốn nói tuy là hí họa nhưng những tác phẩm của ông được vẽ ra với tất cả tấm lòng hay nói khác đi là cái “tâm” của người nghệ sĩ.

Có điều, nếu nhìn kỹ, ta thấy đầu và chân của Chóe quay về phía trước còn thân mình và hai tay ôm quả tim lại hướng về phía sau. Ẩn ý gì đây? Tôi nghĩ, phải chăng Chóe muốn mọi người thấy được hai mặt của vấn đề, hay nói khác đi, “thấy vậy” nhưng “không phải vậy”…

Chân dung tự họa không đề rõ năm vẽ

Trong một bức chân dung tự họa khác vẽ trước năm 1975 nhưng không còn tìm ra bản gốc trên báo Sóng Thần của Chu Tử, Chóe bị còng hai tay bên cạnh một người đàn bà trần truồng với những lời ghi “tự họa sau khi vi phạm điều 35”. Chính quyền thời đó đã lên án bức hí họa phạm vào tội “đồi trụy”.

Rất dễ để tìm hiểu nguyên nhân tại sao Trung sĩ Chóe trong quân lực VNCH lại bị giam giữ tại An ninh Quân đội (số 8 Nguyễn Bỉnh Khiêm), 3 tháng trước biến cố 30/4/1975. Lý do thật đơn giản: ông châm chích không từ một ai.

Các chính khách đương quyền trong cũng như ngoài nước đều nằm trong “tầm ngắm” của Chóe và dĩ nhiên những bức tranh châm biến đó không được các “nạn nhân” là người có chức, có quyền ưa thích. Một trong những tội danh của Chóe là… “vẽ dị  dạng nhân vật quan trọng trong chính phủ”!

Ngay cả đến Bộ ngoại giao Hoa Kỳ cũng không tán thành việc xuất bản cuốn The World of Choé trên đất Mỹ cho dù năm 1973, tuần báo New York Times bình chọn Chóe là một trong 8 họa sĩ biếm họa xuất sắc thế giới của thập niên 1970.

Dưới mắt Chóe, Tổng thống Richard Nixon là một thuyền trưởng bị ra tòa với cán cân công lý bằng chính đôi tay giăng ngang của mình. Trên hai đĩa cân ta thấy một bên là vụ Watergate còn phía bên kia là chiến dịch đánh bom miền Bắc trước lễ Giáng sinh 1972. Cán cân nghiêng về phía bom đạn vì còn có anh VC “giật dây” cho thêm nặng ký!

Chân dung Tổng thống Nixon và cán cân công lý

Chóe tiết lộ một trong những thủ thuật ông hay dùng khi vẽ chân dung là cố tìm nét đặc biệt của người được vẽ. Chẳng hạn như Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ có đôi mắt “ốc nhồi”, tính tình thì “hung hăng con bọ xít” nên chân dung của ông mang hình ảnh… con gà chọi. Còn Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu có cái cằm nhẵn thín khiến Chóe liên tưởng đến chiếc hàm ếch... thế là ông vẽ nhân vật qua cách nhìn đó.

Chóe tâm sự: “Khi tôi vẽ con ếch mồm trễ ra, cầm cần câu là Nguyễn Văn Thiệu, vẽ con rùa đeo kính chắp tay sau đít, người ta kêu ầm lên là con rùa hành chánh Trần Thiện Khiêm… Người ta xem thấy ngộ nghĩnh bật cười, còn tôi  bị  tai nạn nghề nghiệp nhưng vẫn vui vẻ đón nhận rủi ro”.

Phạm Văn Đồng của VNDCCH cũng không nằm “ngoài tầm ngắm” của Chóe. Chân dung của ông Thủ tướng được phác họa qua những nét đặc trưng như cặp môi dầy và tóc chải ngược. Trong hí họa Phạm Văn Đồng đi xin viện trợ còn được vẽ với một chiếc nạng bằng súng AK và trên tay là chiếc nón cối, chân đi dép râu. Đúng là hình ảnh của… “cái bang”.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng… đi xin viện trợ

Năm 1973, tạp chí Văn ra số đặc biệt về 5 nhà văn nữ nổi tiếng tại miền Nam, Chóe góp mặt trong giai phẩm này với phần phụ bản chân dung Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ và Trùng Dương.

Ngay từ trang 3 của Giai phẩm đã xuất hiện chân dung của Nguyễn Thị Hoàng đi kèm với bài giới thiệu Đi xa với Nguyễn Thị Hoàng. Chóe vẽ một người phụ nữ với tẩu thuốc lá trên môi và trên đó treo lơ lửng một quả chuông. Hình ảnh được lấy từ ý của tác phẩm Tiếng chuông gọi người tình trở về của Nguyễn Thị Hoàng.

Đọc Nhà văn nữ trước 1975: Nguyễn Thị Hoàng tại

Chân dung Nguyễn Thị Hoàng

Trang 23 là chân dung của Nguyễn Thị Thụy Vũ đi kèm với bài viết của Du Tử Lê, Nói chuyện với Thụy Vũ. Nhà văn bưng một cây đèn cầy qua ý tưởng của Thụy Vũ trong truyện Thắp một ngọn đèn cho tôi.

Đọc bài viết Nhà văn nữ trước 1975: Nguyễn Thị Thụy Vũ tại
  
Chân dung Nguyễn Thị Thụy Vũ

Chân dung Trùng Dương xuất hiện trên trang 31, đi kèm với bài Trùng Dương và Tác phẩm của Uyên Thao. Ta thấy một nhà văn nữ tướng tá ngổ ngáo như con trai, tóc cắt ngắn demi-garcon, mặc áo sơ mi, mang cặp kính cận. Đặc biệt hơn cả, Trùng Dương phì phèo điếu thuốc ngậm lệch trên môi.

Trong giai phẩm này, Trùng Dương góp tiếng bằng bài viết Mặt trời tháng tư, nhưng đó là năm 1973 chứ không phải là năm 1975. Xem bài viết Nhà văn nữ trước 1975: Trùng Dương tại

Chân dung Trùng Dương

Chân dung Nhã Ca là một thiếu phụ trên đầu vấn khăn tang sau Tết Mậu Thân năm 1968. Nhã Ca gọi Giải khăn sô cho Huế là một… “bút ký chạy loạn” nhưng lại đoạt Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Quốc gia năm 1970.

Xem bài viết Nhà văn nữ trước 1975: Nhã Ca tại

Chân dung Nhã Ca

Ở trang 55 là chân dung của Túy Hồng với hình ảnh một người phụ nữ ôm đàn, hai con mắt mở lớn và cặp môi dày đang cất tiếng hát. Đàn không phải là tây ban cầm (guitar) mà là một chiếc đàn cổ nhạc, cần đàn lại là một cây bút. Túy Hồng có truyện ngắn Chiếc gối của người tình đăng trong giai phẩm Văn.

Đọc Nhà văn nữ trước 1975: Túy Hồng tại

Chân dung Túy Hồng

Sau ngày Sài Gòn đổi tên, người ta thấy xuất hiện một cuốn sách mang tên Biệt Kích Văn Hoá, tổng hợp các bài viết của các tác giả chế độ mới như Trần Văn Giàu, Lữ Phương, Vũ Hạnh... Họ viết về 10 nhà văn “phản động” tại miền Nam gồm Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn, Nhất Hạnh, Doãn Quốc Sỹ, Võ Phiến... trong đó có Nhã Ca, nhà văn nữ được xếp hạng thứ 6.

Một sự tình cờ ngẫu nhiên và cũng là… “may mắn”, Chóe có mặt trong số những “cải tạo viên phản động” vào năm 1977. Đây cũng là cơ hội hiếm có để ông có được bộ sưu tập chân dung văn nghệ sĩ miền Nam. Năm 1987 những chân dung này được chuyển ra nước ngoài khi nhà thơ Trần Dạ Từ và Nhã Ca rời Việt Nam do sự can thiệp của hội Văn Bút Quốc tế phối hợp với hội Ân xá Quốc tế và thủ tướng Thuỵ Điển Ingvar Carlsson.

Nhà thơ Trần Dạ Từ (2) được Chóe phác họa ôm cây đàn guitar nhưng cần đàn lại là một cái cuốc, một vật tượng trưng cho châm ngôn “lao động là vinh quang” thường được các “quản giáo” đề cập đến trong những buổi “học tập chính trị”.

Chân dung nhà thơ Trần Dạ Từ

Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn (3) vốn nghiện thuốc lá, thuốc phiện nhưng trong trại cải tạo phải chuyển sang thuốc lào, thường được ca tụng là loại thuốc… “thơm mồm, bổ phổi, diệt trùng lao”. Chân dung có một chi tiết khá mỉa mai: ông Côn đã dùng sách vở làm đóm để đốt thuốc.

Anh em bạn tù còn gọi Nguyễn Mạnh Côn là “Khô Vinh Đại Sư”, tên một nhân vật tiểu thuyết của Kim Dung. Sở dĩ có biệt danh này vì ông vốn gầy gò, người nhỏ thó, xương xẩu giống hệt một nhà tu khổ hạnh. Nguyễn Mạnh Côn chết trong trại Xuyên Mộc.

Xem thêm bài viết của Lê Thanh Sơn: Nguyễn Mạnh Côn: Tranh đấu và chết trong tù tại

Chân dung nhà văn Nguyễn Mạnh Côn

Chân dung nhà văn Doãn Quốc Sỹ (4) là một ông già khắc khổ, hai tay bưng chồng gạch ngói trong trại tù Gia Trung. Doãn Quốc Sỹ là người có tổng cộng 14 năm “thâm niên cải tạo” trước khi được định cư tại Houston, Texas, năm 1995.
  
Chân dung nhà văn Doãn Quốc Sỹ

Nhà văn Mai Thảo được Chóe vẽ đang ngồi trên xe xích lô đạp. Cyclo là phương tiện giao thông duy nhất của Mai Thảo ở Sài Gòn trước 1975. Sau 2 năm lẩn trốn sự truy nã gắt gao của chính quyền mới, ông vượt biên thành công và sang Mỹ năm 1978, qua đời ở quận Cam năm 1998. 

Chân dung nhà văn Mai Thảo

Tháng 12/1992, một cuộc triển lãm mang tên Những nhân vật của Chóe tạo một bất ngờ lý thú đối với những người yêu thích hội họa. 35 nhân vật nổi tiếng của Việt Nam và thế giới đã xuất hiện trong cuộc triển lãm, trong đó phải kể tới Khổng Tử, Sartre, Dostoievsky, Thành Cát Tư Hãn, Nobel…

Chóe còn cho ra đời hàng loạt  các bộ tranh khác như Những tổng thống Mỹ (gồm 41 tranh sơn dầu), Những nhân vật Việt Nam (57 tranh), Họa thơ Hồ Xuân Hương (40 tranh) và Những phụ nữ đoạt giải Nobel (27 tranh).

Nhân ngày giỗ 3 năm của họa sĩ Chóe, phòng tranh Tự Do cùng với gia đình cố họa sĩ đã tổ chức triển lãm bộ tranh Chân dung văn nghệ sĩ. Người xem có thể bắt gặp những khuôn mặt ngộ nghĩnh và ấn tượng của những nhân vật nổi tiếng từ quá khứ đến hiện tại: Nguyễn Đình Chiểu, Sương Nguyệt Anh, Hồ Biểu Chánh, Vũ Trọng Phụng, Nhất Linh, Út Trà Ôn, Phạm Duy, Bùi Giáng, Sơn Nam, Trà Giang, Lý Lan...

Chóe cho biết: “Điều thú vị là khi vẽ chân dung các nhân vật, tôi đưa được thủ pháp hí họa vào tranh sơn dầu. Tôi vẽ rất nhanh, nhưng việc tìm hiểu tính cách mỗi nhân vật và phương cách thể hiện có khi lại rất lâu".

Bộ tranh Chân dung văn nghệ sĩ bắt đầu được vẽ từ năm 2000 và dừng lại ở con số 28 bức năm 2001. Đó là năm ông phải tạm ngừng sáng tác vì bệnh tiểu đường. Mọi người đều tin rằng ông sẽ mau chóng bình phục để tiếp tục công trình còn dang dở của mình nhưng bệnh tình ông ngày càng trầm trọng. Họa sĩ Chóe lại bị thêm biến chứng… mù màu. Năm 2003 ông được gia đình và bạn hữu đưa sang Mỹ chữa bệnh nhưng chưa kịp điều trị thì qua đời tại Mỹ.

Một số tác phẩm của Chóe triển lãm tại Phòng tranh Tự Do

***

Chú thích:

(1) Gulag: Trại cải tạo lao động của Liên Xô, tiếng Nga gọi là ГУЛаг, dưới thời Joseph Stalin từ năm 1934 đến 1953. Việc sử dụng cụm từ "Gulag" ban đầu thường biểu thị hệ thống lao động cải tạo trừng phạt ở Liên Xô, sau đó gulag mang nghĩa sự trấn áp những công dân bất đồng chính kiến bằng giam giữ cộng với lao động khổ sai.

Nhà văn người Nga, Aleksandr Solzhenitsyn, người đoạt Giải Nobel Văn học năm 1970, đã giới thiệu thuật ngữ này cho thế giới phương Tây với việc xuất bản năm 1973 tác phẩm Quần đảo Gulag của mình. Cuốn sách kết nối các trại rải rác thành "một chuỗi các hòn đảo" và mô tả một hệ thống Gulag, nơi mọi người đã làm việc cho đến chết.

Hơn 14 triệu người đã từng phải trải qua Gulag 1929-1953, với thêm 6 đến 7 triệu bị trục xuất và bị lưu đày đến vùng sâu vùng xa của Liên Xô. Theo một nghiên cứu không đầy đủ dữ liệu năm 1993 từ lưu trữ của Liên Xô, tổng cộng 1.053.829 người đã chết trong các Gulag 1934-1953. Tổng số tù nhân của các trại dao động từ 510.307 (năm 1934) đến 1.727.970 (năm 1953).

(2) Trần Dạ Từ: thi sĩ, nhà báo. Tên thật là Lê Hà Vĩnh, chồng nữ sĩ Nhã Ca. Sinh năm 1940 tại Hải Dương. Di cư vào Nam năm 1954, đầu thập niên 1960 cộng tác với Nguyên Sa làm tờ Gió Mới. Sau 1975 bị đưa đi cải tạo nhiều năm. Nhờ sự bảo trợ đặc biệt của chính phủ Thụy Ðiển, đã cùng với gia đình sang Thụy Điển sinh sống năm 1988, đến năm 1992 sang quận Cam, Hoa Kỳ. Cùng với Nhã Ca, ông xuất bản tờ Việt Báo.

(3) Nguyễn Mạnh Côn (1920 – 1979) gốc người Hải Dương, nhưng cư ngụ ở Hà Nội. Năm 1939, ông cộng tác với báo Đông Pháp, và sau đó là báo Thống nhất. Năm 1954, ông di cư vào Nam làm việc ở Đài phát thanh Sài Gòn. Sau đó, ông còn viết sách và làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút báo Chỉ đạo (1956-1961), Chủ bút báo Văn Hữu, đồng thời cộng tác với các báo, như Tia sáng, Tin mai...

Sau 30/4/1975, Nguyễn Mạnh Côn bị chính quyền mới bắt đi học tập cải tạo, và mất ngày 1/6/1979 khi còn ở trong trại (theo website Văn Chương Việt).

Tác phẩm chính:

·         Việt Minh, Ngươi Đi Đâu? (1957)
·         Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử (1958), giải thưởng Văn học Toàn quốc của Tổng Thống Ngô Đình Diệm
·         Kỳ Hoa Tử (1960)
·         Truyện Ba Người Lính Nhảy Dù Lâm Nạn (1960)
·         Lạc Đường Vào Lịch Sử (1965)
·         Con Yêu Con Ghét (1966)
·         Mối Tình Màu Hoa Đào (1967)
·         Giấc Mơ Của Đá (1968)
·         Tình Cao Thượng (1968)
·         Đường Nào Lên Thiên Thai? (1969)
·         Hòa Bình... Nghĩ Gì... Làm Gì? (1969)
·         Sống Bằng Sự Nghiệp (1969)
·         Yêu Anh Vượt Chết (1969)

(4) Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông. Năm 1954, di cư vào Nam và sống ở Sài Gòn nơi ông thành lập nhà xuất bản Sáng Tạo cùng với Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên và những người khác, đồng thời cho ra đời tạp chí văn chương cùng tên có nhiều ảnh hưởng.

Ông còn là nhà giáo, dạy học tại các trường trung học công lập như Nguyễn Khuyến (Nam Định, 1951-1952), Chu Văn An (Hà Nội, 1952-1953), Trần Lục (Sài Gòn, 1953-1960). Làm hiệu trưởng trường Trung học Công lập Hà Tiên (1960-1961), giáo sư trường Trung học Hồ Ngọc Cẩn (1961-1962), giáo sư trường Đại học Sư Phạm Sài Gòn, Đại học Văn Khoa Sài Gòn năm 1962 đến giữa thập niên 1960. Ông du học tại Hoa Kỳ về ngành giáo dục và rồi trở về nước tiếp tục công việc giảng dạy cho đến năm 1975.

Tác phẩm:

·         Sợ Lửa (1956)
·         U Hoài (1957)
·         Gánh Xiếc (1958)
·         Gìn Vàng Giữ Ngọc
·         Dòng Sông Ðịnh Mệnh (1959)
·         Hồ Thuỳ Dương (1960)
·         Trái Cây Ðau Khổ (1963)
·         Người Việt Ðáng Yêu (1965)
·         Cánh Tay Nối Dài (1966)
·         Ðốt Biên Giới (1966)
·         Sầu Mây (1970)
·         Vào Thiền (1970)
·         Khu Rừng Lau
·         Người Vái Tứ Phương
·         Dấu Chân Cát Xóa
·         Mình Lại Soi Mình

(5) Mai Thảo (1927-1998), tên thật: Nguyễn Đăng Quý, bút hiệu khác: Nguyễn Đăng. Thuở nhỏ, Mai Thảo học tiểu học ở trường làng, học trung học ở Nam Định rồi lên Hà Nội tiếp tục học ở trường Đỗ Hữu Vị (sau đổi tên là trường Chu Văn An). Năm 1954, ông di cư vào Nam, gia nhập làng báo. Ông viết truyện ngắn trên các báo Dân Chủ, Lửa Việt, Người Việt...

Năm 1956, ông chủ trương báo Sáng tạo, gây được tiếng vang. Năm 1956, ông chủ trương báo Nghệ Thuật, và từ 1974, ông trông nom tạp chí Văn. Ngoài ra, ông còn tham gia chương trình văn học nghệ thuật của Đài phát thanh Sài Gòn từ 1960 đến 1975.

Năm 1977, Mai Thảo vượt biên, sau nhiều ngày đêm trên biển, thuyền tới Pulau Besar, Mã Lai. Đầu năm 1978, được người em bảo lãnh sang Hoa Kỳ. Ít lâu sau, ông cộng tác với tờ Đất Mới của Thanh Nam và một số báo khác tại hải ngoại. Tháng 7/1982, ông tái bản tạp chí Văn, làm Chủ biên đến 1996. Nhà văn Mai Thảo mất tại Santa Ana, California, ngày 10/1/1998.

Tác phẩm:

·         Đêm giã từ Hà Nội (Người Việt, 1955)
·         Tháng giêng cỏ non (1956)
·         Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời (Sáng Tạo, 1963)
·         Bày thỏ ngày sinh nhật (Nguyễn Đình Vượng, 1965)
·         Căn nhà vùng nước mặn (An Tiêm, 1966)
·         Đêm lạc đường (Khai Trí, 1967)
·         Dòng sông rực rỡ (Văn Uyển, 1968)
·         Người thầy học cũ (Văn Uyển, 1969)
·         Chuyến tàu trên sông Hồng (Tuổi Ngọc, 1969)
·         Tùy bút (1970)

Truyện dài:

·         Mái tóc dĩ vãng (Tiểu thuyết tuần san, 1963)
·         Cô thích nhạc Brahms? (phóng tác)
·         Khi mùa thu tới (Thái Lai, 1964)
·         Viên đạn đồng chữ nổi (Văn, 1966)
·         Tới một tuổi nào (Miền Nam, 1968)
·         Cũng đủ lãng quên đời (Hồng Đức, 1969)
·         Mười đêm ngà ngọc (Hoàng Đông Phương, 1969)
·         Sống chỉ một lần (Nguyễn Đình Vượng, 1970),
·         Sau giờ giới nghiêm (Tủ sách Văn Nghệ Khai phóng, 1970)
·         Mang xuống tuyền đài (Tủ sách Văn Nghệ Khai Phóng, 1971)
·         Để tưởng nhớ mùi hương (Nguyễn Đình Vượng, 1971)
·         Sóng ngầm (Hoa biển, 1971)
·         Sống như hình bóng (Tiếng Phương Đông, 1972)
·         Một đời còn tưởng nhớ (Hải Vân, 1972)
·         Suối độc (Nguyễn Đình Vượng, 1973)
·         Tình yêu màu khói nhạt (Nguyễn Đình Vượng, 1973)
·         Bên lề giấc mộng (Ngày Mới, 1973)
·         Chìm dần vào quên lãng (Tiếng phương Đông, 1973)
·         Cửa trường phía bên ngoài (Đồng Nai, 1973)
·         Ánh lửa cuối đường hầm (Anh Lộc, 1974)

***

(Trích Hồi Ức Một Đời Người, Chương 10: Thời xuống lỗ)

Hồi Ức Một Đời Người gồm 9 Chương:

Chương 1: Thời thơ ấu (từ Hà Nội vào Đà Lạt)
Chương 2: Thời niên thiếu (Đà Lạt và Ban Mê Thuột)
Chương 3: Thời thanh niên (Sài Gòn)
Chương 4: Thời quân ngũ (Sài Gòn – Giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội)
Chương 5: Thời cải tạo (Trảng Lớn, Trảng Táo, Gia Huynh)
Chương 6: Thời điêu linh (Sài Gòn, Đà Lạt)
Chương 7: Thời mở lòng (những chuyện tình cảm)
Chương 8: Thời mở cửa (Bước vào nghề báo, thập niên 80)
Chương 9: Thời hội nhập (Bút ký những chuyến đi tới 15 quốc gia và lãnh thổ)


Tác giả đang viết tiếp Chương cuối cùng mang tên… Thời xuống lỗ (thập niên 2000 cho đến ngày xuống lỗ)!
--> Read more..

Thứ Bảy, 19 tháng 10, 2013

Xem lại những hí họa của Chóe

Viết về hội họa có lẽ không ai có đủ “thẩm quyền” hơn các họa sĩ. Họ là những người trong nghề nên có những nhận xét chuyên môn mà những người “ngoại đạo” như tôi không thể nào có được. Muốn làm nhà phê bình hội họa lại càng khó hơn vì chưa chắc một họa sĩ tài hoa đã là một nhà phê bình xuất sắc.

Thế cho nên, bài viết này chỉ là một cái nhìn của người thưởng ngoạn những bức hí họa của họa sĩ Nguyễn Hải Chí (*) mà lâu nay ta biết đến qua cái tên Chóe trên báo chí.

Sự nghiệp hí họa của Chóe kéo dài qua hai thời kỳ, từ năm 1969 dưới thời VNCH và chấm dứt vào năm 2003 trong thời CHXHCN. 2003 là năm ông qua đời vì biến chứng của bệnh tiểu đường sau một thời gian bị lòa con mắt, đành phải “bó tay” xếp cọ. Họa sĩ mà mắt bị lòa thì cũng chẳng khác nào ca sĩ bị mất giọng.

Họa sĩ Chóe
(Ảnh Nguyễn Phong Quang)

Bước đường dẫn đến nghệ thuật của Nguyễn Hải Chí quả là… đặc biệt. Người thanh niên sinh trưởng tại An Giang bước vào nghệ thuật qua lãnh vực văn chương chứ không phải bằng con đường hội họa. Ông tâm sự:

“Tôi đến với nghệ thuật vì... mê gái. Năm 20 tuổi, tôi thầm yêu trộm nhớ một cô gái Sài Gòn. Cô ấy có cả một tá sĩ quan chế độ cũ săn đón, còn tôi chỉ là một anh chàng thất học, không mong gì lọt vào mắt xanh người đẹp... Tôi biết nàng là độc giả của một tờ báo, vậy là tôi liều mạng sáng tác truyện ngắn với hy vọng sẽ được đăng...”

Chàng trai si tình làm liều thế nhưng lại có kết quả mỹ mãn: người con gái tên Nguyễn Thị Kim Loan đã trở thành vợ của ông cho đến ngày ông lìa đời. Và cũng nhờ si tình nên ông bước thẳng vào nghề viết lách, lại còn đoạt giải nhất về truyện ngắn của báo Tiền Tuyến năm 1969.

Cũng vào cuối năm đó, ông đã quen biết với nhiều nhân vật của làng báo Sài Gòn trong đó có nhà văn Viên Linh, chủ bút tờ Diễn Đàn. Khi họa sĩ chính của Diễn Đàn ra đi, bí quá, Viên Linh mới bảo: “Ông thử vẽ đi!”

Nguyễn Hải Chí kể tiếp, “Trước đây tôi chỉ mày mò học của một thầy giáo làng, nhưng nể bạn cứ vẽ liều. Vẽ xong, chẳng biết ký bút danh gì, Viên Linh lại bảo: “Ông tên Chí, vậy thì ký là Choé!”. Tôi nghe cái tên này thấy cũng kêu, vậy là thành bút danh…”

Từ tờ Diễn Đàn, ông còn vẽ cho tờ Báo Đen năm 1970, nhưng sự nghiệp vẽ tranh của Chóe vẫn chưa được độc giả lưu ý lắm. Thời đó, báo chí Sài Gòn đã có hai cây bút biếm nổi tiếng là Ngọc Dũng ký Tuýt và Đinh Hiển ký Hĩm. Phải đợi đến khi  chuyển qua cộng tác với báo Sóng Thần của Chu Tử ông mới bắt đầu được biết tới qua những bức hí họa.

Hí họa vẽ trong những năm 1972-1973 là những bức tranh lột tả tình hình xã hội tại miền Nam thời bấy giờ. Dĩ nhiên trong loại tranh biếm người họa sĩ chỉ vẽ ra những cảnh đáng phê phán, khác hẳn với loại tranh cổ động, tuyên truyền cho cái hay, cái đẹp của xã hội hoặc chế độ. Chính yếu tố này đã đi sâu vào suy nghĩ của người xem tranh, vì trông thì vui mắt thật nhưng vẫn có một cái gì đó nghèn nghẹn nơi cổ…

Dưới đây là những hình ảnh trong tranh của Chóe: từ chiếc cyclo thường thấy nơi thành thị xa hoa, đến hình ảnh người nông dân gầy giơ xương ở thôn quê và cuối cùng là một con gấu mang tên Prices (giá cả) to béo, ục ịch đang leo trên những bậc thang được kết bằng hình người…   

(Vẽ tháng 8/1972)

 (Vẽ tháng 3/1973)

 (Vẽ tháng 5/1973)

Năm 1973 cũng là năm diễn ra Hiệp định Paris về Việt Nam nhằm chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình giữa 4 bên tham chiến: Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa ký kết tại Paris ngày 27/1/1973.

Lê Đức Thọ và Henry Kissinger, hai nhân vật chủ yếu trong cuộc đàm phán, cả hai ông đã được trao giải Nobel Hòa Bình năm 1973. Đây là đề tài thời sự nóng bỏng để báo chí khai thác và dĩ nhiên cũng là đề tài cho những bức hí họa của Chóe. Chân dung các nhân vật được lần lượt xuất hiện trên báo chí Sài Gòn.

Đầu tiên là Lê Đức Thọ của phía VNDCCH, người đã từ chối không nhận giải Nobel Hòa bình. Qua nét bút của Chóe, ông Thọ có hai chiếc răng cửa thật dài để chống đỡ cho bảnh Hiệp định (Agreement). Anh du kích thuộc Mặt trận Giải phóng miền Nam nhỏ bé đang lăm lăm khẩu súng nép mình dưới bản Hiệp Định…   

(Vẽ tháng 4/1973)

Phía Mỹ có ngoại trưởng Henry Kissinger được Chóe vẽ với một cái miệng có hình lỗ khóa. Trong cặp mắt kính của Kissinger mang hình ảnh một bên là tháp Eiffel và bên kia là hình ngôi sao cũng có hình lỗ khóa. Chiếc mũi của Kissinger lại chính là chìa khóa, chắc là để mở miệng và mở mắt cho vị ngoại trưởng Mỹ gốc Do Thái này.

(Vẽ tháng 6/1973)

Cả hai nhân vận Lê Đức Thọ và Kissinger còn xuất hiện trong một bức tranh vẽ vào tháng 6/1973. Chóe vẽ hai người đang ngồi trên một con ngựa gỗ, một loại đồ chơi của trẻ em thời xưa để tạo cảm giác ngựa đang phi nhưng chỉ lắc lư tại chỗ chứ không hề chuyển động. Giữa hai nhân vật được che phủ bằng một tấm chăn có dòng chữ “Negotiations”, hay còn gọi là Đàm phán:


(Vẽ tháng 5/1973)

Bối cảnh chính trị thế giới vào thời điểm 1973 là cuộc “đi đêm” giữa Nixon và Mao Trạch Đông. Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến Hiệp định Paris năn 1973. Cái “bắt tay hữu nghị” Hoa Kỳ - Trung Cộng được Chóe vẽ trên “chiếc cầu dựng bằng người”, tượng trưng cho hai miền Nam – Bắc Việt Nam. Chiếc cầu còn được đóng đinh vào chân của hai người dân để gia cố cho sự bền vững của tình hữu nghị Tư bản – Cộng sản:


Chóe còn tiên đoán hòa bình cho Việt Nam bằng bức tranh một người Việt gầy giơ xương đón nhận hòa bình với chiếc nón lá. Khi “trái bom” hòa bình rơi xuống, chiếc nón lá bị rách toạc. Nhân vật trong tranh khiến có người liên tưởng đến một đệ tử của “cái bang” với chiếc nón lá xin tiền. Tác giả chỉ vẽ có vậy, ai muốn hiểu sao thì hiểu!

  
Lúc sinh thời, họa sĩ Chóe cho rằng nghề của ông là vẽ “hí họa”, chứ không phải “biếm họa”. Ông nói: "Xin bạn hãy cùng tôi gọi con đường này là hí họa, vì hí họa là con đường rộng và lòng ta rộng theo… Trong hí họa cần cả nội dung lẫn hình thức. Không tạo được hình thức sẽ làm hỏng nội dung. Hình thức càng tốt, càng giảm được số chữ phải ghi trong tranh. Hí họa cần nhất là dễ nhìn, dễ phân biệt, tập trung làm nổi bật ý chính, tạo cho người xem chú ý ngay về sự khập khễnh của hình thức rồi mới dẫn dắt họ đến cái phi lý, cái lố bịch của nội dung”.

Chân dung tự họa của Chóe (1992)

Hí họa của Chóe được các báo danh tiếng thế giới như The New York Times, Newsweek... chọn đăng. Cũng trong năm 1973, cuốn The World of Choé (Thế giới của Choé) được nhà xuất bản Glade Publications ấn hành tại Mỹ do công trình thu thập của nhà báo Barry Hilton. Một trong những bức tranh trong cuốn sách này, tuy là hí họa nhưng lại mang nét buồn của đất nước chiến tranh khi thế giới bước vào mùa Giáng sinh vui vẻ trong năm 1972.


Ông già Noel Việt Nam áo quần tả tơi, đầu đội nón lá và trên vai là chiếc đòn gánh với hai cái thúng thủng đáy, trống không, không quà Giáng sinh mà cũng chẳng nụ cười. Nếu quan sát kỹ hơn người xem sẽ thấy hai ngón chân cái của ông giao nhau vì ông vốn là người… Giao Chỉ.   

Năm 2004, Chóe mang 29 bức tranh chân dung sơn dầu về những người phụ nữ đoạt giải Nobel sang Stockholm nhân Ngày Việt Nam tại Thụy Điển. Giới thưởng ngoạn nghệ thuật ở Bắc Âu có dịp nhìn lại những khuôn mặt nữ nổi tiếng thế giới như Berthan Von Suttner (Nobel Hòa bình, 1905), Grazzia Deledda (Nobel Văn chương, 1926), Sigrid Undset (Nobel Văn chương, 1928), Emily Greene Balch (Nobel Hòa bình, 1946), Rosalyn Yalow (Nobel Sinh lý học & Y học 1977), Rigoberta Menchu (Nobel Hòa bình, 1992) và cả chân dung Afred Nobel, người sáng lập giải thưởng.

Chân dung Afred Nobel

Nhà báo Lê Minh Quốc nói về Chóe: “Tôi ấn tượng nhất Choé ở bức hí họa vẽ một người phụ nữ gánh trên vai cả trái đất mang tên Phụ nữ nước tôi. Đó là bức tranh đầy ý nghĩa về vai trò của người phụ nữ Việt Nam. Việc bức tranh ấy được chọn triển lãm hội hoạ quốc tế chứng tỏ tài năng của họa sỹ. Rất lâu nữa Việt Nam mới có được một họa sỹ biếm tài năng như Choé”.

Chóe đem bộ tranh Phụ nữ nước tôi đi dự triển lãm tranh quốc tế tại các thành phố lớn bên Nhật theo lời mời của lãnh sự Nhật Bản năm 1995. Theo tôi, bức tranh Chồng Con trong số tranh triển lãm mới “ấn tượng” nhất.

Tranh vẽ một người đàn bà mặc áo dài nhưng lại đi chân đất. Trên vai có đòn gánh nặng chĩu, một đầu là người chồng với chai rượu trong tay và điếu thuốc trên miệng. Đầu bên kia là 5 đứa con ngồi lọt thỏn trong một cái thúng. Tranh chỉ vỏn vẹn có hai chữ Children và Husband nhưng lại nói rất nhiều về sự tảo tần và chịu đựng của người phụ nữ Việt Nam. 

“Chồng con” (1995)

Bà Kim Loan nói về người chồng quá cố: “Có thể nói là cuộc đời của chồng tôi rất nhiều thăng trầm. Trước giải phóng ông là quân nhân, sau được chuyển về làm ở Bộ Tổng tham mưu của chế độ cũ nhưng thời đó có luật cấm quân nhân làm báo. Tuy nhiên vì mê nghề báo nên ông vẫn lén lút viết và đến năm 1974 bị lộ, bị bắt, ở tù được mấy tháng thì miền Nam giải phóng thì ông được tự do. Sau năm 1975, ông làm cho báo Lao Động gần một năm thì bị đưa đi học tập cải tạo cùng một số văn nghệ sĩ miền Nam. Nhưng thời gian cải tạo quá dài, đến 9 năm, từ 1976 – 1985 mới trở về”.

Bà Kim Loan trong buổi lễ tưởng niệm 10 năm ngày mất của họa sĩ Chóe

Những ngày cuối đời khi không còn nhìn rõ để vẽ, Chóe quay qua làm thơ. Những câu thơ dưới đây tuy không vần điệu nhưng đã nói lên nỗi lòng của người họa sĩ tài hoa:

Trót làm người vui tính.
Khi gặp chuyện đau lòng.
Ta không dám khóc.
Bằng nước mắt…

Cuối năm 2002, Nguyễn Hải Chí được đưa sang Mỹ với hy vọng những tiến bộ y khoa có thể giúp ông kéo dài tuổi thọ. Ngày 18/1/2003, bác sĩ ở Virginia đã chích thuốc phục hồi thị lực cho ông. Khi được nhìn bằng mắt của mình, chỉ trong khoảng nửa giờ, ông vẽ cấp tốc một mạch 6 bức tranh. Một trong số 6 tác phẩm đó, ông đã vẽ những khuôn mặt cười, tràn đầy lạc quan, lúc nào cũng… chí chóe:



***

Chú thích:

(*) Nguyễn Hải Chí (1943 – 2003) là một họa sĩ vẽ tranh biếm nổi tiếng với bút danh Choé, ngoài ra ông còn có bút danh Trần Ai, Cap, Kit. Ông được coi là "họa sĩ biếm số một của Việt Nam" với những tranh biếm đặc sắc phê phán những thói hư tật xấu của xã hội qua nhiều thời kỳ. Ông vẽ chủ yếu là tranh sơn dầu, giấy dó và tranh lụa. Ngoài vẽ, Chóe còn được biết đến như một nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ.

Nguyễn Hải Chí sinh ngày 11/11/1943 tại Cái Tàu Thượng, Hội An, Chợ Mới, An Giang. Sau đó gia đình ông chuyển về xã Vĩnh Tế dưới chân núi Sam, Châu Đốc. Do hoàn cảnh gia đình rất nghèo, ông phải nghỉ học từ năm lớp 2, đi làm kiếm sống từ năm 9 tuổi. Ông làm đủ nghề: đập đá, đốn củi, chăn bò mướn...

Năm 1960, bị cán bộ Cộng sản ép lên núi hoạt động du kích nên ông bỏ trốn về Mỹ Tho, xin làm việc tại một phòng vẽ quảng cáo và học vẽ tại đây. Năm 1964, ông đi quân dịch, năm sau được chuyển về làm việc tại Bộ Tổng Tham Mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Lúc này ông bắt đầu làm thơ, viết truyện gửi đăng báo. Từ đó ông đã thâm nhập vào làng báo Sài Gòn.

Cuối năm 1969, ông chuyển qua vẽ hí họa cho tờ Diễn Đàn, ký tên Choé, nghệ danh do nhà văn Viên Linh đặt, lúc đó là chủ bút báo Diễn Đàn. Một số tranh của ông đã đụng đến vấn đề “nhạy cảm” do đó ông bị chính quyền VNCH bắt giam từ tháng 2 đến tháng 4/1975. Sự kiện 30/4/1975 diễn ra, Nguyễn Hải Chí thoát khỏi trại giam của An ninh Quân đội tại số 8 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sài Gòn.

Mấy tháng sau ông được nhận vào làm báo Lao Động Mới với nhiệm vụ trình bày tờ báo. Tháng 4/1976, ông bị bắt đi học tập cải tạo cùng với các văn nghệ sĩ miền Nam cho đến cuối năm 1985 tại các nhà giam Chí Hòa rồi trại cải tạo Gia Trung, Pleiku. Sau đó ông vượt biên nhưng bị bắt và phải trở lại tù thêm lần nữa.

Từ năm 1990, do không xác định được thời hạn tù, ông bị từ chối đơn xuất cảnh theo diện H.O. Ông ở lại Việt Nam hành nghề vẽ tranh bán cho khách nước ngoài. Ông cộng tác với phòng tranh Tự Do tại Thành phố Hồ Chí Minh, để trưng bày và bán tranh lụa, giấy dó và tranh sơn dầu, ký tên Vân Bích. Ít lâu sau, ông được nhiều tờ báo trong nước đề nghị cộng tác trở lại. Tranh của ông tiếp tục xuất hiện trên nhiều tờ báo và tạo được phong cách riêng trong việc phê phán những thói hư tật xấu, những tiêu cực của xã hội.

Năm 1997, Choé bị đột quỵ, dẫn đến bại liệt một thời gian. Trước đó ông cũng đã mắc phải bệnh tiểu đường. Từ năm 1998 tới 2001, ông có 2 lần sang Pháp điều trị nhưng không thuyên giảm. Từ năm 2001, ông bắt đầu đi đứng khó khăn, mù mắt trái, mờ mắt phải, từ đó không vẽ nữa mà chuyển qua làm thơ, viết nhạc.

Cuối năm 2002, ông được bạn bè giúp đỡ đưa sang Virginia, Hoa Kỳ chữa bệnh. Ngày 22/2/2003, ông đột ngột bị ngộp thớ, 10 ngày sau đột quỵ và đứt mạch máu não. 3 giờ 50 phút sáng ngày 12/3/2003, ông qua đời tại bệnh viện Fairfax, Virginia. Lễ tang được cử hành tại nhà thờ các thánh tử đạo Arlington, sau đó được đưa về Việt Nam an táng tại nghĩa trang nhà thờ Thánh Mẫu, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

Ngoài rất nhiều tranh biếm đã được đăng trên các báo, còn những tuyển tập thu thập các tác phẩm của Chóe:

Sách

·         The World of Choé (Thế giới của Choé), do nhà báo Mỹ Barry Hilton đã thu thập một số tranh biếm họa của ông, do nhà xuất bản Glade Publications ấn hành tại Mỹ năm 1973.
·         Lai rai vẽ viết - bút ký (nxb Lao Động, 1992)
·         Tử tội - tuyển tập tranh hí họa, thơ, văn, nhạc (nxb Tiếng quê hương, Hoa Kỳ, 2001)
·         Nghề cười, tuyển tập tranh, thơ, văn, nhạc (nxb Văn hóa Văn nghệ, 2013)

Một số ca khúc:

·         Gió  - (Hồng Nhung hát), nghe tại:
·         Mưa  - (Cẩn Vân hát), nghe tại:
·         Bên vườn nhà em – (Nguyễn Chánh Tín hát), nghe tại: http://cothommagazine.com/nhac/BenVuonNhaEm-NHC-NCT.mp3
·         Khi đến cuối đời
·         Vinh dự
·         Khi dứt cơn mưa
·         Dù ta xa nhau
·         Ngả lưng trên đồi

(Nguồn: Wikipedia)


***

(Trích Hồi Ức Một Đời Người, Chương 10: Thời xuống lỗ)

Hồi Ức Một Đời Người gồm 9 Chương:

Chương 1: Thời thơ ấu (từ Hà Nội vào Đà Lạt)
Chương 2: Thời niên thiếu (Đà Lạt và Ban Mê Thuột)
Chương 3: Thời thanh niên (Sài Gòn)
Chương 4: Thời quân ngũ (Sài Gòn – Giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội)
Chương 5: Thời cải tạo (Trảng Lớn, Trảng Táo, Gia Huynh)
Chương 6: Thời điêu linh (Sài Gòn, Đà Lạt)
Chương 7: Thời mở lòng (những chuyện tình cảm)
Chương 8: Thời mở cửa (Bước vào nghề báo, thập niên 80)
Chương 9: Thời hội nhập (Bút ký những chuyến đi tới 15 quốc gia và lãnh thổ)


Tác giả đang viết tiếp Chương cuối cùng mang tên… Thời xuống lỗ (thập niên 2000 cho đến ngày xuống lỗ)!
--> Read more..

Popular posts